Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Cây đậu tương (Glycine max (L.) Merrill) là cây công nghiệp ngắn ngày giữ vị trí quan trọng trong sản xuất nông nghiệp Việt Nam, đứng sau các cây lương thực chủ lực như lúa, ngô và khoai. Về giá trị kinh tế và dinh dưỡng, hạt đậu tương chứa hàm lượng protein chiếm khoảng 40%, lipid từ 18% đến 25%, glucid từ 10% đến 15%, cùng đầy đủ các amino acid thiết yếu (tryptophan, leucine, isoleucine, valine, lysine, methionine) và các hợp chất sinh học như isoflavone có tác dụng hỗ trợ giảm cholesterol máu. Trong hệ thống luân canh, đậu tương có khả năng cộng sinh với vi khuẩn nốt sần Rhizobium japonicum ở bộ rễ để cố định nitơ tự do từ khí quyển, để lại cho đất khoảng 50 - 80 kg N/ha sau mỗi vụ thu hoạch, góp phần cải tạo độ phì nhiêu của đất và hạn chế xói mòn.

Tại tỉnh Thái Nguyên – một địa bàn trung tâm vùng Trung du và miền núi phía Bắc, diện tích gieo trồng đậu tương từng đạt xấp xỉ 2.000 ha/năm. Tuy nhiên, năng suất trung bình của tỉnh chỉ đạt khoảng 14,4 tạ/ha, thấp hơn mức bình quân cả nước (khoảng 15,0 tạ/ha) và thấp hơn đáng kể so với mức bình quân thế giới (23,3 tạ/ha theo số liệu FAOSTAT năm 2014). Nguyên nhân trực tiếp dẫn đến thực trạng này là do cơ cấu giống tại địa phương còn nghèo nàn, nông dân duy trì các giống cũ thoái hóa, chưa có bộ giống mới thích ứng tốt và thiếu quy trình kỹ thuật thâm canh đồng bộ. Trước tình hình diện tích đậu tương tại địa phương suy giảm liên tục qua các năm, việc khảo nghiệm các giống đậu tương mới nhằm tuyển chọn giống có tiềm năng sinh trưởng tốt và năng suất cao là yêu cầu cấp thiết.

Mục tiêu nghiên cứu của khóa luận được xác định cụ thể:

  1. Đánh giá khả năng sinh trưởng và phát triển của một số giống đậu tương mới trong điều kiện thời tiết vụ Xuân năm 2015 tại Thái Nguyên.
  2. Theo dõi mức độ phát sinh của sâu bệnh hại chính và khả năng chống đổ của các giống khảo nghiệm.
  3. Làm cơ sở khoa học để lựa chọn giống đậu tương có triển vọng, cho năng suất cao, ổn định và phù hợp với điều kiện canh tác của địa phương.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

  • Đối tượng nghiên cứu: Gồm 5 giống đậu tương, trong đó giống DT84 (do Viện Di truyền Nông nghiệp chọn tạo) làm đối chứng; 4 giống khảo nghiệm gồm ĐT51, Đ56, D55.1 và D36 do Viện Khoa học Nông nghiệp Việt Nam (VAAS) cung cấp.
  • Phạm vi nghiên cứu: Khảo nghiệm tập trung vào các chỉ tiêu thời gian sinh trưởng, đặc điểm hình thái, chỉ số sinh lý (diện tích lá, nốt sần hữu hiệu), mức độ hại của sâu cuốn lá, sâu đục quả và khả năng chống đổ.
  • Địa điểm nghiên cứu: Khu thí nghiệm cây trồng cạn, Khoa Nông học, Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên, thực hiện trên loại đất thịt pha cát có khả năng giữ ẩm và thoát nước tốt.
  • Thời gian nghiên cứu: Vụ Xuân năm 2015, từ tháng 2 năm 2015 đến tháng 5 năm 2015 (gieo hạt ngày 25/02/2015).

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Khóa luận được xây dựng dựa trên nguyên lý chọn tạo và khảo nghiệm giống cây trồng trong nông học: giống là tiền đề vật chất quyết định tiềm năng năng suất và tính chống chịu của cây trồng, nhưng tiềm năng này chỉ biểu hiện tối đa khi tương tác phù hợp với điều kiện sinh thái đất đai, khí hậu và biện pháp thâm canh. Các chỉ tiêu theo dõi và phương pháp đánh giá trong nghiên cứu tuân thủ theo Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về khảo nghiệm giá trị canh tác và sử dụng của giống đậu tương (QCVN 01-58:2011/BNNPTNT).

Thí nghiệm thực địa được thiết kế theo phương pháp khối ngẫu nhiên hoàn chỉnh (Randomized Complete Block Design - RCBD) gồm 5 công thức giống và 3 lần nhắc lại. Kích thước mỗi ô thí nghiệm là 8,5 m² (chiều dài 5 m x chiều rộng 1,7 m), rãnh giữa các lần nhắc lại rộng 30 cm. Tổng diện tích thực nghiệm là 127,5 m² (chưa bao gồm dải bảo vệ và rãnh phân cách).

Quy trình kỹ thuật áp dụng thống nhất cho toàn bộ các ô thí nghiệm:

  • Mức phân bón tính cho 1 ha: 30 kg N : 60 kg P2O5 : 60 kg K2O kết hợp 300 kg vôi bột và 3.000 kg phân hữu cơ vi sinh Sông Gianh.
  • Kỹ thuật bón: Bón lót toàn bộ lượng vôi bột, phân vi sinh, supe lân cùng 1/2 lượng đạm urê và 1/2 lượng kali clorua; bón thúc 1 lần khi cây đạt 2 - 3 lá thật với 1/2 lượng đạm và 1/2 lượng kali còn lại.
  • Chăm sóc: Dặm tỉa định cây ở giai đoạn 1 - 2 lá thật; xới xáo, phá váng và vun nhẹ lần 1 ở giai đoạn 2 - 3 lá thật; làm cỏ, xới sâu và vun cao chống đổ lần 2 ở giai đoạn 4 - 5 lá thật; duy trì tưới tiêu giữ ẩm đất trên 50%.

Phương pháp thu thập chỉ tiêu sinh lý và sâu bệnh:

  • Chỉ số diện tích lá (CSDTL, đơn vị m² lá/m² đất): Theo dõi ở thời kỳ hoa rộ và thời kỳ quả chắc xanh bằng phương pháp cân diện tích (dùng bìa chuẩn 1 dm² xác định khối lượng mẫu lá PA và cân toàn bộ lá của 3 cây mẫu PB theo công thức quy chuẩn).
  • Khả năng hình thành nốt sần hữu hiệu: Đào lấy nguyên vẹn bộ rễ 3 cây liên tiếp ở hai thời kỳ hoa rộ và chắc xanh; nốt sần hữu hiệu được phân loại theo tiêu chuẩn có đường kính ≥ 2,5 mm, bên trong chứa dịch màu hồng của sắc tố leghaemoglobin.
  • Sâu hại: Điều tra tỷ lệ lá bị sâu cuốn lá (Lamprosema indicata) gây hại và tỷ lệ quả bị sâu đục quả (Etiella zinckenella) gây hại trên 10 cây mẫu ngẫu nhiên/ô. Khả năng chống đổ đánh giá theo thang điểm từ 1 (đứng thẳng hoàn toàn) đến 5 (trên 75% số cây bị đổ).
  • Xử lý số liệu: Số liệu thô được tổng hợp trên Microsoft Excel và xử lý phân tích phương sai (ANOVA), so sánh sai khác có ý nghĩa nhỏ nhất (LSD) ở mức xác suất P < 0,05 bằng phần mềm chuyên ngành IRRISTAT 5.0.

Nội dung chính theo từng chương

Phần 1: Mở đầu

Phần mở đầu tập trung luận giải vị trí kinh tế - sinh thái của cây đậu tương trong cơ cấu luân canh cây trồng tại Việt Nam. Tác giả phân tích tiềm năng của cây họ đậu trong việc cung ứng protein thực vật, công nghiệp ép dầu và vai trò cung cấp đạm tự nhiên cải tạo đất bạc màu. Đi sâu vào thực tiễn địa phương, tác giả dẫn chứng các chỉ tiêu thống kê của FAOSTAT (2014) và số liệu sản xuất thực tế tại Thái Nguyên để chỉ ra nghịch lý: diện tích canh tác đậu tương của tỉnh suy giảm từ hơn 3.000 ha xuống dưới 1.200 ha do thiếu bộ giống thích ứng, năng suất thấp (14,4 tạ/ha) khiến hiệu quả kinh tế không cạnh tranh được với các cây trồng khác. Từ đó, mục tiêu và ý nghĩa khoa học - thực tiễn của đề tài được xác lập rõ ràng nhằm giải quyết vấn đề chọn lọc giống đậu tương mới vụ Xuân.

Phần 2: Tổng quan tài liệu

Chương này tổng hợp toàn diện các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước về cây đậu tương:

  • Tình hình sản xuất thế giới và Việt Nam: Giai đoạn 2006 - 2013, diện tích đậu tương toàn cầu tăng từ 95,31 triệu ha lên 111,26 triệu ha, năng suất dao động từ 22,49 đến 25,84 tạ/ha, sản lượng đạt đỉnh 276,40 triệu tấn vào năm 2013, tập trung ở bốn quốc gia chủ chốt là Mỹ, Brazil, Trung Quốc và Argentina (chiếm 90 - 95% sản lượng thế giới). Tại Việt Nam, diện tích đậu tương biến động mạnh và có xu hướng giảm sâu từ 197,8 nghìn ha (năm 2010) xuống 117,8 nghìn ha (năm 2013); sản lượng giảm từ 298,6 nghìn tấn xuống 168,2 nghìn tấn; năng suất dao động trong khoảng 13,9 - 15,1 tạ/ha. Tại Thái Nguyên, diện tích giảm liên tục từ 3,4 nghìn ha (năm 2005) xuống 1,18 nghìn ha (năm 2012), dù năng suất có tăng nhẹ từ 12,6 tạ/ha lên 15,76 tạ/ha.
  • Tình hình nghiên cứu chọn tạo giống: Tổng quan các mạng lưới khảo nghiệm quốc tế như AVRDC, INTSOY, ISVES; nguồn gen lưu trữ tại Nhật Bản (6.000 mẫu), Mỹ (hơn 10.000 mẫu). Tại Việt Nam, tác giả hệ thống hóa lịch sử chọn giống từ các trại nghiên cứu Định Tường, Thất Khê với các giống nhập nội V70, V74; phân chia đậu tương thành 3 nhóm sinh trưởng (chín sớm 75 - 89 ngày, chín trung bình 90 - 120 ngày, chín muộn > 120 ngày); tổng kết các thành tựu chọn tạo giống lai và đột biến nổi bật như M103, DT84, DT96, DT2001, DT2008, HL 07-15 và định hướng của Bộ Nông nghiệp & PTNT theo Quyết định 20/2007/QĐ-BNN và Quyết định 35/QĐ-BNN-KHCN.

Phần 3: Đối tượng, nội dung và phương pháp nghiên cứu

Chương phương pháp trình bày chi tiết nguồn vật liệu thí nghiệm gồm giống đối chứng DT84 và 4 giống khảo nghiệm (ĐT51, Đ56, D55.1, D36). Địa điểm bố trí tại Khu trồng cạn thuộc Khoa Nông học trên nền đất thịt pha cát đồng nhất về độ phì. Tác giả mô tả chi tiết sơ đồ bố trí ô thí nghiệm RCBD với 3 lần nhắc lại, quy chuẩn kỹ thuật thâm canh từ khâu xử lý đất bằng vôi bột, định lượng phân khoáng kết hợp phân hữu cơ vi sinh Sông Gianh, quy trình gieo tỉa hai đợt và chế độ tưới tiêu. Hệ thống chỉ tiêu theo dõi được chuẩn hóa theo QCVN 01-58:2011/BNNPTNT, bao gồm phương pháp đo đếm hình thái, công thức cân xác định CSDTL, phương pháp giải phẫu định lượng nốt sần hữu hiệu và phương pháp phân tích phương sai thông qua phần mềm IRRISTAT 5.0.

Phần 4: Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Chương kết quả phản ánh toàn bộ dữ liệu thực nghiệm thu thập được qua các giai đoạn sinh trưởng của cây đậu tương vụ Xuân 2015:

  • Diễn biến thời tiết khí hậu: Nhiệt độ trung bình tháng 1 đến tháng 5/2015 tăng dần từ 17,2°C lên 28,9°C; độ ẩm không khí trung bình dao động từ 79% đến 90%; lượng mưa dao động từ 25,4 mm (tháng 2) đến 111,5 mm (tháng 5). Điều kiện khí tượng trong vụ nhìn chung thích hợp cho sự sinh trưởng của đậu tương, tuy nhiên mưa lớn trong tháng 5 đã tác động trực tiếp đến giai đoạn chuyển chín.
  • Các giai đoạn sinh trưởng: Thời gian từ gieo đến mọc của tất cả 5 giống đều đạt 6 ngày. Thời gian phân cành đạt từ 33 đến 38 ngày (ĐT51 và Đ56 phân cành sớm nhất ở 33 ngày; D36 muộn nhất ở 38 ngày; DT84 đạt 36 ngày). Thời gian ra hoa biến động từ 44 đến 50 ngày (DT84 ra hoa sớm nhất lúc 44 ngày; ĐT51 và Đ56 đạt 46 ngày; D55.1 đạt 47 ngày; D36 muộn nhất lúc 50 ngày). Thời gian vào chắc xanh dao động từ 68 đến 72 ngày (DT84 đạt 68 ngày; Đ56, D55.1, D36 đạt 71 ngày; ĐT51 đạt 72 ngày).
  • Đặc điểm hình thái và chỉ tiêu sinh lý: Chiều cao cây dao động từ 58,2 cm đến 71,3 cm; giống D36 cao nhất (71,3 cm), trong khi các giống ĐT51 (61,5 cm), Đ56 (63,3 cm) tương đương đối chứng DT84 (62,8 cm). Số cành cấp 1 dao động hẹp trong khoảng 2,1 - 2,5 cành/cây. Số đốt trên thân chính dao động từ 10,3 đến 12,7 đốt (Đ56 đạt cao nhất với 12,7 đốt; DT84 thấp nhất với 10,3 đốt).
  • Chỉ số diện tích lá và nốt sần: Ở giai đoạn hoa rộ, CSDTL của giống đối chứng DT84 đạt cao nhất (3,87 m² lá/m² đất), sai khác có ý nghĩa thống kê so với các giống khảo nghiệm (dao động từ 3,13 đến 3,21 m² lá/m² đất). Đến giai đoạn chắc xanh, CSDTL đạt từ 3,28 đến 4,52 m² lá/m² đất (ĐT51 đạt cao nhất với 4,52 m² lá/m² đất). Về nốt sần hữu hiệu, ở giai đoạn hoa rộ số lượng dao động từ 45,77 đến 59,33 cái/cây, khối lượng nốt sần đạt cao nhất ở giống Đ56 (1,26 g/cây). Ở giai đoạn chắc xanh, giống Đ56 tiếp tục dẫn đầu về số nốt sần hữu hiệu với 49,66 cái/cây và khối lượng 1,12 g/cây, vượt trội so với đối chứng DT84 (40,77 cái/cây; 0,59 g/cây).
  • Sâu hại và chống đổ: Tỷ lệ hại của sâu cuốn lá dao động từ 8,12% đến 8,40%; sâu đục quả dao động từ 5,26% đến 7,63%, không có sự chênh lệch lớn giữa các giống. Bệnh sương mai và gỉ sắt xuất hiện ở mật độ rất thấp. Về tính chống đổ, giống ĐT51 và D36 thể hiện khả năng chống đổ tốt nhất (điểm 1 - thân đứng thẳng), DT84 đạt điểm 2, trong khi Đ56 và D55.1 đạt điểm 3 (tỷ lệ cây đổ từ 25% đến 50%).
STT Tên giống Thời gian ra hoa (ngày) Chắc xanh (ngày) Chiều cao cây (cm) Số đốt thân chính (đốt) CSDTL hoa rộ (m²/m²) Nốt sần chắc xanh (cái/cây) Chống đổ (điểm 1-5)
1 DT84 (ĐC) 44 68 62,8 10,3 3,87 40,77 2
2 ĐT51 46 72 61,5 11,3 3,21 37,88 1
3 Đ56 46 71 63,3 12,7 3,13 49,66 3
4 D55.1 47 71 58,2 11,0 3,15 42,88 3
5 D36 50 71 71,3 11,5 3,18 41,33 1

Phần 5: Kết luận và đề nghị

Chương cuối tổng kết các đặc tính nông học chính đã kiểm chứng của các giống thí nghiệm. Tác giả thẳng thắn chỉ ra tồn tại lớn nhất của đề tài là thời gian bố trí nghiên cứu ngắn hơn chu kỳ sinh trưởng hoàn chỉnh của một số giống đậu tương khảo nghiệm, dẫn đến việc chưa theo dõi được thời điểm chín hoàn toàn và các chỉ tiêu cấu thành năng suất thực thu của từng giống. Từ đó, tác giả đưa ra đề nghị tiếp tục khảo nghiệm các giống này trong 1 - 2 vụ tiếp theo để xác định chính xác năng suất hạt và khả năng thích nghi sinh thái tại Thái Nguyên.

Kết quả và đóng góp

Về kết quả thực nghiệm định lượng:

  • Nghiên cứu đã xác định được các mốc thời gian sinh trưởng phát triển của 4 giống đậu tương mới so với đối chứng DT84 trong vụ Xuân: các giống khảo nghiệm có thời gian ra hoa từ 46 đến 50 ngày (muộn hơn đối chứng từ 2 đến 6 ngày) và thời gian vào chắc xanh từ 71 đến 72 ngày (muộn hơn đối chứng từ 3 đến 4 ngày).
  • Xác định được giống D36 có ưu thế về chiều cao cây (đạt 71,3 cm) cùng khả năng chống đổ xuất sắc (đạt điểm 1); giống ĐT51 có khả năng phân cành tốt (2,5 cành cấp 1/cây), CSDTL cao nhất ở giai đoạn chắc xanh (4,52 m² lá/m² đất) và chống đổ đạt điểm 1.
  • Giống Đ56 ghi nhận số đốt trên thân chính cao nhất (12,7 đốt/thân) và vượt trội về khả năng cố định đạm sinh học với số lượng nốt sần hữu hiệu ở giai đoạn chắc xanh đạt 49,66 cái/cây, khối lượng nốt sần đạt 1,12 g/cây, cao hơn rõ rệt so với đối chứng DT84 (40,77 cái/cây và 0,59 g/cây) ở mức độ tin cậy 95%.
  • Đánh giá được mức độ phát sinh của hai loài sâu hại chủ yếu trên tập đoàn thí nghiệm: sâu cuốn lá (Lamprosema indicata) hại từ 8,12% đến 8,40% diện tích lá; sâu đục quả (Etiella zinckenella) gây hại trên 5,26% đến 7,63% số quả, không có giống nào kháng hoàn toàn hai loài sâu này.

Đóng góp của khóa luận:

  • Cung cấp dẫn liệu thực nghiệm khách quan, có đối chứng khoa học về đặc tính sinh trưởng, hình thái, sinh lý và sâu bệnh hại của tập đoàn giống ĐT51, Đ56, D55.1, D36 trong vụ Xuân tại vùng đất bãi Trung du Thái Nguyên.
  • Khẳng định giá trị thực tiễn của giống ĐT51 và D36 ở tính chống đổ, giống Đ56 ở tiềm năng cải tạo đất cố định đạm, làm tiền đề phân loại mục đích sử dụng giống cho các nghiên cứu tiếp theo.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Khóa luận tự xác định các hạn chế cụ thể:

  • Thời gian thực hiện đề tài ngắn hơn tổng chu kỳ sinh trưởng của các giống đậu tương tham gia thí nghiệm. Do đó, tác giả chưa thể theo dõi được giai đoạn chín hoàn toàn (khi 95% số quả chuyển sang màu vàng hoặc xám) và chưa thu thập được các chỉ tiêu cấu thành năng suất hạt (số quả chắc/cây, tỷ lệ quả 1, 2, 3 hạt, khối lượng 1000 hạt, năng suất lý thuyết và năng suất thực thu).
  • Đề tài mới chỉ dừng lại ở phạm vi khảo nghiệm 1 vụ duy nhất (vụ Xuân 2015) trên một địa điểm (khu thực nghiệm Khoa Nông học), chưa đánh giá được phản ứng của các giống qua các vụ khác nhau (vụ Hè, vụ Đông) và trên các chân đất khác nhau của tỉnh.

Hướng nghiên cứu tiếp theo do tác giả đề xuất:

  • Tiếp tục duy trì thí nghiệm khảo nghiệm tập đoàn giống này thêm 1 đến 2 vụ sản xuất nữa để theo dõi trọn vẹn chu kỳ sinh trưởng, thu hoạch và đánh giá chính xác năng suất hạt thực thu.
  • Bố trí thí nghiệm trên diện tích rộng hơn và tại các tiểu vùng sinh thái khác nhau của Thái Nguyên để kiểm tra độ ổn định và tính thích nghi của giống trước khi đưa vào sản xuất đại trà.

Giá trị tham khảo

Báo cáo khóa luận là tài liệu tham khảo chuyên ngành hữu ích cho sinh viên, học viên cao học chuyên ngành Nông học, Trồng trọt và Khoa học cây trồng khi thực hiện các đề tài khảo nghiệm giống cây trồng cạn hoặc nghiên cứu cây họ đậu (Fabaceae). Cán bộ khuyến nông và kỹ thuật viên nông nghiệp tại Thái Nguyên và các tỉnh Trung du miền núi phía Bắc có thể tham khảo phương pháp bố trí thí nghiệm RCBD theo chuẩn QCVN 01-58:2011/BNNPTNT, công thức tính toán chỉ số diện tích lá và quy trình bón phân kết hợp giữa phân khoáng NPK với phân vi sinh Sông Gianh trên nền đất thịt pha cát. Đồng thời, các số liệu sinh lý về nốt sần của giống Đ56 và khả năng chống đổ của giống ĐT51, D36 cung cấp gợi ý quan trọng cho các nhà chọn giống trong việc lựa chọn dòng bố mẹ để lai tạo giống đậu tương chịu đổ hoặc có hoạt tính cố định đạm cao.

Câu hỏi thường gặp

1. Khóa luận sử dụng giống đậu tương nào làm đối chứng và các giống khảo nghiệm có nguồn gốc từ đâu?
Khóa luận sử dụng giống DT84 làm đối chứng (do Viện Di truyền Nông nghiệp Việt Nam chọn tạo). Bốn giống khảo nghiệm mới gồm ĐT51, Đ56, D55.1 và D36 đều do Viện Khoa học Nông nghiệp Việt Nam (VAAS) cung cấp.

2. Quy trình bón phân cho 1 ha trong thí nghiệm được tác giả áp dụng với liều lượng và phương pháp cụ thể như thế nào?
Mức phân bón cho 1 ha gồm 30 kg N : 60 kg P2O5 : 60 kg K2O kết hợp 300 kg vôi bột và 3 tấn phân hữu cơ vi sinh Sông Gianh. Kỹ thuật bón: bón lót toàn bộ phân vi sinh, phân lân, vôi bột cùng 1/2 lượng đạm và 1/2 lượng kali; bón thúc toàn bộ 1/2 lượng đạm và 1/2 lượng kali còn lại vào thời điểm cây có từ 2 đến 3 lá thật.

3. Giống đậu tương nào thể hiện khả năng tạo nốt sần hữu hiệu và tích lũy nốt sần tốt nhất ở cả hai thời kỳ hoa rộ và chắc xanh?
Giống Đ56 có khả năng tạo nốt sần hữu hiệu tốt nhất. Ở thời kỳ hoa rộ, giống đạt khối lượng nốt sần trung bình cao nhất (1,26 g/cây). Ở thời kỳ chắc xanh, giống Đ56 đạt 49,66 cái nốt sần hữu hiệu/cây và khối lượng 1,12 g/cây, vượt trội có ý nghĩa thống kê so với giống đối chứng DT84 (40,77 cái/cây và 0,59 g/cây).

4. Khả năng chống đổ và tình hình sâu bệnh hại của các giống thí nghiệm được ghi nhận ra sao?
Về tính chống đổ, giống ĐT51 và D36 đạt điểm 1 (hầu hết cây đứng thẳng, tốt hơn đối chứng DT84 đạt điểm 2), trong khi giống Đ56 và D55.1 đạt điểm 3 (bị đổ từ 25% đến 50%). Toàn bộ các giống đều bị sâu cuốn lá hại từ 8,12% đến 8,40% lá và sâu đục quả hại từ 5,26% đến 7,63% quả; mức độ gây hại giữa các giống tương đương nhau.

5. Vì sao khóa luận chưa công bố số liệu về năng suất thực thu của các giống thí nghiệm?
Do thời gian thực hiện khóa luận tốt nghiệp ngắn hơn tổng chu kỳ sinh trưởng của các giống khảo nghiệm vụ Xuân 2015, cây chưa đạt đến độ chín thu hoạch (khi 95% số quả chuyển màu vàng/xám), vì vậy tác giả chưa thể thu thập số liệu hạt chắc và năng suất thực thu, đồng thời đề nghị tiếp tục theo dõi thêm 1 - 2 vụ tiếp theo.

Kết luận

Khóa luận của sinh viên Nông Thanh Tùng đã thực hiện khảo nghiệm nghiêm túc 5 giống đậu tương vụ Xuân 2015 tại Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên theo đúng quy chuẩn kỹ thuật quốc gia. Nghiên cứu đã xác định được đặc điểm sinh trưởng, hình thái, chỉ số diện tích lá, khả năng tạo nốt sần hữu hiệu và khả năng chống chịu sâu bệnh của các giống mới so với đối chứng DT84. Mặc dù còn hạn chế về thời gian thực hiện dẫn đến việc chưa đánh giá được năng suất hạt cuối vụ, kết quả thu được đã chỉ ra những ưu thế sinh học nổi bật của các giống ĐT51, D36 về chống đổ và Đ56 về khả năng cộng sinh cố định đạm, tạo cơ sở dữ liệu quan trọng cho công tác khảo nghiệm giống đậu tương tiếp theo tại địa phương.