MỞ ĐẦU 1. Lý do chọn đề tài Kế thừa 70 năm xây dựng, phát triển và gắn bó trên thị trường viễn thông Việt Nam, VNPT vừa là nhà cung cấp dịch vụ đầu tiên đặt nền móng cho sự phát triển của ngành Bưu chính Viễn thông Việt Nam, vừa là tập đoàn có vai trò chủ chốt trong việc đưa Việt Nam trở thành 1 trong 10 quốc gia có tốc độ phát triển Bưu chính Viễn thông nhanh nhất toàn cầu. Để tiếp tục tích cực tham gia vào quá trình toàn cầu hóa hiện nay, cùng với định hướng của Chính phủ, sau 2 năm thực hiện tái cơ cấu 2014 – 2015, Tập đoàn Bưu chính Viễn thông Việt Nam (VNPT) đã chuyển mình mạnh mẽ, tăng trưởng ngoạn mục so với trước. VNPT đã thực hiện một khối lượng lớn công việc để thay đổi mô hình tổ chức kinh doanh.
VNPT đã tách bạch kinh doanh và kỹ thuật theo hướng chuyên biệt hóa, tổ chức hình thành hệ thống kênh bán hàng thống nhất xuyên suốt từ cấp tỉnh đến cấphuyện, xã, phường theo mô hình 3 tổng công ty: VNPT Vinaphone, VNPT Media và VNPT Net. VNPT nhận định được cần phải phát huy mọi nguồn lực của mình sau công cuộc tái cơ cấu này và đặc biệt là nguồn nhân lực – thứ tài sản quý giá nhất, chiếc chìa khóa vàng dẫn đến thành công. VNPT đã đưa vào áp dụng các phương pháp quản trị doanh nghiệp hiện đại như thẻ điểm cân bằng BSC/KPIs, cơ chế trả lương 3Ps… để tạo sự thay đổi trong bố trí công việc và sử dụng lao động theo hướng hiệu quả hơn. Đây là một trong những công cụ đo lường đánh giá hiệu quả công việc nhằm phản ánh hiệu quả hoạt động của tổ chức hoặc bộ phận chức năng hay cá nhân người lao động, đặc biệt là rất phù hợp với công tác đánh giá trong bộ phận sản xuất kinh doanh (VNPT Vinaphone).
Tuy nhiên, khi triển khai rộng khắp về các tỉnh thành, do những yếu tố chủ quan và khách quan như: Năng lực của cán bộ chuyên trách; nhận thức, trình độ của người lao động; các chỉ tiêu đánh giá chưa được lượng hóa hết và không rõ ràng; việc ứng dụng kết quả đánh giá vào công tác quản trị nhân lực tại mỗi tỉnh chưa cao, dẫn đến công tác đánh giá thực hiện công việc chưa thực sự phát huy được vai trò và lợi ích của nó. 2 Trong thời gian làm việc tại VNPT Vinaphone Bắc Ninh, nhận thức được tầm quan trọng của đánh giá thực hiện công việc và có điều kiện tìm hiểu thực trạng hoạt động này, em quyết định chọn đề tài: “Đánh giá thực hiện công việc tại VNPT Vinaphone Bắc Ninh” làm đề tài nghiên cứu cho luận văn của mình, nhằm đáp ứng nhu cầu thực tiễn tại đơn vị đang công tác. Tổng quan nghiên cứu liên quan đến đề tài Là một hoạt động cơ bản của quản trị nguồn nhân lực, đánh giá thực hiện công việc thu hút được rất nhiều tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước quan tâm chú ý và chọn làm đề tài nghiên cứu của mình. Trên thế giới, có rất nhiều các bài viết chuyên sâu nghiên cứu về hệ thống đánh giá thực hiện công việc với nhiều cách tiếp cận và các chủ đề khác nhau.
DeNisi và Robert D. Pritchard có bài viết “Performance Appraisal, Performance Management and Improving Individual Performance: A Motivational Framework” đăng trên tạp chí Management and Organization Review (Số 2, 2006) tập trung phân tích nội dung sử dụng kết quả thực hiện công việc trong hệ thống đánh giá. Trong đó nhấn mạnh việc sử dụng kết quả vào công tác tạo động lực lao động và xây dựng hệ thống đánh giá dựa trên quan điểm này. Tác giả cho rằng các hệ thống đánh giá đang được áp dụng hiện nay quá tập trung vào việc đo lường kết quả thực hiện công việc của người lao động mà không giúp họ cải thiện năng suất lao động.
Do đó, trong bài viết, tác giả tập trung vào nghiên cứu, đề xuất khung động lực của người lao động và vận dụng khung động lực đó vào việc thiết kế và sử dụng hệ thống đánh giá nhằm nâng cao năng suất lao động, giúp tổ chức nâng cao năng lực của từng cá nhân trong đó. Đặng Hùng Phương, Phạm Ngọc Kim Tuyến đã xuất bản cuốn sách: “Phương pháp quản lý hiệu suất công việc” Robert Bacal (2008). Như trang web sachhay.org đã nhận xét ” Cuốn sách cung cấp cho các nhà quản lý những kỹ năng hết sức hiệu quả tập trung vào mục tiêu, khích lệ năng suất lao động trong mọi môi trường; đồng thời nêu lên các chiến lược rất giá trị và các bước hành động mà bạn có thể tiến hành để cải thiện được năng suất lao động của công ty mình”. Tác giả đã trình bày những 3 phương pháp quản lý việc thực hiện công việc của người lao động trong đó có phương pháp KPI được tác giả mô tả và phân tích chi tiết.
Beck đăng trên tạp chí “HR insight” (Số 9,2013) bài viết “Timely performance reviews essential to employee retention” tập trung vào khía cạnh ứng dụng vào công tác giữ chân nhân viên trong tổ chức. Theo tác giả, công tác đánh giá thực hiện công việc định kỳ có ảnh hưởng sâu sắc tới công tác giữ chân nhân viên và tỷ lệ nhảy việc trong nội bộ tổ chức. Thông qua đánh giá thực hiện công việc, tổ chức sẽ lên kế hoạch nhằm phát hiện ra những nhân viên giỏi và đề ra những chính sách giữ chân họ làm việc lâu dài, tập trung vào các chính sách tạo động lực, phát triển cá nhân cũng như khen thưởng kỷ luật… Tại Việt Nam,một số tạp chí chuyên ngành kinh tế đã đăng tải các bài báo đưa ra các phương pháp nghiên cứu tiên tiến, các nhận xét, tổng quan lý thuyết về đánh giá hiệu quả công việc như: Cao Hồng Việt đăng nghiên cứu “Đánh giá thực hiện công việc tại doanh nghiệp” trên Tạp chí Công nghệ thông tin & Truyền thông (số 156, 2003) đã chỉ ra 3 phương pháp thường được sử dụng tại Việt Nam và tổng kết một số nguyên tắc cơ bản cần lưu ý cho nhà quản lý trong quá trình thiết kế hệ thống đánh giá, tuy nhiên các nội dung nghiên cứu này chỉ đưa ra cái nhìn khái quát và mang tính giới thiệu chung. Phùng Xuân Nhạ & Lê Quân đăng trên Tạp chí Kinh tế & Phát triển (số 186, tháng 12/2012) bài viết “Thực trạng quản trị nguồn nhân lực của Việt Nam qua một số chỉ tiêu định lượng” đã đưa ra phương pháp đánh giá thực trạng công tác quản trị của các doanh nghiệp Việt Nam giai đoạn hiện nay.
Nghiên cứu phân tích chuyên sâu các chỉ số mà các doanh nghiệp Việt Nam còn đạt mức thấp và định lượng một số chỉ tiêu để đánh giá thực trạng quản lý nguồn nhân lực của doanh nghiệp. Tuy nhiên, nghiên cứu chỉ định lượng một số chỉ tiêu mà tác giả cho rằng quyết định đến hiệu quả quản trị nguồn nhân lực của doanh nghiệp Việt Nam trong giai đoạn hiện nay và chưa phân tích, làm rõ công tác lập kế hoạch, tổ chức đánh giá thực hiện công việc thông qua các chỉ tiêu đã định lượng. Do đó, chưa phân tích thực trạng đánh giá công 4 việc và chưa có các giải pháp phù hợp để hoàn thiện công tác đánh giá thực hiện công việc. Phạm Xuân Thành & Trần Việt Hùng đăng trên Tạp chí Tài chính (số 5, 2014) nghiên cứu “Ứng dụng mô hình thẻ điểm cân bằng BSC trong việc nâng cao hiệu quả quản trị doanh nghiệp” đã chỉ ra phương pháp đánh giá hiệu quả hoạt động thông qua thẻ điểm cân bằng BSC (Balanced Scorecard).
Thông qua thẻ điểm cân bằng tác giả đã đưa ra cụ thể các chỉ số đo lường KPI để có thể đánh giá hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp, phân tích chuyên sâu vào hệ thống các chỉ số đo lường KPI trong đánh giá thực hiện công việc, ứng dụng mô hình thẻ điểm BSC để đánh giá hiệu quả hoạt động. Tuy nhiên nghiên cứu chưa đi sâu vào công tác đánh giá thực hiện công việc tại doanh nghiệp. Nguyễn Hoài An với bài báo nghiên cứu “Tìm hiểu chỉ số đánh giá hiệu quả KPI quản trị nguồn nhân lực và khả năng áp dụng tại các doanh nghiệp Việt Nam” đăng trên Tạp chí Khoa học thương mại số 30 công bố năm 2012 chủ yếu là tìm hiểu bộ chỉ số KPI và việc áp dụng vào các doanh nghiệp Việt Nam hiện nay. Ngoài ra còn rất nhiều công trình nghiên cứu về ĐGTHCV của người lao động được các tiến sĩ, phó giáo sư, giáo sư nghiên cứu và đăng tải trên các báo, tạp chí chuyên ngành kinh tế quản trị, viện nghiên cứu… Các công trình nghiên cứu đã đưa ra cơ sở lý luận sâu sát và ngày càng mang tính ứng dụng thực tiễn cao, không rời xa thực tế mà phản ánh đúng nội dung và các khía cạnh của đánh giá thực hiện công việc hiện nay.
Thực tế tại VNPT Vinaphone Bắc Ninh, đánh giá thực hiện công việc đang áp dụng từ năm 2015 sau quá trình tái cơ cấu Tập đoàn, tuy nhiên chưa thực sự đạt hiệu quả như mong muốn.Tính đến thời điểm hiện tại vẫn chưa có công trình nghiên cứu nào về đánh giá thực hiện công việc tại VNPT Vinaphone Bắc Ninh. Do đó, việc nghiên cứu đề tài “Đánh giá thực hiện công việc tại VNPT Vinaphone Bắc Ninh” là vô cùng thiết thực, đi sâu phân tích đánh giá thực hiện công việc và đưa ra các giải pháp cụ thể, phù hợp nhằm hoàn thiện đánh giá thực hiện công việc tại VNPT Vinaphone Bắc Ninh. Mục tiêu nghiên cứu Mục tiêu tổng quát: Đề ra các giải pháp nhằm hoàn thiện công tác đánh giá thực hiện công việc tại VNPT Vinaphone Bắc Ninh, qua đó nâng cao hiệu quả hoạt động quản trị nhân lực, góp phần vào sự phát triển của Tổng công ty trong những năm tới. Mục tiêu cụ thể: - Hệ thống hóa những lý luận cơ bản về đánh giá thực hiện công việc: khái niệm, nội dung, phương pháp.
- Tìm hiểu, phân tích thực trạng đánh giá thực hiện công việc tại VNPT Vinaphone Bắc Ninh, chỉ ra những ưu điểm và hạn chế của hoạt động. - Đề xuất các giải pháp thiết thực, khả thi để hoàn thiện đánh giá thực hiện công việc tại VNPT Vinaphone Bắc Ninh. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu Đối tượng nghiên cứu: ĐGTHCV tại VNPT Vinaphone Bắc Ninh. Phạm vi nghiên cứu: - Phạm vi không gian: VNPT Vinaphone Bắc Ninh - Phạm vi thời gian: Luận văn nghiên cứu công tác ĐGTHCV với dữ liệu được thu thập trong khoảng thời gian 2015 – 2017 và đề xuất giải pháp hoàn thiện giai đoạn 2017 – 2020.