Đặt vấn đề Đậu tương (Glycine max (L) Merr) là một trong số 5 loại cây trồng chính quan trọng của nhiều nước trên thế giới. Ở Việt Nam đậu tương là một trong những cây công nghiệp ngắn ngày rất được quan tâm phát triển, do đậu tương là cây trồng có giá trị dinh dưỡng và giá trị kinh tế cao và là cây trồng có tác dụng nhiều mặt: Cung cấp thực phẩm cho con người, nguyên liệu công nghiệp, thức ăn cho gia súc và là cây trồng làm tăng độ phì nhiêu cho đất (Ngô Thế Dân và cs, 1999) [2]. Thành phần của hạt đậu tương có chứa khoảng 40 - 50% protein, 18 - 25% lipit và 36 - 40% hydratcacbon (Phạm Văn Thiều, 2006) [11]. Bên cạnh đó cũng như các cây họ đậu khác, đậu tương là cây có khả năng cải tạo và bồi dưỡng đất rất tốt có được khả năng này là do sự cộng sinh giữa rễ với vi khuẩn nốt sần Rhyzobiumjaponium có khả năng cố định nitơ trong không khí làm giàu đạm cho đất.
Sau mỗi vụ trồng đậu tương đã cố định và bổ sung vào đất từ 60 - 80kg N/ha, tương đương với 200 - 300 kg đạm sunphat. Từ hạt đậu tương người ta chế biến ra được 600 sản phẩm khác nhau, trong đó hơn 300 loại thức ăn chế biến bằng phương pháp cổ truyền, thủ công và hiện đại dưới dạng tươi khô và lên men như: Làm giá, bột đậu tương, sữa đậu nành, xì dầu… Đến các sản phẩm cao cấp khác như café đậu tương, socola đậu tương, bánh kẹo, pate… Thông qua các món ăn chế biến từ đậu tương phần nào đã tạo được sự cân bằng dinh dưỡng trong khẩu phần thức ăn của người dân. Ngoài ra, đậu tương còn làm nguyên liệu quý của nhiều ngành công nghiệp như: chế biến thực phẩm, chế biến thức ăn chăn nuôi, dược phẩm… n 2 Nhưng đậu tương chủ yếu được dùng để ép dầu nó chiếm khoảng 50% tổng lượng dầu thực vật. Khô dầu đậu tương không chỉ dùng làm thức ăn gia súc mà còn dùng làm phân bón.
Đậu tương đáp ứng nhu cầu đạm trong khẩu phần ăn của con người cũng như gia súc. Trong nông nghiệp đậu tương giữ vai trò quan trọng, góp phần cải tạo và bồi dưỡng đất nhờ vi khuẩn nốt sần Rhizobium Japonicum sống cộng sinh với rễ cây có khả năng cố định đạm từ khí trời. Vì vậy, có thể nói: “Mỗi nốt sần của đậu tương như một nhà máy sản xuất phân đạm tí hon”. Ngoài ra, thân lá cây đậu tương còn dùng làm thức ăn chăn nuôi, làm phân xanh rất tốt.
Đậu tương là cây ngắn ngày có thể trồng nhiều vụ trong năm và trồng trên nhiều loại đất khác nhau, là cây trồng tốt trong việc luân canh, xen canh gối vụ với nhiều loại cây trồng khác… Làm tăng hệ số sử dụng đất và tăng hiệu quả kinh tế. Với những công dụng trên không ai trong chúng ta có thể phủ nhận được tác dụng của đậu tương mang đến cho loài người. Nhưng đến nay mỗi năm cả nước trồng khoảng 2000ha đậu tương chủ yếu trong vụ đông, với sản lượng 300 tấn. Tuy vậy, sản lượng này mới đáp ứng 25% nhu cầu sử dụng đậu tương ở trong nước, mỗi năm cả nước ta phải nhập khẩu 1 triệu tấn đậu tương và nhu cầu sử dụng đậu tương tăng 10% trên 1 năm.
Để cây đậu tương phát triển tốt nhằm tăng nguồn Protein cho con người, gia súc, nâng cao năng suất, chất lượng và diện tích trồng cây đậu tương thì ngoài việc ứng dụng các biện pháp kỹ thuật mới trong canh tác thì cần phải chú trọng công tác nghiên cứu chọn tạo giống mới. Xuất phát từ nhu cầu thực tế sản xuất và công tác chọn tạo giống chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Nghiên cứu khả năng sinh trưởng, phát triển của một số dòng đậu tương nhập nội từ Hàn Quốc trong vụ Hè Thu năm 2016 tại Thái Nguyên” n 3 1. Mục đích, yêu cầu của đề tài 1. Mục đích Đánh giá khả năng sinh trưởng, phát triển, khả năng chống chịu sâu bệnh và năng suất của tập đoàn dòng đậu tương nhập nội.
Trên cơ sở đó chọn ra những dòng phù hợp với điều kiện vụ Hè Thu của tỉnh Thái Nguyên. Yêu cầu - Đánh giá các chỉ tiêu sinh trưởng, phát triển của các dòng đậu tương thí nghiệm. - Tìm hiểu một số đặc điểm thực vật học, đặc điểm hình thái học của các dòng. - Đánh giá tính chống chịu sâu bệnh và tính chống đổ.
- Xác định các yếu tố cấu thành năng suất và năng suất của dòng đậu tương thám gia thí nghiệm. Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu khoa học - Giúp sinh viên vận dụng một cách tổng hợp những kiến thức đã học vào thực tế. - Làm quen với nghiên cứu khoa học sau khi ra trường như: Phương pháp bố trí thí nghiệm, cách thu thập số liệu và viết bản báo cáo khoa học. - Kết quả nghiên cứu của đề tài là cơ sở bước đầu cho việc chọn giống đậu tương nhập nội phù hợp cho vụ đông tại Thái Nguyên.
Ý nghĩa trong thực tiễn sản xuất Tìm ra dòng đậu tương nhập nội có khả năng sinh trưởng, phát triển tốt cho năng suất cao, khả năng chống chịu tốt phục vụ cho công tác chọn tạo giống đậu tương cho vùng Thái Nguyên. n 4 PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2. Cơ sở khoa học của đề tài Trong ngành trồng trọt, giống tốt đã nâng cao được hiệu quả kinh tế, giảm chi phí sản xuất, góp phần nâng cao sản lượng và chất lượng sản phẩm. Giống là yếu tố vô cùng quan trọng vì vậy công tác giống cần được tiến hành thường xuyên, liên tục để chọn tạo ra các giống mới cho năng suất cao, phẩm chất tốt, đáp ứng yêu cầu sản xuất.
Những năm gần đây do tiến bộ của khoa học kỹ thuật, hàng loạt giống cây trồng mới ra đời bằng nhiều biện pháp chọn tạo giống khác nhau: có giống tạo ra bằng gây đột biến, lai xa, chọn lọc trực tiếp, chọn lọc tập đoàn, chọn lọc cá thể và các phương pháp chọn lọc khác. Những giống này cơ bản đã đáp ứng được yêu cầu của sản xuất nông nghiệp. Tuy nhiên các giống mới trong quá trình trồng trọt lâu dài sẽ dẫn đến hiện tượng thái hóa. Vì vậy cần phải nghiên cứu các phương pháp kỹ thuật sản xuất để tránh cho các giống không bị lẫn tạp, sâu bệnh, tăng hệ số nhân giống tăng phẩm chất kinh tế và cải tiến đặc tính của giống.
Kết quả của công tác chọn tạo giống là tạo ra được giống mới. Giống chính là một tư liệu sản xuất của nền nông nghiệp. Khi sử dụng giống tốt năng suất cây trồng được tăng lên, phẩm chất cây trồng được cải thiện. Sử dụng giống có chất lượng cao, thích nghi với từng địa phương là một trong những biện pháp rẻ tiền nhất để tăng năng suất cây trồng và tăng sản phẩm thu hoạch.
Thay hạt giống có phẩm chất cao cho hạt giống bình thường cũng tăng được 15-20% năng suất. Kết quả nghiên cứu của các nhà khoa học cho thấy: giống là yếu tố quyết định 26% năng suất cây trồng. n 5 Dựa trên các đặc điểm hình thái, đặc điểm thực vật học, các yêu cầu sinh thái học của cây đậu tương (nhiệt độ, độ ẩm, ánh sáng.) Thông qua chọn lọc cải tạo, các nhà chọn tạo giống đã chọn tạo ra nhiều giống mới. Nhưng để kiểm nghiệm giống đó có tốt hay không thì việc đánh giá so sánh khả năng sinh trưởng, có ý nghĩa rất lớn đặc biệt đối với các dòng nhập nội.
Qua theo dõi các dòng có thể kết luận về sức sống, đặc tính ưu việt của từng dòng. Trên cơ sở đó loại thải được những giống xấu có tính thích ứng và tính chống chịu kém, tạo tiền đề cho việc chọn tạo giống mới có triển vọng đưa vào sản xuất, góp phần nâng cao thu nhập cho người dân và tăng sản lượng đậu tương cho cả nước đáp ứng nhu cầu cho xã hội. Tình hình nghiên cứu đậu tƣơng trên thế giới và trong nƣớc 2. Tình hình sản xuất đậu tương trên thế giới Đậu tương là một trong những cây trồng có vị trí quan trọng trong hệ thống nông nghiệp ở nhiều quốc gia trên thế giới và lâu đời nhất của nhân loại, có lịch sử trồng trọt khoảng 5.
Cây đậu tương có nguồn gốc từ Đông bắc Trung Quốc, sau đó được trồng ở Nhật Bản, Triều Tiên và các nước trên thế giới. Mặc dù cây đậu tương có nguồn gốc từ Đông Bắc Trung Quốc nhưng khả năng thích ứng rộng nên nó được phân bố khá rộng từ 400 Vĩ Bắc đến 400 Vĩ Nam. Hiện nay có khoảng 78 nước trồng đậu tương. Tuy châu Á là nơi nguyên sản của cây đậu tương nhưng nó lại được trồng tập trung ở châu Mỹ với 70,03%.
Châu Á chỉ có 23,5%, còn lại ở các châu lục khác. Cây đậu tương đã được trồng ở khắp các châu lục và là cây lấy hạt, lấy dầu quan trọng bậc nhất của thế giới, là cây trồng đứng hàng thứ 4 sau lúa mì, lúa nước và ngô. Vì vậy cây đậu tương được nhiều nước trên thế giới quan tâm, đầu tư sản n 6 xuất. Tình hình sản xuất đậu tương trên thế giới những năm gần đây được thể hiện qua bảng 2.
Tình hình sản xuất đậu tƣơng trên thế giới năm năm gần đây Chỉ tiêu Diện tích Năng suất Sản lƣợng Năm (triệu ha) (tạ/ha) (triệu tấn) 2010 102,61 25,84 265,25 2011 103,60 25,32 262,35 2012 104,99 23,03 241,84 2013 111,26 24,84 276,40 2014 117,70 26,20 308,03 (Nguồn: FAOSTAT, 2015) [16] Qua bảng 2.1 cho thấy: Về diện tích: Trong những năm gần đây diện tích trồng đậu tương trên thế giới có xu hướng tăng lên theo các năm và dao động từ 102,61 triệu ha đến 117,70 triệu ha. Trong đó diện tích trồng đậu tương đạt thấp nhất là năm 2010 với 102,61 triệu ha, đạt cao nhất là năm 2014 diện tích trồng đậu tương của thế giới là 117,70 triệu ha, tăng 15,09 triệu ha so với năm 2010. Qua bảng số liê ̣u cho thấ y diê ̣n tić h trồ ng đâ ̣u tương ngày càng tăng lên. Về năng suất: Năng suất đậu tương trên thế giới những năm gần đây biến động từ 25,84 tạ/ha - 26,20 tạ/ha.
Năm 2014 năng suất đậu tương đạt cao nhất là 26,20 tạ/ha và thấp nhất là năm 2012 đạt 23,03 tạ/ha. Về sản lượng: Sản lượng đậu tương trên thế giới trong những năm vừa qua có những biến động, có xu hướng tăng. Nhìn chung từ năm 2010 tới năm 2014 sản lượng đậu tương trên thế giới tăng từ 265,25 triệu tấn đến 308,03 triệu tấn.