phần mở đầu và kết luận, kết cấu của luận văn bao gồm: Chƣơng 1: Cơ sở lý luận năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp; Chƣơng 2: Thực trạng năng lực cạnh tranh của công ty xi măng VICEM Hoàng Thạch; Chƣơng 3: Định hƣớng và giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh của công ty xi măng VICEM Hoàng Thạch. 6 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA DOANH NGHIỆP 1. Năng lực cạnh tranh 1. Khái niệm Thuật ngữ “năng lực cạnh tranh” được dùng nhiều trong các lĩnh vực nhưng vẫn chưa có một khái niệm rõ ràng mà được tiếp cận dưới nhiều góc độ: “Năng lực cạnh tranh là khả năng một mặt hàng, một đơn vị kinh doanh hoặc một nước dành thắng lợi trong cuộc cạnh tranh trên thị trường tiêu thụ.
Một mặt hàng có năng lực cạnh tranh là mặt hàng có thể thu hút được nhiều người mua hơn những hàng hóa cùng loại đang được tiêu thụ trên thị trường” (Bách khoa toàn thư, tr.Porter: “Năng lực cạnh tranh là khả năng sáng tạo ra sản phẩm có quy trình công nghệ độc đáo để tạo ra giá trị gia tăng cao phù hợp với nhu cầu khách hàng, chi phí thấp, năng suất cao nhằm tăng lợi nhuận”. Trong tác phẩm “Nâng cao năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế”, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội (2006), tác giả Vũ Trọng Lâm cho rằng NLCT của DN là khả năng tạo dựng, duy trì, sử dụng và sáng tạo mới các LTCT của DN. Tác giả Trần Sửu (2005), Năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệptrong điều kiện toàn cầu hoá, NXB Lao động, Hà Nội cũng đưa ra: “Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp là khả năng tạo ra lợi thế cạnh tranh, có khả năng tạo ra năng suất và chất lượng cao hơn đối thủ cạnh tranh, chiếm lĩnh thị phần lớn, tạo ra thu nhập cao và phát triển bền vững”. Theo diễn đàm cao cấp về CT công nghiệp của tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế (OECD) cho rằng: “Năng lực cạnh tranh là khả năng của các doanh nghiệp, ngành, quốc gia, khu vực trong việc tạo ra việc làm và thu nhập cao hơn trong điều kiện cạnh tranh quốc tế ”.
Như vậy, có thể hiểu NLCTlà khả năng sử dụng, quản lý, vận dụng các 7 nguồn lực hiện có và tận dụng các điều kiện khác một cách hiệu quả nhằm tạo lợi thế trong CT trước đối thủ để giành chiến thắng, từ đó tồn tại và phát triển. Các cấp năng lực cạnh tranh NLCTchia thành bốn cấp độ: NLCTquốc gia, NLCTcấp ngành, NLCTcủa doanh nghiệp, NLCTcủa sản phẩm. Năng lực cạnh tranh quốc gia Theo diễn đàn kinh tế thế giới (WEF): “Năng lực cạnh tranh của một quốc gia là năng lực cạnh tranh của nền kinh tế quốc dân nhằm đạt được và duy trì mức tăng trưởng cao trên cơ sở các chính sách, thể chế bền vững tương đối và các đặc trưng kinh tế khác.Năng lực cạnh tranh quốc gia là tập hợp những nhân tố tạo nên lợi thế cạnh tranh của đất nước, nó phản ánh năng lực thu hút đầu tư để đạt được sự tăng trưởng kinh tế một cách bền vững, từ đó đảm bảo ổn định kinh tế - xã hội và nâng cao mức sống của nhân dân. Năng lực cạnh tranh quốc gia là một nhân tố mạnh mẽ thúc đẩy sự tăng trưởng kinh tế trong điều kiện toàn cầu hóa hiện nay.
Khi NLCT quốc gia được cải thiện có nghĩa là năng suất của nền kinh tế tăng lên, các nguồn lực lao động, đất đai, tài nguyên thiên nhiên, vốn được sử dụng hợp lý và hiệu quả, kết cấu hạ tầng, các ngành công nghiệp hỗ trợ đảm bảo được nhu cầu sản xuất và phát triển kinh tế, kết quả là năng lực sản xuất của nền kinh tế được cải thiện. Ngược lại, nền kinh tế tăng trưởng cao và ổn định lại là điều kiện hết sức thuận lợi để tăng năng lực cạnh tranh quốc gia”. Nhiều ý kiến cho rằng yếu tố cốt lõi của NLCT quốc gia là năng suất, cụ thể là năng suất sử dụng các yếu tố vốn và lao động. NLCTquốc gia được đánh giá theo mô hình của WEF, dựa trên cơ sở chỉ số cạnh tranh toàn cầu (GCI) được lượng hóa từ 12 chỉ tiêu, chia thành ba nhóm chỉ tiêu thành phần gồm: -Nhóm các yếu tố cơ bản có bốn chỉ tiêu là: thể chế, kết cấu hạ tầng, ổn định kinh tế vĩ mô, y tế và giáo dục phổ thông; - Nhóm các yếu tố cải thiện hiệu quả có 10 chỉ tiêu là: đào tạo và giáo dục bậc cao, hiệu quả thị trường hàng hóa, hiệu quả thị trường lao động, trình độ phát 8 triển của thị trường tài chính, mức độ sẵn sàng về công nghệ, quy mô thị trường; -Nhóm nhân tố sáng tạo có hai chỉ tiêu là: sự tinh tế của doanh nghiệp và đổi mới.
Mỗi chỉ tiêu trên lại bao gồm một số chỉ tiêu chi tiết, tổng số có 111 chỉ tiêu. Các chỉ tiêu chi tiết được tính toán chuyển đổi sang thang đo từ 1-7.Năng lực cạnh tranh ngành Theo WEF: “Năng lực cạnh tranhcủa một ngành là khả năng đạt năng suất cao, sử dụng đầu vào thấp nhất để tạo được nhiều đầu ra nhất trong một ngành. Cũng có cách tiếp cận khác, NLCTcủa một ngành là khả năng của ngành đó trong việc tạo ra việc làm và thu nhập cao hơn trong điều kiện cạnh tranh và hội nhập quốc tế. Cách tiếp cận này sát với thực tiễn khi người ta đánh giá so sánh NLCTcủa một ngành giữa các quốc gia khác nhau.
NLCT cấp ngành thường được xem là dấu hiệu phù hợp về “sức khoẻ” của nền kinh tế đối với ngành liên quan hơn là NLCTcủa các DN. Tổng cộng các NLCTcủa các DN riêng lẻ không có nghĩa là NLCT của cả một ngành. Theo Liên Hiệp Quốc,NLCTcủa một ngành có thể được đánh giá thông qua khả năng sinh lời của các DN trong ngành, cán cân ngoại thương của ngành, cán cân đầu tư nước ngoài (đầu tư ra nước ngoài và đầu tư từ nước ngoài vào), và những thước đo trực tiếp về chi phí và chất lượng ở cấp ngành. Khi nghiên cứu NLCT của một ngành thì cần xác định được những nhân tố thúc đẩy hay có đóng góp tích cực, những nhân tố hạn chế hay có tác động tiêu cực đến NLCTcủa ngành.
Những vấn đề đặt ra cho chính sách để nâng cao NLCTđược tập trung vào hai yếu tố đó là: lợi nhuận và thị phần. Sử dụng hai chỉ tiêu này sẽ cho biết ngành có khả năng đứng vững trên thị trường CT hay bị đẩy ra khỏi thị trường. Các chỉ tiêu này là kết quả kết hợp của các nhân tố: năng suất lao động, năng lực và trình độ công nghệ, chi phí các yếu tố đầu vào của quá trình sản xuất, giá cả, chất lượng và sự đa dạng của chủng loại sản phẩm… 1. Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp Ngô Kim Thanh (2011, tr113), Giáo trình quản trị chiến lược, NXB Đại học Kinh tế Quốc dân: “ Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp là toàn bộ những khả 9 năng, năng lực mà doanh nghiệp đó có thể duy trì vị trí của nó trên thị trường cạnh tranh một cách lâu dài.
Các doanh nghiệp tồn tại trong thị trường cạnh tranh phải có những vị trí nhất định, chiếm lĩnh những phần thị trường nhất định. Đây là điều kiện duy nhất duy trì sự tồn tại của doanh nghiệp trong thị trường. Để tồn tại doanh nghiệp phải luôn vận động, thích nghi và vượt trội hơn đối thủ. Trên thực tế ta thấy trong thập kỷ vừa qua, thế giởi kinh doanh sống động và sự xáo trộn không ngừng làm cho các nhà kinh tế phải ngạc nhiên, mọi dự đoán đều không vượt quá 5 năm.
Sự cạnh tranh gay gắt giữa các doanh nghiệp, các quốc gia tăng nhanh. Hầu hết các thị trường được quốc tế hóa. Chỉ có những doanh nghiệp có năng lực cạnh tranh mới tồn tại lâu dài trên thị trường. Vì vậy trong môi trường cạnh tranh doanh nghiệp phải tìm cách nâng cao năng lực cạnh tranh của mình, chỉ có như vậy mới có chỗ đứng trên thị trường.
Hiện nay còn có nhiều quan niệm khác nhau về năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp. Có quan điểm gắn năng lực cạnh tranh với ưu thế của sản phẩm mà doanh nghiệp đưa ra trên thị trường. Cũng có quan niệm gắn năng lực cạnh tranh với vị trí của nó trên thị trường nhưng một số người lại đồng nhất năng lực cạnh tranh với hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp. Có thể nói năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp là thể hiện thực lực và lợi thế của nó so với các đối thủ khác trong việc thỏa mãn tốt nhất các đòi hỏi của khách hàng để thu lợi ích ngày càng cao của doanh nghiệp.” Cũng trong giáo trình Quản trị chiến lược này, tác giả Ngô Kim Thanh đưa ra quan điểm: “Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp là thể hiện thực lực và lợi thế của doanh nghiệp so với đối thủ cạnh tranh trong việc thỏa mãn tốt nhất các đòi hỏi của khách hàng để thu lợi ngày càng cao hơn.
Như vậy năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp trước hết phải được tạo ra từ thực lực của doanh nghiệp. Đây là các yếu tố nội tại của mỗi doanh nghiệp, không chỉ được tính bằng các tiêu chí về công nghệ, tài chính, nhân lực, tổ chức quản trị doanh nghiệp… một cách riêng biệt mà cần đánh giá, so sánh với các đối tác cạnh tranh trong hoạt động trên cùng một lĩnh vực, cùng một thị trường. Sẽ là vô nghĩa nếu những điểm mạnh và điểm yếu bên trong doanh nghiệp được đánh giá không thông qua việc so sánh một cách tương 10 ứng với các đối tác cạnh tranh. Dựa trênphân tích đó có thể thấy muốn tạo nên năng lực cạnh tranh, đòi hỏi doanh nghiệp phải tạo ra và có được các lợi thế cạnh tranhcho riêng mình.
NLCT của DNchịu tác động của nhiều yếu tố khác nhau bao gồm cả những yếu tố bên ngoài DNđến các yếu tố nội hàm bên trong bản thân DN. Không một DN nào có thểđáp ứng đầy đủ tất cả những nhu cầu của khách hàng. MàDN phải nhận biết và phát huy tốt điểm mạnh, khắc phục những điểm yếu mà mình đang có để đáp ứng tốt nhất những đòi hỏi của khách hàng. Năng lực cạnh tranh sản phẩm NLCT của sản phẩm là một yếu tố quyết định đến sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp.
Nhiều ý kiến chuyên gia kinh tế cho rằng NLCT sản phẩm là sự vượt trội của nó so với sản phẩm cùng loại do các đối thủ khác cung cấp trên cùng một thị trường.