phần mở đầu, kết luận, mục lục, các bảng biểu, phụ lục, danh mục tài liệu tham khảo, luận văn đƣợc trình bày gồm 3 chƣơng chính: Chƣơng 1:Cơ sở lý luận về đào tạo công chức trong tổ chức Chƣơng 2:Thực trạngđào tạo công chức Khối cơ quan Bộ Tài chính Chƣơng 3:Giải pháphoàn thiện đào tạo công chức Khối cơ quan Bộ Tài chính 7 CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ ĐÀO TẠOCÔNG CHỨC TRONG TỔ CHỨC 1.Một số khái niệm cơ bản 1.Tổ chức công, đặc điểm tổ chức công ảnh hưởng đến đào tạo Theo Trần Thị Thu và Vũ Hoàng Ngân (2013): “Tổ chức công là sự sắp xếp có hệ thống những ngƣời đƣợc nhóm lại và hoạt động với nhau để đạt đƣợc mục tiêu cụ thể. Phạm vi tổ chức công liên quan đến các tổ chức sau: - Cơ quan hành chính nhà nƣớc ở Trung ƣơng; - Cơ quan hành chính nhà nƣớc ở địa phƣơng; - Các đơn vị sự nghiệp của nhà nƣớc cung cấp dịch vụ công: bệnh viện, các cơ sở y tế công, các cơ sở giáo dục và đào tạo công; - Các doanh nghiệp nhà nƣớc cung cấp các dịch vụ công”. Tổ chức công có một số đặc điểm ảnh hưởng đến đào tạo: - Sự ổn định: Sự biến động của các nhiệm vụ thƣờng trong một khoảng thời gian dài, nhƣng vẫn trên cơ sở mục tiêu đƣợc xác định. Tỷ lệ nhân viên làm việc suốt đời trong các tổ chức công là khá lớn nên có sự đảm bảo về việc làm ngay cả trong trƣờng hợp thiếu việc làm.
Điều này ảnh hƣởng tích cực đến hiệu quả của đào tạo, không tạo ra nhiều xáo trộn, gây khó khăn cho việc lập kế hoạch đào tạo. - Sự gắn bó của nguồn nhân lực với các tổ chức công: Khu vực công đáp ứng những nhu cầu của đời sống xã hội đặt ra, tạo ra nhiều lợi thế, dễ huy động sự tham gia của ngƣời lao động. Con ngƣời sẽ cảm thấy hƣng phấn với việc đóng góp trực tiếp cho những vấn đề của đất nƣớc nhƣ sự nghiệp giáo dục, chăm sóc sức khỏe cho ngƣời dân, bảo vệ an ninh quốc gia… - Sự ràng buộc của hệ thống chính sách: Ngƣời lao động làm việc trong tổ chức công thực hiện chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn do pháp luật nhà nƣớc quy định. Mọi hoạt động của họ đều dựa vào nguồn lực của nhà nƣớc và nhằm hƣớng đến mục tiêu do nhà nƣớc đề ra.
Để thực thi công vụ, những ngƣời làm việc trong tổ chức công có quyền hạn hay thẩm quyền nhất định. Đó là quyền lực pháp lý của nhà nƣớc trao cho họ để giúp họ thực hiện tốt nhất nhiệm vụ đƣợc nhà nƣớc trao cho. Đồng thời, họ chịu sự ràng buộc chặt chẽ của luật pháp. Do công việc trong các cơ quan này đòi hỏi phải tuân thủ đúng các quy trình, thủ tục.
Vì vậy, nguồn nhân lực cũng phải tuân thủ theo những quy định máy móc đó. Tính linh hoạt kém hơn so với khu vực tƣ và khi cần có một sự thay đổi, đòi hỏi một quy trình thay đổi phức tạp. Sự ràng buộc mang tính cứng nhắc, hành chính trong việc ra các quyết định về nhân sự trong các tổ chức công có ảnh hƣởng tiêu cực đến hiệu quả đào tạo. Vì vậy cần đặt nhân viên vào những vị trí tƣơng ƣớng với năng lực và động cơ làm việc của họ.
8 - Vƣớng mắc từ nguyên tắc “ngân sách theo năm” và sức ép dựa vào “ngân sách nhà nƣớc”: Các tổ chức công không thể hoàn toàn làm chủ ngân sách của mình gây khó khăn trong việc thực hiện kế hoạch đào tạo, hạn chế sự linh hoạt trong quá trình quản lý. Hoạt động của các tổ chức công mang tính "bao cấp" hơn là cơ chế thị trƣờng, cạnh tranh, lợi nhuận. Tất cả các hoạt động đó đều dựa trên nguồn ngân sách nhà nƣớc. Chính vì vậy, tính nhân đạo, tính cho không của các hoạt động của tổ chức công làm cho việc quy định các vấn đề liên quan đến việc làm, nguồn nhân lực đều dựa vào nguyên tắc "không có lợi nhuận".
- Yêu cầu về quản lý tài sản con ngƣời: Các tổ chức công thƣớng sử dụng và phát triển những năng lực sẵn có chứ không quan tâm đến việc thu hút những ngƣời mới, vì thế mà chủ yếu tăng cƣờng quản lý nguồn nhân lực sẵn có, ít di chuyển nguồn nhân lực. - Một phần quan trọng của bộ máy chính phủ đƣợc tạo nên bởi các tổ chức trung ƣơng, làm cho việc quản lý trở nên phức tạp. - Các giá trị riêng cần thực hiện: Các giá trị truyền thống căn bản của các tổ chức hành chính công là trách nhiệm, tính trung lập, tính chính nghĩa, sự công minh, tính đại diện, khả năng hiệu suất, tính hiệu quả và sự liêm khiết Do đó đào tạo của tổ chức công đòi hỏi có những điểm khác biệt so với công tác đào tạo trong các tổ chức thông thƣờng khác.Sự khác biệt đó xuất phát từ sự khác nhau về công việc (việc làm) của tổ chức công so với các tổ chức thông thƣờng khác. Vì thế, đòi hỏi đào tạo của các tổ chức công cũng có những tính chất khác so với hoạt động của các tổ chức khác để đảm bảo cho nguồn nhân lực thích ứng đƣợc với những đặc trƣng đó của các tổ chức công.
Cán bộ, công chức, viên chức là một bộ phận chủ yếu của nguồn nhân lực trong các tổ chức công. Trong phạm vi nghiên cứu của đề tài này tác giả đi sâu nghiên cứu về đối tƣợng công chức. Công chức Khái niệm công chức thƣờng đƣợc hiểu khác nhau ở các quốc gia. Việc xác định ai là công chức thƣờng do các yếu tốsau quyết định: - Hệ thống thể chế chính trị; - Hệ thống thể chế hành chính; - Tính truyền thống; - Sự phát triển kinh tế - xã hội; - Các yếu tố văn hóa.
Tuy nhiên, ở nhiều quốc gia, dấu hiệu chung của công chứcthƣờng là: - Là công dân của nƣớc đó; - Đƣợc tuyển dụng qua thi tuyển; - Đƣợc bổ nhiệm vào một ngạch hoặc một vị trí công việc; 9 - Đƣợc hƣởng lƣơng từ ngân sách nhà nƣớc. Trên thế giới hiện nay, những ngƣời làm việc cho Nhà nƣớc nói chung đƣợc gọi tên phổ biến là Công chức.Tuy nhiên, phạm vi và đối tƣợng là công chức nhà nƣớc không hoàn toàn giống nhau giữa các nƣớc: Ở Trung Quốc, công chức nhà nƣớc là những ngƣời công tác trong các cơ quan hành chính nhà nƣớc các cấp, trừ nhân viên phục vụ. Ở Đức, phạm vi công chức rất rộng, bao gồm toàn bộ nhân viên làm việc trong cơ quan, tổ chức văn hoá, nghệ thuật, giáo dục và nghiên cứu khoa học quốc gia, nhân viên công tác trong các doanh nghiệp công ích do nhà nƣớc quản lý, các nhân viên, quan chức làm việc trong các cơ quan chính phủ, các giáo sƣ đại học, giáo viên trung học, tiểu học, bác sỹ, hộ lý bệnh viện, nhân viên lái xe…. Ở Pháp, khái niệm công chức có nội hàm khá rộng và không thật rõ ràng.
Đó là những ngƣời đƣợc tuyển dụng, bổ nhiệm vào làm việc trong công sở của các cơ quan hành chính công quyền và các tổ chức dịch vụ công cộng do nhà nƣớc tổ chức, ở trung ƣơng và địa phƣơng nhƣng không tính các công chức địa phƣơng vì họ thuộc hội đồng địa phƣơng quản lý. Ở Nhật Bản, khái niệm công chức bao hàm cả công chức nhà nƣớc và công chức địa phƣơng. Công chức nhà nƣớc gồm những nhân viên giữ chức vụ trong bộ máy của chính phủ Trung ƣơng, ngành tƣ pháp, quốc hội, quân đội, nhà trƣờng, bệnh viện quốc lập, xí nghiệp và đơn vị quốc doanh, đƣợc hƣởng lƣơng từ ngân sách nhà nƣớc; các công chức địa phƣơng đƣợc hƣởng lƣơng từ ngân sách địa phƣơng. Nhƣ vậy, không có khái niệm chung về công chức cho tất cả các quốc gia, song yếu tố chung cơ bản nhất đều quan niệm rằng công chức là những ngƣời làm việc cho nhà nƣớc, đƣợc sử dụng quyền lực nhà nƣớc trong thực thi công vụ, đƣợc bổ nhiệm bởi cơ quan công quyền,có thể chia thành công chức trung ƣơng, công chức địa phƣơng, công chức quân sự, công chức dân sự.
Ở Việt Nam,qua các thời kỳ lịch sử, khái niệm ai là công chức cũng đã có nhiều lần thay đổi.Sự hình thànhkhái niệm công chức đƣợc gắn liền với sự phát triển của nền hành chính nhà nƣớc. TheoSắc lệnh số 76/SL ngày 20/5/1950 của Chủ tịch nƣớc Việt Nam dân chủ cộng hoà về quy chế công chức Việt Nam(1950):“Công chức là những công dân Việt Nam đƣợc chính quyền nhân dân tuyển để giữ một chức vụ thƣờng xuyên trong cơ quan Chính Phủ, ở trong hay ở ngoài nƣớc, đều là công chức theo quy chế này, trừ những trƣờng hợp riêng biệt do Chính phủ quy định”. Sau đómột thời gian dài, ở Việt Nam không tồn tạikhái niệm “công chức” mà thay vàođó làkhái niệm cán bộ, công nhân viên chức nhà nƣớc chung chung, không phân biệt công chứcvà viên chức. 10 Theo Nghị định 169/HĐBT ngày 25/5/1991 của Hội đồng Bộ trƣởng (1991): “Công chức phải đáp ứng đƣợc những điều kiện sau: (i) là công dân Việt Nam; (ii) đƣợc tuyển dụng và làm việc trong biên chế chính thức của nhà nƣớc, (iii) đƣợc giao giữ một công vụ thƣờng xuyên trong các công sở của Nhà nƣớc, ở trung ƣơng hay địa phƣơng, ở trong hay ngoài nƣớc; (iv) đƣợc xếp vào một ngạch”.
Pháp lệnhCán bộ - công chức (1998) có đối tƣợng điều chỉnh chung là cán bộ,công chức: “Tất cả những ngƣời làm việc trong cơ quan nhà nƣớc, tổ chức chính trị, chính trị xã hội đều đƣợc gọi chung là cán bộ, công chức”. Tuy nhiên,có một nhóm đối tƣợng đƣợc phân loại với tên gọi là công chức.Để cụ thể hoá thuật ngữ công chức,nghị định 117/2003/NĐ-CPquy định: “Công chức nói tại Nghị định này là công dân Việt Nam, trong biên chế và hƣởng lƣơng từ ngân sách nhà nƣớc đƣợc quy định tại điểm b, điểm c, điểm e khoản 1 Điều 1 của Pháp lệnh Cán bộ, công chức, làm việc trong các cơ quan nhà nƣớc, lực lƣợng vũ trang, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội sau đây: - Văn phòng Quốc hội; - Văn phòng Chủ tịch nƣớc; - Các cơ quan hành chính nhà nƣớc ở Trung ƣơng, cấp tỉnh, cấp huyện; - Tòa án nhân dân, Viện Kiểm soát nhân dân các cấp; - Cơ quan đại diện nƣớc Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ở nƣớc ngoài; - Đơn vị thuộc Quân đội Nhân dân và Công an Nhân dân; - Bộ máy giúp việc thuộc tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội ở trung ƣơng, cấp tỉnh, cấp huyện”.