Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Cơ sở khoa học 1. Nhu cầu dinh dưỡng của đậu tương Đậu tương cần đầy đủ các yếu tố dinh dưỡng cần thiết để sinh trưởng, phát triển bình thường. Nếu thiếu hoàn toàn hoặc bất cứ các yếu tố nào đều ảnh hưởng đến sự sinh trưởng và phát triển của cây.
Để phát huy đầy đủ tác dụng của các loại phân bón cho đậu tương, cần phải hiểu rõ đặc tính lý hóa và thành phần dinh dưỡng của đất, đặc điểm tính chất của các loại phân bón, đặc điểm dinh dưỡng của cây đậu tương. Đậu tương cảm ứng với muối khoáng hơn các loại cây trồng khác. Do đó khi bón phân cho đậu tương, không nên rắc tập trung mà nên vãi đều trên bề mặt để không ảnh hưởng đến sự nảy mầm của hạt. Trong trường hợp đất nghèo dinh dưỡng hoặc lượng phân ít buộc phải bón tập trung thì nên rắc phân cách hàng 8 – 13cm, lấp sâu 8 - 10cm.
Không nên rắc phân ngay dưới hàng hạt, rễ sẽ ăn sâu thẳng xuống mà không phát triển bề rộng. Bón phân tập trung gần hạt, làm rễ mầm bị cháy không đảm bảo mật độ cây. Có 16 nguyên tố cần thiết cho sinh trưởng của cây đậu tương. Trong đó 3 nguyên tố C, H và O là thành phần chủ yếu trong chất khô và được hấp thụ dưới dạng CO2, H2O, O2 tự do trong không khí.
Những nguyên tố cần thiết khác là N, P, K, Ca, Mg, S, Fe, Cu, B, Zn và Cl. Bên cạnh đó Co là nguyên tố có ích cho cố định N và cũng được coi là nguyên tố cần thiết (Ngô Thế Dân và cs, 1999) [4]. Các nghiên cứu về sự hấp thu NPK ở các giống đậu tương với tập tính sinh trưởng vô hạn cho thấy kiểu hấp thụ N, P, K ở trong có cây giống nhau và sự tích lũy tối đa của nó xảy ra ở giai đoạn chín sinh lý. Với các giống đậu tương sinh trưởng hữu hạn, cho thấy tỷ lệ hấp thụ các chất khoáng N, P, K, Ca và Mg tăng dần qua các giai đoạn hình thành hạt (Ngô Thế Dân và cs, 1999) [4].
5 Để đạt được năng suất cao, phẩm chất tốt thì đậu tương cần được bón đậy đủ phân hữu cơ và các loại phân khoáng khác, vì nó chỉ có thể sinh trưởng và phát triển tốt khi được bón đầy đủ và cân đối các chất dinh dưỡng cần thiết (Phạm Văn Thiều, 2006) [18]. Nghiên cứu về nhu cầu dinh dưỡng của đậu tương, tác giả Nguyễn Tử Xiêm và Thái Phiên (1999) [24] cho biết: Để tạo ra 1 tấn hạt đậu tương cần cung cấp đầy đủ và cân đối các yếu tố dinh dưỡng đa lượng như N, P, K, Canxi và các yếu tố vi lượng như Mn, Zn, Cu, B, Mo. Lượng phân bón trong thực tế sản xuất phải tùy thuộc vào thời vụ, chân đất, cây trồng vụ trước cụ thể mà bón cho thích hợp (Trần Thị Trường và cs, 2006) [ 21]. Theo tác giả Nguyễn Văn Bộ (2001) [2] thì biện pháp ổn định hàm lượng hữu cơ trong đất là vô cùng quan trọng, vì nó làm cho đất tơi xốp, tăng cường khả năng giữ ẩm, giữ chất dinh dưỡng và giảm các yếu tố độc hại cho đất.
Thiết lập hệ thống quản lý dinh dưỡng tổng hợp mà trong đó dinh dưỡng từ nguồn cung cấp hữu cơ, phân vi sinh, đảm bảo cung cấp đủ về lượng, cân đối về tỷ lệ tại từng thời điểm theo nhu cầu sinh trưởng của cây nhằm khai thác khả năng của hệ sinh thái. Vai trò của phân bón đối với cây đậu tương Năng suất cây trồng không ngừng tăng lên, ngoài vai trò của giống mới còn có tác dụng quyết định của phân bón, giống mới cũng chỉ phát huy được tiềm năng của mình cho năng suất cao khi được bón đủ phân và bón phân hợp lý (Nguyễn Ngọc Nông, 1999) [14]. Tổ chức FAO (1989) tổng kết cứ mỗi tấn chất dinh dưỡng sẽ sản xuất được 10 tấn ngũ cốc. Bón phân cân đối và vừa phải có thể làm tăng chất lượng sản phẩm, thiếu chất dinh dưỡng, bón phân không cân đối hoặc bón quá nhu cầu của cây đều làm giảm chất lượng nông sản.
Giữa các bộ phận trong cây thì phân bón làm thay đổi thành phần hóa học của lá, làm thay đổi thành phần hóa học của hạt (Nguyễn Ngọc Nông, 1999) [14]. 6 Trong việc nghiên cứu phân bón không phải chỉ chú ý đến việc tăng năng suất mà phải đánh giá chất lượng sản phẩm. Biện pháp phân bón đưa ra phải không gây ô nhiễm môi trường sống (Nguyễn Ngọc Nông 1999) [14]. Vai trò của đạm đối với đậu tương Phân đạm đóng vai trò quan trọng trong quá trình sinh trưởng, phát triển và năng suất của đậu tương.
Nguồn cung cấp đạm cho đậu tương là từ phân bón, đất và khả năng tự cố định đạm khí trời nhờ vi khuẩn Rhyzobiumjaponicum. Mỗi giai đoạn sinh trưởng đậu tương cần lượng đạm khác nhau. Đạm được sử dụng dưới các dạng như NH4NO3, HNO3, NH4OH và ure. Trong đó ure là nguồn đạm tốt nhất, các nguồn đạm khác có hiệu lực thấp hoặc không ổn định.
Đậu tương là cây họ đậu có khả năng cố định đạm từ khí trời để cung cấp cho cây, do vậy thường bón ít phân đạm cho đậu tương. Khả năng cố định đạm của vi khuẩn nốt sần phụ thuộc vào nhiều yếu tố. Nghiên cứu của Võ Minh Kha (1997) [12] trên đất tương đối nhiều dinh dưỡng bón đạm làm tăng năng suất đậu tương lên 10 - 20%, còn trên đất thiếu dinh dưỡng bón đạm làm tăng năng suất 40 - 50%. Vai trò của lân đối với đậu tương Cây đậu tương thường hút lân từ phân bón và hút đến tận cuối vụ.
Tuy nhiên việc tăng P tổng số hấp thu có thể bị giới hạn do P trong phân được thay bằng P trong đất. Lân giữ vai trò quan trọng trong quá trình quang hợp của cây đậu tương, nó kích thích sự phát triển của rễ cây, làm cho rễ ăn sâu vào đất và lan rộng ra xung quanh, tạo điều kiện cho cây chống chịu được hạn và ít đổ ngã. Bón lân còn tăng khả năng hình thành nốt sần của đậu tương. Bón nhiều P nâng cao số lượng và khối lượng nốt sần.
Hiệu lực này tùy thuộc vào giống, điều kiện thời tiết và giai đoạn phát triển của cây. 7 Thiếu lân dễ tiêu thường gắn liền với đất chua, hàm lượng Fe, Al, Mn cao. Vùng nhiệt đới trồng đậu tương chủ yếu trên đất dốc, đất chua và khô hạn. Trên loại đất này độc tố do đất chua và nhôm là một trong những yếu tố hạn chế cơ bản cho tất cả các cây trồng.
Các độc tố này ảnh hưởng sự phát triển của rễ và đặc biệt là khả năng hút lân của cây (Alva và cs, 1987) [27]. Bón phân lân cho cây làm giảm tỷ lệ rụng nụ, rụng hoa, tăng tỷ lệ hạt chắc và tăng năng suất rõ rệt (Trần Văn Điền, 2001) [7]. Theo nghiên cứu của Nguyễn Thị Dần (1996) [5] cho biết trên đất bạc màu Hà Bắc bón lân cho lạc và đậu tương đem lại hiệu quả kinh tế cao. Lân làm tăng hoạt động cố định đạm của vi khuẩn nốt sần, tùy theo năng suất đậu tương cao hay thấp và thành phần lân có sẵn ở trong đất để xác định mức bón P cho hợp lý.
Vai trò của kali với đậu tương Kali đóng vai trò sống còn trong sự quang hợp tạo nên đường và chất hữu cơ cho cây, bón kali làm tăng tính kháng sâu bệnh, chịu rét. Nó còn có tác dụng thúc đẩy quá trình tích lũy vật chất khô vào quả, tăng chất lượng hạt và tăng khả năng chống chịu của cây trồng trên đồng ruộng. Không đủ kali cho nhu cầu của cây làm giảm sự tăng trưởng, năng suất, cây dễ nhiễm sâu bệnh. Kali có tầm quan trọng như nhau ở tất cả các giai đoạn phát triển của cây đậu tương và nó ảnh hưởng lớn đến cân bằng dinh dưỡng của cây.
Việc hút K có liên quan đến Ca và Mg, hàm lượng Ca và Mg thường giảm đi khi bón K. Đó là hiệu ứng nghịch do bón Ca làm giảm tích lũy K của cây đậu tương. Tuy nhiên sự thay đổi này không quá lớn so với sự thay đổi nồng độ dinh dưỡng (Thompson, L. Theo nghiên cứu của Ngô Thế Dân và cs (1999) [4] ở đất nghèo kali, đất cát đậu tương, phản ứng rõ rệt với phân kali.
Vai trò của vôi với đậu tương Vôi cũng có vai trò quan trọng đối với cây đậu tương. Nó có tác dụng khử chua, khử độc cho đất, cung cấp canxi cho cây, tạo môi trường trung tính để vi khuẩn nốt sần hoạt động. 8 Bón vôi cho đất chua để đạt pH khoảng 6 - 6,5 là yếu tố quan trọng để sản xuất đậu tương có hiệu quả. Đất có độ kiềm cao, pH > 7,5 có ảnh hưởng không tốt tới sản xuất đậu tương, nhưng không kinh tế khi ta cố gắng giảm pH đất.
Trên các đất này, hàm lượng các nguyên tố vi lượng như Fe, Mn, Cu, B, Zn thường giảm. Như vậy đối với loại đất này, nông dân phải chọn các giống có tính chống chịu cao và bón nhiều phân vi lượng. Lượng vôi cần bón từ 300 - 500 kg/ha tùy theo độ chua của đất, có thể ủ vôi với phân chuồng để tăng độ phân hủy. Việc sử dụng phân bón để làm gia tăng một số lượng lớn chất dinh dưỡng vào vòng tuần hoàn vật chất trong canh tác.
Việc sử dụng phân chuồng và các phế thải của trồng trọt, chăn nuôi là sử dụng lặp lại phần chất dinh dưỡng đã tham gia vào thành phần của năng suất cây trồng. Sử dụng phân bón đã bổ sung một phần chất dinh dưỡng bị cây hút và bù đắp sự mất đi khỏi đất do nhiều quá trình khác nhau, vậy có thể nói phân bón là yếu tố quan trọng làm tăng năng suất cây trồng và độ phì nhiêu của đất. Việc sử dụng phân bón hữu cơ là hướng đi đúng, xác định lâu dài cho nền sản xuất nông nghiệp bền vững. Kết hợp giữa phân bón hóa học và phân bón hữu cơ đã bổ trợ cho nhau, vừa tăng năng suất cây trồng, bảo vệ môi trường, lại tăng được chất lượng nông sản.
Cơ sở thực tiễn của đề tài Hiện nay, ở hầu hết các tỉnh miền núi phía Bắc nói chung và tỉnh Thái Nguyên nói riêng, diện tích đất hoang hoá còn rất nhiều, tập trung chủ yếu ở những vùng không chủ động nước, đất đồi thấp, hoặc ở những vùng này trồng trọt một số loại cây trồng có giá trị kinh tế thấp.