Chương 1: CƠ SỞ LÍ THUYẾT 1.1 Vấn đề về ngôn ngữ học tri nhận 1.Thế nào là Ngôn ngữ học tri nhận? Tri nhận (cognition) là tất cả những quá trình tiếp nhận, cải biến và lưu trữ dữ liệu trong trí nhớ con người dưới dạng những biểu tượng tinh thần (mental representation). Nó cũng được coi như là cách xử lý thông tin dưới dạng những ký hiệu, cải biến nó từ dạng này sang dạng khác. Hoạt động tri nhận (cognitive activity) là hoạt động tư duy dẫn đến việc thông hiểu một nội dung nào đó. Vậy ngôn ngữ học tri nhận là gì? Thời gian xuất hiện của ngôn ngữ học tri nhận thường được tính từ năm 1989 sau quyết định thành lập Hội ngôn ngữ học tri nhận tại Đức.
Vậy là tính đến nay, ngôn ngữ học tri nhận có tuổi đời chỉ mới trên 20 năm. Nghiên cứu ngôn ngữ học dưới góc độ tri nhận có nghĩa là đặt ngôn ngữ trong chức năng làm công cụ tư duy của con người. Tuy mới xuất hiện nhưng hướng nghiên cứu mới của ngôn ngữ học tri nhận sớm được nhiều người ủng hộ. Ở Việt Nam, nhiều nhà Việt ngữ học cũng đã tiếp cận ngôn ngữ theo hướng tri nhận, có thể kể đến là : Lí Toàn Thắng, Trần Văn Cơ, Nguyễn Lai, Nguyễn Đức Tồn, Hữu Đạt, Nguyễn Hòa, Diệp Quang Ban…Trong đó, người đầu tiên bàn về mối quan hệ giữa ngôn ngữ và tri nhận là Lí Toàn Thắng trong một bài báo năm 1994.
Tiếp đó, ông đã có một công trình nghiên cứu khá đầy đủ và sâu sắc về ngôn ngữ học tri nhận năm 2005- cuốn sách “Ngôn ngữ học tri nhận, từ lí thuyết đại cương đến thực tiễn tiếng Việt”. Cuốn sách này tiếp tục được tái bản vào năm 2008 có sửa chữa và bổ sung thêm “Phần phụ lục” gồm 7 bài ở cuối cuốn sách nghiên cứu ngôn ngữ trên cơ sở vận dụng lí thuyết ngôn ngữ học tri nhận. Trên cơ sở những tư tưởng về ngôn ngữ học tri nhận của cuốn sách được tái bản này của tác giả Lý Toàn Thắng, luận văn xin được tiếp nhận khái niệm ngôn ngữ học tri nhận như sau: “Ngôn ngữ học tri nhận là một trường phái mới của ngôn ngữ học hiện đại, tiến hành nghiên cứu ngôn ngữ trên cơ sở vốn kinh nghiệm và sự tri giác của con người về thế giới khách quan cũng như cái cách thức mà con người ý niệm hóa và phạm trù hóa các sự vật và sự tình của thế giới khách quan đó” (28, tr.13) Sự ra đời của ngôn ngữ học tri nhận được khởi nguồn từ trường phái ngữ pháp tạo sinh do Chomsky khởi xướng. Trường phái này đã kêu gọi ngôn ngữ phải trở thành một bộ phận của tâm lí học tri nhận, phải coi ngôn ngữ là một hệ thống tri nhận và mục tiêu đối tượng của ngôn ngữ là tìm hiểu cái cơ chế phổ quát của ngôn ngữ tiềm ẩn trong trí não con người.
Các nhà ngôn ngữ học tri nhận cũng lấy mục đích là nhận thức bản chất của ngôn ngữ con người nhưng đi vào phân tích chiều sâu của cấu trúc ngôn ngữ với những dữ kiện quan sát trực tiếp được và cả những dữ kiện không quan sát trực tiếp được như trí tuệ, tri thức, kinh nghiệm. Điều này khác với ngữ pháp cải biến tạo sinh chủ trương đi vào chiều sâu của cấu trúc ngôn ngữ chỉ trên cơ sở những dữ kiện ngôn ngữ có thể quan sát trực tiếp được và hình thức hóa chúng đến độ lí tưởng gần giống như những công thức toán học. Như vậy, với tuổi đời và cơ sở xuất hiện, có thể khẳng định ngôn ngữ học tri nhận còn non trẻ và nó chỉ là một trường phái ngôn ngữ (như ngữ pháp tạo sinh) chứ không phải là một phân ngành của ngôn ngữ học (như ngôn ngữ học xã hội, ngôn ngữ học nhân học, ngôn ngữ học tâm lí…). Ngôn ngữ học tri nhận, cũng như các khuynh hướng khoa học tri nhận khác có mục tiêu chung là nghiên cứu việc thực hiện các quá trình lĩnh hội, xử lí và cải biến các tri thức vốn quyết định bản chất của trí não con người.
Điều này đồng nghĩa với việc nghiên cứu ngôn ngữ theo hướng tri nhận không còn là nghiên cứu ngôn ngữ trong hệ thống ngôn ngữ, nghiên cứu mối quan hệ giữa các đơn vị ngôn ngữ như ngôn ngữ học phi tri nhận nói đến mà ngôn ngữ ở đây được đặt trong mối quan hệ với khả năng tri nhận của con người, tức là liên quan đến thông tin, tri thức, ý niệm - những vấn đề phải xuất phát từ sự tri giác, từ kinh nghiệm của con người. Hơn thế nữa, nghiên cứu ngôn ngữ từ góc độ tri nhận, chúng ta phải chú ý đến sự khác nhau về “cái nhìn thế giới” hay cách tri nhận về thế giới được thể hiện bằng những biểu thức ngôn ngữ của các dân tộc nói tiếng khác nhau. Ý nghĩa của ngôn ngữ không hạn chế trong nội bộ hệ thống ngôn ngữ mà nó có nguồn gốc sâu xa từ kinh nghiệm được hình thành trong quá trình con người và thế giới tương tác với nhau và từ tri thức và hệ thống niềm tin của con người. Như vậy, sự tri giác,vốn kinh nghiệm và cái cách mỗi con người, mỗi dân tộc nhìn nhận về thế giới khách quan- tài liệu của sự nhận thức - là cơ sở để ngôn ngữ học tri nhận nghiên cứu các hiện tượng ngôn ngữ.
Vì thế, với ngôn ngữ học tri nhận, mọi biểu hiện của tri thức ngôn ngữ được nghiên cứu không còn đóng kín trong hệ thống ngôn ngữ mà là vấn đề tìm hiểu cơ chế phổ quát của ngôn ngữ tiềm ẩn trong trí não của con người. Đối tượng, nhiệm vụ nghiên cứu của ngôn ngữ học tri nhận Trong công trình “Ngôn ngữ học tri nhận, từ lí thuyết đại cương đến thực tiễn tiếng Việt”, Lý Toàn Thắng đã xác định đối tượng của ngôn ngữ học tri nhận: “Đối tượng cụ thể của ngôn ngữ học tri nhận là ngôn ngữ trong tư cách là một trong những khả năng tri nhận và một trong những cấu trúc tri nhận của con người (cùng với tri giác, tư duy, kí ức, hành động)”. Ngôn ngữ học tri nhận nghiên cứu ngôn ngữ như những dạng thức tương tự khác trong bộ máy tri nhận và hoạt động tri nhận của con người như : tri giác, học tập, kí ức, tư duy…Có nghĩa là, ngôn ngữ dưới góc độ tri nhận phải được nghiên cứu như một thuộc tính hai mặt: vừa là một hệ thống ký hiệu đóng vai trò quan trọng trong sự biểu hiện (mã hóa) và trong sự cải biến các thông tin trong tư cách là công cụ tri nhận, vừa được biểu hiện như là một đối tượng độc lập với con người trong quan hệ giữa mặt lịch sử và chức năng giao tiếp. Với cách tiếp cận này, các hình thức ngôn ngữ (các đơn vị, các phạm trù…) phải được nghiên cứu trong mối tương liên của chúng với các cấu trúc tri nhận và sự giải thích mang tính tri nhận trong mối quan hệ giữa các hình thức ngôn ngữ với các quá trình tri nhận và tất cả các dạng hoạt động thông tin.
Vì thế, trọng tâm nghiên cứu của ngôn ngữ học tri nhận là ý thức trong cách hiểu ý thức là nơi tập trung tất cả vốn kinh nghiệm tinh thần mà một con người tích lũy được và phản ánh chúng dưới dạng những ý niệm. Vì vậy, khác với ngôn ngữ học truyền thống, phi tri nhận luận, ở bình diện ngữ nghĩa nó coi ý nghĩa là đối tượng nghiên cứu quan trọng nhất của mình, thì đối với ngôn ngữ học tri nhận đó là ý niệm (tiếng Anh:concept) là kết quả của quá trình tư duy, quá trình phản ánh thế giới khách quan vào đầu óc con người và đồng thời là sản phẩm của hoạt động tri nhận, là cái chứa đựng tri thức hay sự hiểu biết của con người về thế giới trên cơ sở kinh nghiệm từ đời này sang đời khác. Trong khi nghiên cứu về ý niệm, ngôn ngữ học tri nhận luôn quan tâm đến một quy luật là cái thế giới khách quan bên ngoài khi đi vào cái “sàng lọc” não bộ của những con người khác nhau, đặc biệt là khác nhau về không gian sinh sống, về ngôn ngữ nó sẽ cho ra những sản phẩm là các ý niệm không còn mang tính khách quan toàn diện, đầy đủ như nó vốn có trong hiện thực mà nó đã được lĩnh hội, xử lý, cải biến. Mục đích của ngôn ngữ học tri nhận là nghiên cứu một cách bao quát và toàn diện cái khả năng tri nhận của ngôn ngữ, nghiên cứu việc thực hiện các quá trình lĩnh hội, xử lý và cải biến các tri thức vốn quyết định bản chất của trí não con người.
Nói cách khác, con người- chủ thể của ngôn ngữ được ngôn ngữ học tri nhận tiếp cận như một hệ thống xử lý các thông tin mà ở đó các tri thức ngôn ngữ được hình thành từ ý niệm-kết quả của quá trình xử lý, cải biến của hệ thống não bộ của con người dưới tác động của các yếu tố tâm lí, văn hóa. Vì vậy, các tri thức ngôn ngữ ấy luôn gắn liền với sự tri nhận vừa mang tính nhân loại vừa mang tính đặc thù dân tộc.2Ẩn dụ tri nhận 1. Khái niệm ẩn dụ tri nhận Từ thời Aristotle, các nhà nghiên cứu đã bàn đến ẩn dụ nhưng chỉ trong phạm vi của ngôn ngữ học. Gần đây, với sự xuất hiện của ngôn ngữ học tri nhận, ẩn dụ được đề cập đến không chỉ là vấn đề của ngôn ngữ mà còn là vấn đề của tư duy.
Từ đây, ẩn dụ trở thành một trong các bộ phận quan trọng của lí thuyết ngôn ngữ học tri nhận. Trước khi thuật ngữ ẩn dụ tri nhận xuất hiện với đầy đủ những đặc trưng bản chất của nó, nhiều nhà nghiên cứu ngôn ngữ đã đặt ẩn dụ trong mối quan hệ với tư duy và cho rằng ẩn dụ là một quĩ tích của những suy nghĩ chứ không phải của ngôn ngữ. Vậy là với cách tiếp cận này, các nhà ngôn ngữ học đã đưa ẩn dụ từ trong lí thuyết ngôn ngữ học cổ điển, được coi là một vấn đề chỉ thuộc về ngôn ngữ sang một ngoại vi mới thuộc vấn đề của tư duy trong thuyết ẩn dụ hiện đại. Tiếp thu những thành tựu của các nhà ngôn ngữ học đi trước, Lakoff và Johnson đã phát triển những tư tưởng mới về ẩn dụ thành lí thuyết ẩn dụ tri nhận và được trình bày trong công trình “Metaphor we live by”(1980).
Lakoff và Johnson (1980) cho rằng: “hệ thống ý niệm đời thường của chúng ta, mà trong khuôn khổ của những điều chúng ta suy nghĩ và hành động, về bản chất là ẩn dụ”.