MỞ ĐẦU 1. Tình cấp thiết của đề tài Chăn nuôi gia cầm là một nghề truyền thống, có từ lâu đời của nhân dân ta, tạo ra việc làm và đóng góp một phần tương đối lớn vào tổng thu nhập của người nông dân. Trong xu thế đổi mới hiện nay, đời sống người dân nước ta ngày càng được nâng cao do đó nhu cầu về sản phẩm gia cầm chất lượng cao cũng càng lớn. Để đáp ứng nhu cầu đó, trong những năm gần đây ngành chăn nuôi gia cầm nước ta bổ sung thêm nhiều đối tượng chăn nuôi mới như gà sao, gà ác, đà điểu, chim cút… làm phong phú thêm các sản phẩm chăn nuôi, đáp ứng nhu cầu đa dạng của thị trường.
Cùng với việc chăn nuôi được mở rộng thì dịch bệnh là yếu tố đã ảnh hưởng không nhỏ đến hiệu quả chăn nuôi. Một trong những bệnh gây thiệt hại kinh tế cho các cơ sở chăn nuôi gà là bệnh đường tiêu hóa. Bệnh xảy ra khắp nơi trên thế giới. Ở các nước đang phát triển như Việt Nam bệnh xảy ra hầu như quanh năm, đặc biệt khi thời tiết có sự thay đổi đột ngột (lạnh, ấm, gió mùa) kết hợp với điều kiện chăm sóc nuôi dưỡng không đảm bảo vệ sinh, gà bị ảnh hưởng bởi các yếu tố stress.
Khi gà con mắc bệnh nếu điều trị kém sẽ gây còi cọc chậm lớn ảnh hưởng đến giống cũng như khả năng tăng trọng của chúng, gây thiệt hại lớn về kinh tế. Để hạn chế mức thấp nhất những thiệt hại do bệnh gây ra, rất nhiều loại kháng sinh đã được sử dụng song không phải tất cả chúng đều mang lại hiệu quả như mong muốn, một số loại thuốc trước đây vốn rất mẫn cảm với vi khuẩn đường ruột thì nay đã bị kháng lại. Sự đa dạng về thuốc là điều kiện thuận lợi cho chăn nuôi nhưng người dân rất khó lựa chọn được thuốc có hiệu quả cao. Hơn nữa, kháng sinh hiện nay người ta đang cấm sử dụng vào trong thức ăn chăn nuôi.
Việc sử dụng chế phẩm sinh học respol bổ sung vào trong thức ăn là sử dụng men vi sinh vào thức ăn nhằm thay thế việc sử dụng các kháng sinh ở liều thấp để thúc đẩy tăng trưởng, giảm chi phí và tránh tồn dư kháng sinh không mong muốn trong sản phẩm động vật. Sử dụng men vi sinh có tác động tích cực đến hệ tiêu hóa h 2 của vật nuôi, tăng khả năng hấp thu dinh dưỡng thức ăn, nâng cao sức khỏe vật nuôi, tăng đề kháng với bệnh( tiêu chảy, hô hấp, cầu trùng). Vật nuôi tăng trưởng nhanh, rút ngắn thời gian chăn nuôi, giảm chi phí thuốc thú y, giảm mùi hôi sinh ra từ chất thải chăn nuôi (giảm NH3, H2S, mê tan). Xuất phát từ thực tiễn trên, để hạn chế tác hại của bệnh đường tiêu hóa.
Chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài:“ Nghiên cứu ảnh hưởng của chế phẩm sinh học respol đến khả năng sinh trưởng của gà thịt tại trại Chăn nuôi gia cầm khoa Chăn nuôi Thú y, trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên”. Mục tiêu của đề tài - Đánh giá ảnh hưởng của chế phẩm sinh học respol đến sinh trưởng của gà thịt tại trại Gia cầm khoa Chăn nuôi thú y, trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên. - Giúp sinh viên làm quen với phương pháp nghiên cứu khoa học. - Số liệu khoa học về ảnh hưởng của việc sử dụng men sinh học đến khả năng sinh trưởng của gia cầm.
Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn của đề tài - Kết quả của đề tài góp phần bổ sung thêm những thông tin vào tài liệu học tập và nghiên cứu khoa học của sinh viên ngành chăn nuôi và thú y của các trường Đại học Nông nghiệp. - Kết quả của đề tài là cơ sở đề khuyến khích người chăn nuôi sử dụng chế phẩm sinh học respol vào trong chăn nuôi vì chất lượng sản phẩm và sức khỏe người tiêu dùng. h 3 Phần 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2. Cơ sở khoa học của đề tài 2.
Đặc điểm sinh lý tiêu hóa ở gia cầm Theo Hoàng Văn Triệu (2007) [25] sự trao đổi chất và năng lượng ở gia cầm cao hơn so với động vật có vú và được bồi bổ nhanh chính bởi quá trình tiêu hóa và hấp thu các chất dinh dưỡng. Khối lượng rất lớn các chất tiêu hóa đi qua ống tiêu hóa thể hiện tốc độ và cường độ của các quá trình tiêu hóa ở gà, vịt, ở gà còn non tốc độ là 30 – 39 cm/giờ, gà con lớn hơn là 32 – 40 cm/giờ, và ở gà trưởng thành là 40 – 42 cm/giờ, chất tiêu hóa được giữ lại trong ống tiêu hóa không quá 2 – 4 giờ. Tiêu hóa ở miệng Gia cầm mổ thức ăn bằng mỏ, một phút mổ 180-240 lần, lúc đói mổ nhanh, mỏ mở rộng. Mặt trên lưỡi có răng rất nhỏ hóa sừng, hướng về cổ họng để đưa thức ăn về phía thực quản.
Thị giác và xúc giác kiểm tra tiếp nhận thức ăn, còn vị giác và khứu giác có ý nghĩa kém hơn. Thiếu ánh sáng gà ăn kém. Tuyến nước bọt kém phát triển, thành phần chủ yếu của nước bọt là dịch nhầy. Nước bọt có tác dụng thấm trơn thức ăn thuận tiện cho việc nuốt.
Gà mái có thể tiết 7-25 ml nước bọt trong 1 ngày đêm (bình quân khoảng 12ml) (Nguyễn Duy Hoan, 1999) [6]. Thức ăn vào diều, khi đói theo ống diều vào thẳng dạ dày, không giữ lại lâu ở diều. Tiêu hóa ở diều Diều gà hình túi ở thực quản chứa được 100-120 mg thức ăn. Giữa các cơ thắt lại có ống diều để khi gà đói, thức ăn đi thẳng vào phần dưới thực quản và dạ dày không qua túi diều.
Ở diều, thức ăn được làm mềm, quấy trộn và tiêu hóa từng phần do các men thức ăn và vi khuẩn có trong thức ăn thực vật. Thức ăn cứng lưu lại trong diều lâu hơn. Khi thức ăn hạt và nước tỷ lệ bằng 1:1 thì được giữ lại ở diều 5-6 giờ. Độ pH trong diều gia cầm là 4,5-5,8.
Sau khi ăn 1-2 giờ diều co bóp theo h 4 dạng dãy (khoảng 3-4 co bóp) với khoảng cách 15-20 phút, sau khi ăn 5-12 giờ là 10-30 phút, khi đói 8-16 lần/giờ. Ở diều nhờ men amylaza của nước bọt chuyển xuống, tinh bột được phân giải thành đường đa rồi 1 phần chuyển thành đường glucozo. Tinh bột - a α- amylaza Dextrin D Mantoz Maltaza Glucoza 2. Tiêu hóa ở dạ dày Dạ dày chia ra: dạ dày cơ và dạ dày tuyến.
- Dạ dày cơ: Cấu tạo từ cơ vân, có dạng hình đĩa hơi bóp ở phía cạnh. Dạ dày cơ không tiết dịch tiêu hoá mà dịch này từ dạ dày tuyến tiết ra chảy vào dạ dày cơ. Thức ăn được nghiền nát bằng cơ học, trộn lẫn và tiêu hoá dưới tác dụng của men dịch dạ dày, enzyme và vi khuẩn. Axit clohydric tác động làm cho các pepton và một phần thành các axit amin.
Từ dạ dày cơ, các chất dinh dưỡng được chuyển vào tá tràng có các men của dịch ruột và tuyến tuỵ cùng tham gia, môi trường kiềm hoá tạo điều kiện thích hợp cho sự hoạt động của các men phân giải protein và glucid. Sỏi và các dị vật trong dạ dày làm tăng tác động nghiền của vách dạ dày. Tốt nhất nên cho gà ăn sỏi thạch anh vì không bị phân huỷ bởi axit clohydric. - Dạ dày tuyến: Cấu tạo từ cơ trơn là dạng ống ngắn, có vách dày đối với dạ dày cơ bằng eo nhỏ.
Khối lượng dạ dày tuyến 3,5 -6 g. Vách gồm màng nhầy, cơ và mô liên kết. Dịch có chứa axit clohydric, pepsin và musin. Sự tiết dịch của dạ dày tuyến là không ngừng, sau khi ăn càng được tăng cường.
Thức ăn không giữ lâu ở dạ dày tuyến, khi được dịch dạ dày làm ướt, thức ăn chuyển đến dạ dày cơ nhờ nhịp co bóp đều đặn của dạ dày cơ (không quá 1 lần/ phút). Ở dạ dày tuyến sự thuỷ phân protein như sau: h 5 Protein + nước + pepsin và HCl → abulmoza + pepton 2. Tiêu hoá ở ruột Quá trình cơ bản phân tích men từng bước các chất dinh dưỡng đều được tiến hành chủ yếu ở ruột non. - Dịch ruột gà lỏng, đục, kiềm tính, pH= 7,42 với độ đặc 1,0076 và chứa các men proteolyse, amonlitic, lypolitic và enterokinaza.
- Dịch tuyến tụy - pancrceatic - lỏng, không màu, hơi mặn, có phản ứng hơi toan hoặc kiềm (pH= 6 ở gà, pH= 7,2 - 7,5 ở gia cầm khác). Dịch này có men tripsin, carboxi peptidaza, amylaza, mantaza và lipaza. Trong các chất khô của dịch này có các axit amin, lipid và các chất khoáng CaCl2, NaCl, NaHCO3… Gà một năm tuổi, lúc bình thường tuyến tụy tiết ra 0,4 - 0,8 ml/giờ, sau khi cho ăn 5 - 10 phút lượng tiết tăng gấp 3 - 4 lần, giữ cho đến giờ thứ ba, rồi giảm dần. Thành phần thức ăn có ảnh hưởng đến các quá trình tiết dịch men của tuỵ: Giàu protein nâng hoạt tính proteolyse lên 60 %, giàu lipid tăng hoạt tính của lypolitic… - Mật của gia cầm được tiết liên tục từ túi mật vào đường ruột, lỏng màu sáng hoặc xanh đậm, tính kiềm, pH=7,3 - 8,5.
Mật có vai trò đa dạng trong quá trình tiêu hoá của gia cầm, gây nên nhũ tương mỡ, hoạt hoá các men tiêu hoá của dịch tuỵ, kích thích làm tăng nhu động ruột, tạo điều kiện hấp thu các chất dinh dưỡng đã được tiêu hoá, đặc biệt là các axit béo mà chúng tạo thành các hợp chất dễ hoà tan. Mật ngăn cản việc gây nên vết loét trên màng nhầy của dạ dày cơ và có tính diệt khuẩn. Ở ruột gluxid được phân giải thành các monosaccarit do men amylaza của dịch tụy, một phần của dịch ruột. Phần dưỡng chấp không được hấp thu ở ruột non chuyển xuống manh tràng và van hồi manh tràng của ruột già.
Ruột già không có tuyến tiết dịch tiêu hóa, chỉ có tế bào chén của màng nhầy tiết ra dịch nhầy. Quá trình tiêu hóa trong ruột già phụ thuộc vào enzyme của ruột non đi xuống, các enzyme này chỉ hoạt động ở phần đầu ruột già. Ở đây cũng diễn ra quá trình tiêu hóa như ở trong ruột non: Tiêu hóa protein, gluxit, lipid nhưng với h 6 tốc độ chậm hơn so với ruột non. Trong ruột già còn có hệ vi sinh vật cư trú, về số lượng và chủng loại giống như trong dạ cỏ của động vật nhai lại.
Các vi sinh vật này hoạt động chủ yếu ở manh tràng, phân giải cellulose, bột đường, protein. Quá trình tiêu hóa trong ruột già một phần do tác dụng của enzyme ở ruột non đi xuống còn chủ yếu nhờ tác dụng của hệ vi sinh vật.