Mở đầu 1. Tính cấp thiết của đề tài Cây đậu tương (Glycine max (L) Merr) là cây công nghiệp ngắn ngày có tác dụng rất nhiều mặt và là cây có giá trị kinh tế cao. Sản phẩm của nó cung cấp thực phẩm cho con người, thức ăn cho gia súc, nguyên liệu cho công nghiệp chế biến và là mặt hàng xuất khẩu có giá trị. Ngoài ra đậu tương là cây trồng ngắn ngày rất thích hợp trong luân canh, xen canh, gối vụ với nhiều loại cây trồng khác và là cây cải tạo đất rất tốt (Ngô Thế Dân và các cs, 1999) [1] Đậu tương được đánh giá là cây có giá trị kinh tế và giá trị dinh dưỡng cao.
Hạt đậu tương có thành phần dinh dương cao, hàm lượng protein trung bình khoảng từ 38-40%, lipit từ 18-20%, giàu nguồn sinh tố và muối khoáng. Hàm lượng axit amin có chứa lưu huỳnh như methionin, sistein, sixtin. của đỗ tương rất gần với hàm lượng của các chất này của trứng. Hàm lượng của cazein, đặc biệt là của lizin rất cao, gần gấp rưỡi trứng.
Protein của đậu tương dễ tiêu hóa hơn thịt và không có thành phần tạo thành cholesteron [2] Có những chế phẩm của đậu tương mang tới 90-95% protein, đây là nguồn protein thực vật có giá trị cao cung cấp cho con người. Trong hạt đậu còn chứa sắt, canxi, phốt pho và các thành phần chất xơ tốt cho tiêu hóa. Vitamin trong đậu tương có nhiều nhóm B đáng kể là vitamin B1, B2, B6, ngoài ra còn có vitamin E, acid pholic[23] So sánh với các loại đậu khác, thì đậu tương có chứa các axit béo thiết yếu cao hơn, tổng số chất béo chứa khoảng 18%, thành phần cácbon hydrat chiếm 31%. Thành phần có trong đậu tương được nhắc tới nhiều và giúp ích cho sức khỏe con người gồm có phytosterols, lecithin, isoflavons và phytoestogen và những sản phẩm ức chế phân hủy protein.
[23] Trong y học, đậu tương được coi như một loại thực phẩm cứu tinh cho bệnh nhân xơ vữa động mạch và cao huyết áp; các chất genistein, isoflavone h 2 có nhiều trong hạt đậu nành có đặc tính chống oxy hóa giúp ngăn chặn sự phát triển của các tế bào ung thư. Ở phụ nữ, nó sẽ có tác động trong việc phòng ngừa ung thư vú trong khi ở nam giới là ung thư tuyến tiền liệt…(https://khoahoc. Trong công nghiệp, đậu tương là nguyên liệu cho nhiều ngành công nghiệp như ép dầu, chế biến cao su nhân tạo, sơn, mực in, chất đốt lỏng, dầu bôi trơn… (Trần Văn Điền, giáo trình Cây đậu tương)[3]. Tại Việt Nam, diện tích trồng đậu tương trong thời gian qua bị giảm sút nghiêm trọng.
Năm 2014, theo thống kê sơ bộ diện tích đậu tương Việt Nam đạt 109,4 ngàn ha, năng suất 1,43 tấn/ha, sản lượng 156,5 nghìn tấn; so với năm 2010 diện tích gieo trồng cả nước giảm 88,4 nghìn ha và sản lượng giảm 142 nghìn tấn (Tổng cục Thống kê Việt Nam, 2017)[20]. Hàng năm, Việt Nam phải nhập nguồn nguyên liệu để chế biến thức ăn gia súc với tổng giá trị lên đến 3,7 tỷ USD, trong đó riêng khô dầu đậu tương đã có 2,7 triệu tấn (tương đượng 5,4triệu tấn hạt), gấp gần 20 lần so với sản lượng sản xuất được tại Việt Nam. Trước những nguồn lợi to lớn do cây đậu tương đem lại, cũng như đáp ứng được nhu cầu của thị trường về đậu tương, chúng ta cần quan tâm hơn về phát triển đậu tương để không chỉ góp phần tăng diện tích, năng suất và sản lượng mà nó còn mang ý nghĩa xã hội, tạo công ăn việc làm nâng cao thu nhập tạo sự phát triển bền vững. Với lý do trên chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài : “ NGHIÊN CỨU KHẢ NĂNG SINH TRƯỞNG, PHÁT TRIỂN VÀ NĂNG SUẤT CỦA MỘT SỐ GIỐNG ĐẬU TƯƠNG VỤ HÈ THU NĂM 2017 TẠI THÁI NGUYÊN”.
Mục tiêu và yêu cầu của đề tài 1. Mục tiêu của đề tài Chọn được giống đậu tương có khả năng sinh trưởng, phát triển tốt cho năng suất cao và phù hợp với điều kiện tự nhiên của Thái Nguyên để đưa vào thực tiễn sản xuất. Yêu cầu của đề tài - Đánh giá một số chỉ tiêu hình thái của các giống đậu tương tham gia thí nghiệm. - Đánh giá một số chỉ tiêu sinh lý của các giống đậu tương tham gia thí nghiệm.
- Đánh giá mức độ nhiễm sâu bệnh và khả năng chống chịu của các giống đậu tương tham gia thí nghiệm. - Đánh giá các yếu tố cấu thành năng suất và năng suất của các giống đậu tương tham gia thí nghiệm. Ý nghĩa của đề tài 1. Ý nghĩa khoa học - Kết quả nghiên cứu của đề tài sẽ cung cấp số liệu khoa học có giá trị về đặc điểm sinh trưởng, phát triển, năng suất, chất lượng các giống đậu tương tham gia thí nghiệm nghiên cứu.
- Kết quả nghiên cứu của đề tài là tài liệu tham khảo trong giảng dạy, nghiên cứu cây họ đậu nói chung và cây đậu tương nói riêng. Ý nghĩa thực tiễn - Kết quả nghiên cứu của đề tài góp phần tuyển chọn giống đậu tương thích hợp với điều kiện sản xuất tại Thái Nguyên phục vụ cho việc sản xuất đậu tương của vùng. h 4 Phần 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2.1 Cơ sở khoa học và thực tiễn đề tài 2. Cơ sở khoa học của đề tài Để có đủ nguồn lương thực, thực phẩm chất lượng nuôi sống toàn cầu trong bối cảnh khí hậu, môi trường sinh thái có nhiều biến đổi, con người phải tiến hành một nền thâm canh hiện đại.
Nền sản xuất này dựa trên việc áp dụng một cách khoa học các yếu tố giống, nước phân bón và kỹ thuật chăm sóc…, đồng thời phải bảo vệ được nguồn tài nguyên thiên nhiên, tránh ô nhiễm môi trường. Trong những yếu tố trên, giống giữ vai trò quan trọng hàng đầu, sử dụng giống tốt năng suất chất lượng được tăng lên, phẩm chất cây trồng được cải thiện. Muốn phát huy được hiệu quả của giống cần phải sử dụng chúng phù hợp với điều kiện đất đai và kinh tế xã hội của từng vùng. Bằng con đường chọn tạo ra các giống có tiềm năng năng suất cao, chất lượng tốt, phối hợp với khả năng chống chịu với các yếu tố ngoại cảnh bất lợi và chống chịu các loại sâu bệnh hại, đồng thời có khả năng cải tạo và bảo vệ đất.
Đó chính là quá trình phát triển một nền nông nghiệp hiện đại, bền vững.2 Cơ sở thực tiễn của đề tài Sản xuất đậu tương ở Thái Nguyên phát triển không mạnh do hiệu quả sản xuất chưa cao. Có nhiều nguyên nhân như năng suất thấp, đầu tư cao mà giá bán không cao, không ổn định, do sâu bệnh … Trong đó nguyên nhân chính là giống chưa phù hợp với điều kiện tự nhiên của Thái Nguyên để tạo điều kiện cho cây đậu tương có thể sinh trưởng phát triên và cho năng suất cao nhất, giảm đi chi phí về đầu tư giống, dinh dưỡng, phòng trừ sâu bệnh, nâng cao hiệu quả kinh tế. Giống đậu tương ĐT84, ĐT2012 và PT07 là ba giống đã được công nhận của Viện di truyền nông nghiệp. Ba giống ĐT51, ĐT34 và giống địa phương Nhật Bóng (Võ Nhai- Thái Nguyên) của Trung tâm Nghiên cứu và phát triển h 5 đậu đỗ.
Đây đều là các giống mới cho sản xuất thử ở các tỉnh phía Bắc nên chưa có nhiều nghiên cứu chọn ra giống phù hợp nhất để trồng đại trà tại Thái Nguyên. Xuất phát từ thực tiễn đó, chúng ta cần nghiên cứu chọn ra giống có tiềm năng sao cho phù hợp với điều kiện của vùng, nhằm nâng cao thu nhập, cải thiện đời sống cho nông dân. Hiện nay, ở hầu hết các tỉnh vùng núi phía Bắc điện tích đất hoang hóa càn nhiều, tập trung chủ yếu ở những vùng không chủ động nước, đất đồi thấp, hoặc ở những vùng này trồng một số cây trồng cho giá trị kinh tế thấp. Do đó việc đưa cây trồng cạn nói chung và cây đậu tương nói riêng vào sảm xuất ở các vùng này là rất cần thiết.
Để tăng khả năng sửa dụng đất, góp phần cải tạo đất, chống xói mòn, thoái hóa đất, nâng cao thu nhập cho người dân, cải thiên đời sống cộng đồng. Nhưng năm gần đây nước ta đã chọn dước một số giống mới có năng suất cao, chất lượng tốt chuyển giao vào sản xuất như: ĐT84, ĐT93, ĐT99, ĐT12, ĐT51… Nhờ vậy mà năng suất đậu tương đã tăng lên song tốc độ còn chậm. Vì vậy việc chọn ra được giống phù hợp nhất là rất cần thiết. Tình hình sản xuất đậu tương trên thế giới và Việt Nam 2.1 Tình hình sản xuất đậu tương trên thế giới Cây đậu tương giữ vai trò quan trọng trong các cây lấy dầu của thế giới, tiếp sau là lạc, hướng dương.
Trong toàn bộ sản lượng cây lấy dầu của thế giới, sản lượng cây đậu tương tăng từ 32% năm 1965 tới 50% năm 1980. Ngược lại sản lượng cây của cây lạc lại giảm từ 18% xuống còn 11% trong cùng thời kỳ (Ngô Thế Dân và CS, 1999).[1] Mặc dù cây đậu tương có nguồn gốc từ Đông Bắc Trung Quốc nhưng khả năng thích ứng rộng nên nó được phân bố khá rộng từ 400 Vĩ Bắc đến 400 Vĩ Nam (Ths. Ma Thị Phương, 2004)[4]. Ngày nay, đậu tương đã và đang được coi là cây trồng quan trọng trên thế giới.
Điều này dễ hiểu vì cây đậu tương là cây thực phẩm có hàm lượng h 6 dinh dưỡng cao, có thể chế biến được nhiều loại thực phẩm cho con người và thức ăn chăn nuôi. Có khả năng cải tạo đất trồng. Vì vậy diện tích, năng suất vả sản lượng của đậu tương liên tục được tăng lên thể hiện qua bảng 2.1: Tình hình sản xuất đậu tương trên thế giới giai đooạn năm 2010 - 2014 Chỉ tiêu Diện tích Năng suất Sản lượng Năm (triệu ha) (tạ / ha) (triệu tấn) 2012 105,35 22,89 241,18 2013 111,01 24,99 277,53 2014 117,63 26,04 306,37 2015 120,79 26,75 323,20 2016 121,53 27,55 334,89 (Nguồn:FAOSTAT, 2018)[13] Qua bảng trên ta thấy: Về diện tích: Diện tích trồng đậu tương trên thế giới đang có xu hướng tăngđều qua các năm, năm 2012 (105,35), năm 2013 (111,01), năm 2014 (117,63), năm 2015 (120,79), năm 2016(121,53). Sau 4 năm, diện tích trồng đậu tương tăng 16,18 triệu ha, tương đương 15,35%, so với năm 2012.
Có thể nhận thấy xu hướng diện tích trồng đậu tương sẽ ngày càng tăng trong thời gian tới. Về năng suất: Trong giai đoạn này năng suất tăng đều theo diện tích. Nhìn chung năng suất đậu tương trong 5 năm gần đây nhất luôn nằm trong khoảng từ 22 đến 27 tạ/ha. Năm 2012 là năm có năng suất thấp hơn cả, đạt 22,89 tạ/ha, năm 2016 có năng suất đạt cao nhất là 27,55 tạ/ha.