Đặt vấn đề Cây đâ ̣u tương của Viê ̣t Nam đứng sau cây lúa , ngô, khoai. Khi nhu cầ u lươn thực đươ ̣c thỏa mañ thì đâ ̣u tương trở thành mô ̣t trong những cây trồ ng mũi nhọn trong chiến lược phát triển kinh tế của đất nước. Cây đâ ̣u tương (tên khoa học Glycine max.L) thuô ̣c cây ho ̣ đâ ̣u , là cây công nghiê ̣p ngắ n ngày. Nó được xem là “cây thần diệu” , còn được ví là “vàng mo ̣c từ đấ t”… Sở di ̃ cây đâ ̣u tương đươ ̣c đánh giá cao như vâ ̣y là do giá trị kinh tế của nó.
Giá trị kinh tế chủ yế u của cây đâ ̣u tương đươ ̣c quyế t đinh ̣ bởi các thành phầ n dinh dưỡng quan tro ̣ng chứa trong ha ̣t đâ ̣u tuongwbao gồ m Protein chiế m khoảng 40%, lipit 18-25%, gluxit 10-15%. Trong ha ̣t đâ ̣u tương có chưa đầy đủ và cân đối các lo ại axit amin, đă ̣c biê ̣t là các axit amin không thể thay thế cầ n thiế t cho cơ thể con người như : Triptophan, leuxin, izolơxin, valin, lizin, methionin. Ngoài a còn có các muối khoáng như: Ca, Fe, Mg, Na, P, K… và các vitamin B 1, B2 D, K, E… Protein của đâ ̣u tương có phẩ m chấ t rấ t tố t, có thể thay thế hoàn toàn đạm động vật trong khẩu phần ăn hàng ngày của con người , vì nó chứa một lượng đáng kể amino acid không thay thế cần thiế t cho cơ thể. Đậu tương còn được chế biến thàng 600 loại thực phẩm khác nhau, bao gồ m các loa ̣i thức ăn cổ truyề n : Đậu phụ , tương chao , sữa đâ ̣u nành… tới các loại thực phẩm , chế biế n hiê ̣n đa ̣i như : Kẹo, bánh đậu tương , bacon đâ ̣u tương , hotdogs đâ ̣u tương , đâ ̣u hũ cheese , các loại thịt nhân tạ o… Tất cả các loại sản phẩm đều thơm ngon và có giá trị dih dưỡng cao.
Kế t quả nghiên cứu của Bùi Tường Hạnh – 1997 cho thấ y trong ha ̣t đâ ̣u tương có chấ t IZOFLAVONE có tác đụng làm giả m đáng kể lươ ̣ng Cholesterol trong máu khi sử du ̣ng sản phẩ m làm từ đâ ̣u tương. n 2 Trong công nghiê ̣p dầ u đâ ̣u tương đươ ̣c sử du ̣ng là si , sơn, mực in , xà phòng, chấ t dẻo, cao su nhân ta ̣o… Đ ậu tương còn cung cấ p nguyên liê ̣u cho ngành chế biế n thưc phẩ m dươ ̣c, ngành công nghiệp ép dầu. Trong điề u kiê ̣n nhiê ̣t đới nóng , ẩm như nước ta thì đậu tương dễ đưa vào hệ thống luân canh , xen canh, gố i vu ̣ vơi cây trồ ng khác góp phầ n nâng cao năng suấ t cây trồ ng , đòng thoiwfnaang cao hiê ̣u quả sử du ̣ng đấ t. Vấ n đề này rất có ý nghĩa trong việc chuyển đổi cơ cấu và đa dạng hóa cây trồng ở nước ta hiê ̣n nay, đă ̣c biê ̣t là chiế n lươ ̣c thâm canh tăng vu ̣.
Mô ̣t tác du ̣ng có ý nghiã và đóng vai trò q uan tro ̣ng của cây đâ ̣u tương trong liñ h vực sả n xuấ t nông nghiê ̣p đó là kh ả năng cố đinh ̣ đa ̣m do vi khuẩ n nố t sầ n Rhizobium Japonium số ng cô ̣ng sinh ở rễ cho nên đâ ̣u tương là mô ̣t trong những cây trồ ng có khả năng cải ta ̣o đấ t rấ t tố t. Các nốt sàn ở bọ rễ cây đậu tương được coi như những “nhà máy phân đa ̣m tí hon” , bởi những vi khuẩ n trong nố t sầ n hoa ̣t đô ̣ng rấ t cầ n mẫn tổ ng hơ ̣p đa ̣m khí trời , làm giàu đạm cho đất , không gây ô nhiễm môi trường , mă ̣t khác nó còn làm sạch bầu khí quyển giúp không khí trong lành hơn. Sau mô ̣t vu ̣ thu hoa ̣ch cây đâ ̣u tương đã trả lai cho đấ t môt lươ ̣ng đa ̣m đáng kể khoảng 50-80% kg đa ̣m/ha ngoài lươ ̣ng đa ̣m rễ cây cung cấ p cho đấ t thì than lá của ca y đâ ̣u tương cũng là nguồ n đa ̣m có tác du ̣ng tố t làm tăng thêm đo ̣ xố p , màu mỡ cho đất. cây đâ ̣u tương có vai trò quan tro ̣ng trong viê ̣c luân canh, cải tạo đất, tăng đô ̣ phì cho đấ t.
Sản phẩm đậu tương không chỉ có giá trị trong suấ t khẩ u thu đổ i ngoa ̣i tê ̣, mà nó còn là động lực thúc đẩy ngành chăn nuôi trông nước phát triể n. Trước những lơ ̣i ić h lớn lao do cây đâ ̣u tương mang la ̣i, hơn nữa nhu cầ u sử du ̣ng sản phẩ m từ đâ ̣u tương trong nước ngày càng tăng. Cho nên, Đảng và Nhà nước ta rấ t quan tâm tố i viê ̣c phát triể n cây đâ ̣u tương theo hướng tăng cả về diê ̣n tić h và năng suấ t. Trong đó tăng năng suấ t là vấ n đề cố t lõi , năng suấ t có tăng thì mới giảm đươ ̣c chi phí và ha ̣ giá n 3 thành sản phẩm.
Vì vậy, cầ n nhanh chongs đi sâu nghên cứu , ứng dụng các tiế n bô ̣ khoa ho ̣c kỹ thuâ ̣t vào công tác giố ng , nhằ m ta ̣o ra các giố ng có năng suấ t cao, phẩ m chấ t tố t, có khả năng thích ứng rộng. Định hướng sản xuất nông nghiệp của nước ta trong thời gian tới là không thiên về tăng diện tích trồng trọt mà thiên về xu hướng tăng năng suất cây trồng trên đơn vị diện tích để tăng sản lượng. Trong đó giống là một trong những yếu tố ảnh hưởng rất lớn đến sự sinh trưởng, phát triển và năng suất đậu tương. Đậu tương được gieo trồng phổ biến trên cả 7 vùng sinh thái trong cả nước.
Trong đó, Thái Nguyên là một tỉnh thuộc vùng Trung du miền núi phía Bắc có diện tích đậu tương lớn của vùng, xấp xỉ 2000 ha/năm, nhưng năng suất còn thấp đạt 14,4 tạ/ha, trong khi năng suất bình quân của nước ta đạt xấp xỉ 15,0 tạ/ha và thế giới đạt 23,3 tạ/ha (FAOSTAT, 2014) [17]. Nguyên nhân là chúng ta chưa có bộ giống tốt và biện pháp kĩ thuật thâm canh phù hợp cho giống. Do vậy cần phải nhanh chóng đưa các giống mới năng suất cao, chất lượng tốt vào sản xuất đại trà. Tuy nhiên, trước khi đưa vào sản xuất, các giống này cần được nghiên cứu, thử nghiệm để chọn được giống phù hợp với điều kiện sinh thái của vùng.
Xuất phát từ nhu cầu thực tế và công tác nghiên cứu chúng tôi thực hiện đề tài: “Đánh giá khả năng sinh trưởng, phát triển của một số giống Đậu tương mới vụ xuân 2015 tại Thái Nguyên”. Mục tiêu nghiên cứu Nghiên cứu khả năng sinh trưởng phát triển của một số giống đậu tương nhằm chọn ra được giống đậu tương cho năng suất cao và ổn định phù hợp với điều kiện canh tác tại Thái Nguyên. Ý nghĩa của đề tài 1. Trong học tập và nghiên cứu - Trong quá trình thực hiện đề tài giúp sinh viên củng cố và hệ thống hoá kiến thức để áp dụng vào thực tế, rèn luyện kỹ năng thực hành và tích luỹ kinh nghiệm trong sản xuất, tạo lòng yêu nghề nghiệp cho sinh viên.
- Giúp sinh viên nắm được các bước để tiến hành nghiên cứu một đề tài khoa học, phương pháp thu thập số liệu và trình bày một báo cáo khoa học. - Kết quả nghiên cứu của đề tài đã xác định được giống đậu tương có triển vọng phù hợp với điều kiện của Thái Nguyên là tài liệu khoa học để giáo viên và sinh viên trong ngành tham khảo. Trong thực tiễn sản xuất Qua kết quả của việc nghiên cứu sẽ đưa ra được giống tốt, năng suất cao, phù hợp với vụ Xuân tại Thái Nguyên từ đó khuyến cáo cho nông dân sản xuất nhằm đạt được năng suất và hiệu quả kinh tế cao nhất. n 5 PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2.
Cơ sở khoa học và thực tiễn của đề tài 2. Cơ sở khoa học Sản xuất nông nghiệp dựa trên cở sở áp dụng một cách khoa học các yếu tố giố ng, phân bón, kỹ thuật thâm canh, đồ ng thời bảo vê ̣ tài nguyên thiên nhiên tránh ô nhiễm môi trường. Trong đó, giống là yếu tố quan trọng hàng đầu, sử dụng giống tốt có năng suất cao, chất lượng tốt, chống chịu với điều kiện bất thuận và sâu bệnh hại, có khả năng cải tạo và bảo vệ đất, hạn chế ô nhiễm môi trường là mục tiêu quan trọng của việc phát triển một nền sản xuất nông nghiệp tiên tiến, có tính bền vững cao. Vì vậy để phát huy được hiệu quả của giống cần phải sử dụng chúng hợp lí, phù hợp với điều kiện sinh thái, khí hậu đất đai, kinh tế xã hội.
Để có những giống có năng suất cao, chất lượng cao, có khả năng chống chịu với điều kiện ngoại cảnh tốt thì công tác chọn giống đóng một vai trò vô cùng quan trọng. Công tác khảo nghiệm giống là một cuộc thí nghiệm nhằm xác định sự thích ứng của giống đối với địa phương trên các loại đất, các loại khí hậu và các biện pháp kĩ thuật khác. Nếu các giống mới chưa được khảo nghiệm kĩ lưỡng và chưa được công nhận là đạt tiêu chuẩn mà đã đưa ra sản xuất ở diện rộng thì sẽ gây hiện tượng rối loạn giống, gây khó khăn cho việc sản xuất, thâm canh tăng năng suất cây trồng. Cơ sở thực tiễn Hiện nay, ở hầu hết các tỉnh miền núi phía Bắc nói chung và tỉnh Thái Nguyên nói riêng, diện tích đất bỏ hoang còn rất nhiều, tập trung chủ yếu ở những vùng không chủ động nước, đất đồi thấp, hoặc ở những vùng này trồng một số loại cây có giá trị kinh tế thấp.
n 6 Do đó, việc đưa cây trồng cạn nói chung và cây đậu tương nói riêng vào sản xuất ở các vùng này là rất cần thiết, nhằm tăng hiệu quả sử dụng đất, góp phần cải tạo đất, chống xói mòn, thoái hóa đất, nâng cao thu nhập cho nông dân, cải thiện đời sống cộng đồng 2. Tình hình sản xuất đậu tƣơng trên thế giới và Việt Nam 2. Tình hình sản xuất đậu tương trên thế giới Trong cơ cấu cây trồng, cây đậu tương xuất hiện sớm nhưng chỉ phát triển mạnh từ sau chiến tranh thế giới thứ hai cả về diện tích, năng suất và sản lượng.