Chương 1: Cơ sở lý luận về công tác tạo động lực lao động trong doanh nghiệp. Chương 2: Phân tích thực trạng công tác tạo động lực ở công ty Eurowindow. Chương 3: Một số giải pháp nhằm hoàn thiện công tác tạo động lực ở công ty Eurowindow. 4 Chƣơng 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CÔNG TÁC TẠO ĐỘNG LỰC LAO ĐỘNG TRONG DOANH NGHIỆP 1.
KHÁI NIỆM VÀ SỰ CẦN THIẾT 1. Khái niệm Đã có lúc, người ta xem nhân viên như là một loại hàng hoá hay dịch vụ mà ở đó người lao động bán sức lao động cho công ty. Tuy nhiên, quan điểm này có lẽ đã được thay đổi trên thế giới từ rất sớm, nghiên cứu của Elton Mayo (1924-1932), (Dickson, 1973) đã chỉ ra rằng người lao động không chỉ được động viên bởi yếu tố tiền bạc (thu nhập hay tiền công) trả cho sức lao động mà cách hành xử (hoạt động) có mối quan hệ với thái độ đóng góp của họ. Ngày nay, bất cứ một nhân viên nhân sự nào cũng đều biết rằng đối với các nhà quản trị, một trong những ưu tiên hàng đầu của công việc quản trị nhân sự của họ là khám phá nhu cầu của nhân viên và tạo động lực làm việc cho nhân viên.
Để hiểu được thế nào là tạo động lực lao động, trước hết phải hiểu thế nào là động lực lao động. Có rất nhiều cách hiểu khác nhau về động lực lao động, theo bài giảng môn học hành vi tổ chức thì động lực lao động được định nghĩa là: “Sự sẵn sàng, nỗ lực làm việc nhằm đạt được mục tiêu của tổ chức và thoả mãn nhu cầu của bản thân người lao động”, ở đây động lực được hiểu phải gắn liền với công việc và tổ chức. Theo giáo trình quản trị nhân sự thì động lực lao động được hiểu là: “Sự khao khát và tự nguyện của người lao động để tăng cường nỗ lực nhằm hướng tới sự đạt được các mục tiêu của tổ chức” hay động lực lao động là “một động lực có ý thức hay vô thức, khơi dậy và hướng hành động vào việc đạt được một mục tiêu mong đợi” của tác giả Howard Senter…. Từ những cách tiếp cận trên về động lực lao động, có thể khái quát và đưa ra định nghĩa về tạo động lực lao động như sau: “Tạo động lực lao động là một khuynh hướng hành vi có mục đích để đạt được những nhu cầu chưa được thoả mãn” hay “Tạo động lực lao động là những hoạt động có tính chất khuyến khích động viên 5 nhằm tác động vào nhu cầu của người lao động để tạo nên sự chuyển biến trong hành vi của họ hướng theo những mục tiêu mà doanh nghiệp mong muốn”.
Như vậy, tạo động lực có thể hiểu là việc làm của những nhà quản lý nhằm khuyến khích, động viên nhân viên để họ nâng cao hiệu quả làm việc của mình, thông qua đó nhà quản lý đạt được mục tiêu mà tổ chức hay doanh nghiệp đặt ra. Quá trình tạo động lực lao động Có rất nhiều cách tạo động lực lao động khác nhau từ phía các nhà quản lý, nhưng tựu chung lại để biết họ phải làm gì và bắt đầu từ đâu, các nhà quản lý đều phải dựa trên nhu cầu của cá nhân người lao động và diễn biến tâm lý của họ theo trình tự logic thành các bước dưới đây: Hình 1.1: Các bước của quá trình tạo động lực Nhu cầu không Sự căng Các Hành vi Nhu cầu Giảm được thẳng động cơ tìm kiếm được căng thoả mãn thoả mãn thẳng Nhu cầu là trạng thái mất cân bằng trong cơ thể và đòi hỏi con người hành động nhằm lấy lại cân bằng. Xuất phát từ nhu cầu không được thoả mãn sẽ tạo ra sự căng thẳng, và sự căng thẳng thường kích thích những động cơ bên trong các cá nhân. Những động cơ này tạo ra một cuộc tìm kiếm nhằm có được các mục tiêu cụ thể mà nếu đạt được sẽ thoả mãn nhu cầu này và dẫn đến giảm căng thẳng.
Động cơ là sự phản ánh thế giới khách quan vào bộ óc con người, là những mục tiêu thúc đẩy hành động của con người nhằm thoả mãn nhu cầu vào tình cảm của họ. Quá trình tạo động lực diễn ra một cách liên tục, khi nhu cầu cũ đã được thoả mãn thì nhu cầu mới lại xuất hiện và cần được thoả mãn. Quá trình tạo động lực diễn giải cho ta diễn biến hành vi và tâm lý của người lao động trong hoạt động lao động. Đây là cơ sở rất hữu ích giúp nhà tâm lý có thể tạo ra điều kiện, cơ hội giúp nhân viên thoả mãn được nhu cầu, mong muốn của họ và đạt được mục tiêu của tổ chức.
Sự cần thiết của tạo động lực lao động trong doanh nghiệp Tại sao các nhà quản lý phải tạo động lực lao động cho nhân viên? Câu trả lời là “sự tồn tại”. Tạo động lực làm việc cho nhân viên giúp doanh nghiệp có thể tồn tại trước nhu cầu của thời đại, sự thay đổi chỗ làm nhanh chóng của nhân viên. Đồng thời tạo động lực lao động làm tăng hiệu quả làm việc của nhân viên giúp doanh nghiệp nâng cao năng suất lao động. Tạo động lực làm việc là một phần quan trọng trong việc quản lý hiệu suất làm việc.
Thực tế, việc này đóng vai trò chính yếu trong quản lý hiệu suất làm việc và là điều mà các nhà quản lý phải luôn quan tâm. Nhân viên của bạn có thể hiểu được mục tiêu và tầm quan trọng của nó, đồng thời cũng phải có động lực để theo đuối mục tiêu ấy. Bạn có thể huấn luyện nhân viên khắc phục thiếu sót và cải thiện hiệu suất làm việc, nhưng nhân viên ấy sẽ không chú tâm vào việc huấn luyện nếu anh ta không muốn hay không có động lực thúc đẩy. Bạn có thể bỏ nhiều thời gian cho việc đánh giá hiệu suất hoạt động hàng năm của nhân viên và trao đổi về nó, nhưng thời gian ấy sẽ trở nên lãng phí nếu nhân viên không có động cơ tiến bộ.
Tạo động lực cho nhân viên là một hoạt động có ý nghĩa quan trọng trong công tác quản lý. Hiểu và áp dụng tốt các biện pháp tăng động lực cho đội ngũ nhân viên hiện có đôi khi mang lại những hiệu quả lớn hơn và bền vững hơn việc đầu tư tiền bạc vào các nỗ lực cải thiện công nghệ hay cơ sở hạ tầng. Tạo động lực cho nhân viên là một việc làm chứa đựng yếu tố nhân văn, mang lại hiệu quả lớn và đạt được mục tiêu mong đợi. Tạo động lực mang lại lợi ích đối với người lao động, đối với người sử dụng lao động và đối với tổ chức mình đang làm việc.
Đối với người lao động: tự tin hơn; tạo ra một sự liên kết; có được phản hồi đối với những điều đang làm; hạn chế sai lầm và lãng phí thời gian. Đối với người sử dụng lao động: củng cố mối quan hệ; có cơ hội để hướng dẫn người khác; tạo sự liên kết chặt chẽ; mở rộng chuyên môn của một người bằng cách dạy/ làm mẫu cho những người khác. Đối với tổ chức: tằng cường các kế hoạch liên tiếp; tạo sức mạnh của các lãnh đạo; mở rộng kiến thức trong tổ chức; làm cho văn hoá tổ chức sâu sắc hơn. 7 Như vậy, có thể nói tạo động lực lao động trong doanh nghiệp là một công việc có ý nghĩa và vai trò quyết định trong việc tổ chức, quản lý và sử dụng nguồn tài nguyên nhân lực của doanh nghiệp.
Nó là yếu tố quan trọng trong việc nâng cao năng suất lao động, cải thiện bầu không khí tâm lý trong lao động và chứa đầy tính nhân văn. Ngày nay, trong xu thế phát triển có sự cạnh tranh gay gắt về nguồn nhân lực thì tạo động lực không thể thiếu trong bất kỳ khía cạnh nào của doanh nghiệp. CÁC HỌC THUYẾT TẠO ĐỘNG LỰC LAO ĐỘNG Xuất phát từ những nghiên cứu về tạo động lực lao động thấy rằng: đây là một hoạt động của nhà quản lý muốn đạt được mục tiêu của mình họ đã có những việc làm nhằm khuyến khích, động viên tinh thần làm việc của người lao động trong tổ chức của họ để họ hoàn thành và đạt được hiệu quả công việc, trên tinh thần đó là hoàn thành mục tiêu của tổ chức. Để khuyến khích và động viên được người lao động, nhà quản lý phải sử dụng những biện pháp khuyến khích tác động vào nhu cầu của người lao động mà xét cho cùng nhu cầu đó gồm hai dạng chính là nhu cầu vật chất và nhu cầu tinh thần.
Nghiên cứu các học thuyết về tạo động lực lao động cho thấy hai học thuyết: 1. Thuyết nhu cầu của Abraham Maslow 2. Học thuyết sự công bằng của Stacy Adam là những học thuyết nghiên cứu cơ bản về nhu cầu của con người. Do vậy tác giả lựa chọn hai học thuyết này và trình bày để làm cơ sở lý luận phân tích thực trạng công tác tạo động lực lao động ở công ty Eurowindow.
Thuyết nhu cầu của Abarham Maslow Học thuyết này bàn luận tới hệ thống các nhu cầu của con người và thứ bậc các nhu cầu đó. Sau một quá trình nghiên cứu, nhà tâm lý học người Mỹ Abraham Maslow đã xem xét những nhu cầu và đi đến kết luận rằng nhu cầu của con người có thể được phân thành những cấp độ nhu cầu khác biệt cơ bản sau: Nhu cầu sinh lý: Bao gồm ăn, mặc, ở, đi lại và các nhu cầu thể xác khác. Nhu cầu an toàn: Bao gồm an ninh và bảo vệ khỏi những nguy hại về thể chất và tình cảm. 8 Nhu cầu xã hội: Bao gồm lòng thương hại, cảm giác trực thuộc, được chấp nhận và tình bạn.
Nhu cầu được tôn trọng: Bao gồm các yếu tố bên trong như tự trọng, tự chủ và thành tựu, các yếu tố bên ngoài như địa vị, được công nhận và được chú ý. Nhu cầu tự khẳng định: Động cơ trở thành những gì mà ta có khả năng; bao gồm sự tiến bộ, đạt được tiềm lực của mình và sự tiến hành công việc. Hệ thống thứ bậc nhu cầu của Maslow được nâng dần từ thấp tới cao. Khi các nhu cầu cấp thấp hơn được thoả mãn thì lập tức các nhu cầu cao hơn sẽ xuất hiện.
Và khi đến lượt những điều này được thoả mãn, một lần nữa những nhu cầu mới (còn „cao hơn‟ nữa) lại xuất hiện và cứ thế.2: Tháp nhu cầu Maslow Nhu cầu tự NC khẳngan toàn định Nhu cầu được tôn trọng Nhu cầu xã hội Nhu cầu an toàn Nhu cầu sinh lý Xét những thứ bậc nhu cầu theo tháp trên đối với một doanh nghiệp được thể hiện cụ thể bảng 1.