Đặt vấn đề Quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá đặt ra những yêu cầu to lớn đối với công tác quản lý Nhà nước về mọi mặt của đời sống kinh tế - xã hội, trong đó quản lý Nhà nước về đất đai là một nội dung quan trọng nghiên cứu các quan hệ xã hội phát sinh trong quá trình sử dụng đất của các tổ chức, hộ gia đình, cá nhân. Đất đai, quản lý và sử dụng đất đai không chỉ là vấn đề kinh tế rộng lớn, phức tạp mà còn là vấn đề chính trị - xã hội rất hệ trọng, nhạy cảm, liên quan đến việc giữ vững thành quả cách mạng, của cuộc đấu tranh dân tộc, đấu tranh giai cấp. Vì vậy vấn đề đất đai luôn là vấn đề được Đảng ta thường xuyên quan tâm ngay từ khi Đảng ra đời đến nay. Trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, quan hệ đất đai không chỉ là các mối quan hệ xã hội phát sinh trong lĩnh vực đất đai ngày càng nóng bỏng phức tạp liên quan trực tiếp tới lợi ích của từng đối tượng sử dụng đất.
Các quan hệ đất đai chuyển từ chỗ là quan hệ khai thác chinh phục tự nhiên chuyển thành các quan hệ kinh tế xã hội về sở hữu và sử dụng một loại tư liệu sản xuất đặc biệt quan trọng. Để phù hợp với quá trình đổi mới kinh tế, Đảng và Nhà nước đã ban hành nhiều văn bản pháp luật để quản lý đất đai, điều chỉnh các mối quan hệ đất đai theo kịp với tình hình thực tế. Bên cạnh đó Đảng và Nhà nước luôn khuyến khích động viên các đối tượng sử dụng đất đúng mục đích, tiết kiệm đạt hiệu quả cao theo pháp luật. Tuy vậy đất đai là sản phẩm của tự nhiên và nó tham gia vào tất cả các hoạt động kinh tế xã hội do các quan hệ đất đai luôn chứa đựng trong nó những vấn đề phức tạp, đòi hỏi phải có sự giải quyết kịp thời đảm bảo được các lợi ích của người sử dụng đất.Thêm vào đó hiểu biết pháp luật đất đai của các đối tượng sử c 2 dụng còn hạn chế dẫn đến những vi phạm pháp luật trong việc sử dụng đất gây nhiều hậu quả xấu về mặt kinh tế xã hội.
Đối với xã Phong Dụ, là một xã miền núi của huyện Tiên Yên, sản xuất nông nghiệp là chủ yếu, hạ tầng cơ sở và kỹ thuật mặc dù đã và đang được đầu tư nhưng chưa đồng bộ và phát triển, với địa bàn rộng, địa hình phức tạp giao thông đi lại còn gặp nhiều khó khăn. Việc đo đạc bản đồ kéo dài trong nhiều năm nên công tác quản lý và đưa vào sử dụng còn nhiều bất cập. Nhiều diện tích trước đây cấp theo bản đồ cũ hay cấp không tờ không thửa khi đo đạc lại có sự thay đổi cả về diện tích và mục đích sử dụng. Hiện trạng sử dụng đất có sự thay đổi nhiều so với hồ sơ địa chính, việc cập nhật và chỉnh lý biến động hồ sơ địa chính chưa được kịp thời, do đó đã ảnh hưởng lớn đến việc quản lý đất đai tại địa phương.
Xuất phát từ thực tế đó, được sự nhất trí của khoa Quản Lý Tài Nguyên, trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên, dưới sự hướng dẫn trực tiếp của thầy PGS. Đàm Xuân Vận em tiến hành nghiên cứu và thực hiện đề tài: "Đánh giá công tác quản lý Nhà nước về đất đai trên địa bàn xã Phong Dụ, huyện Tiên Yên, tỉnh Quảng Ninh giai đoạn 2014 – 2016”.1 Mục tiêu nghiên cứu 1.1 Mục tiêu tổng quát Trên cơ sở thực trạng công tác quản lý Nhà nước về đất đai của xã Phong Dụ giai đoạn 2014 - 2016 sẽ tiến hành đánh giá những thành tựu và hạn chế để tìm ra nguyên nhân và đề xuất biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả quản lý Nhà nước về đất đai trong thời gian tới.2 Mục tiêu cụ thể - Đánh giá sơ lược về tình hình cơ bản của địa bàn nghiên cứu. - Đánh giá công tác quản lý Nhà nước về đất đai trên địa bàn nghiên cứu giai đoạn 2014-2016. c 3 - Đánh giá sự hiểu biết của người dân về pháp luật đất đai hiện hành.
- Đánh giá những thuận lợi, khó khăn và phải pháp cho công tác QLNN về đất đai của địa phương.2 Yêu cầu Số liệu đưa ra phải phản ánh trung thực, khách quan thực trạng quản lý và sử dụng đất đai của xã, phải được phân tích đánh giá một cách khách quan, đúng pháp luật. Ý nghĩa của đề tài 1. Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu Củng cố những kiến thức đã học và bước đầu làm quen với công tác quản lý Nhà nước về đất đai ngoài thực tế. Nâng cao khả năng tiếp cận, thu thập số liệu, xử lý số liệu và xử lý thông tin trong quá trình làm đề tài.
Ý nghĩa thực tiễn Đề tài nghiên cứu tình hình quản lý Nhà nước về đất đai của xã Phong Dụ, từ đó đưa ra những giải pháp giúp cho công tác quản lý Nhà nước về đất đai được tốt hơn. c 4 PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2.1 Những nội dung cơ bản của công tác quản lý Nhà nước về đất đai ở Việt Nam theo luật đất đai 2013 Sau khi áp dụng Luật đất đai 2003 để quản lý về đất đai những năm qua đã có những bất cập, mâu thuẫn không còn mang tính hiệu quả cao trong quản lý Nhà nước về đất đai. Nên ngày 29 tháng 11 năm 2013, tại kỳ họp thứ 6, Quốc hội khóa XIII đã thông qua Luật đất đai năm 2013. Luật đất đai năm 2013 có 14 chương với 212 điều quy định về chế độ sở hữu đất đai, quyền hạn và trách nhiệm của Nhà nước đại diện chủ sở hữu toàn dân về đất đai và thống nhất quản lý về đất đai, chế độ quản lý và sử dụng đất đai, quyền và nghĩa vụ của người sử dụng đất đối với đất đai thuộc lãnh thổ của nước CHXHCN Việt Nam đã có những sửa đổi bổ sung phù hợp hơn với đường lối phát triển của Đảng và nhà nước có hiệu lực từ ngày 01/07/2014.Theo điều 22 chương II Luật đất đai 2013 quy định về nội dung quản lý Nhà nước về đất đai như sau: 1.
Ban hành văn bản quy phạm pháp luật về quản lý, sử dụng đất đai và tổ chức thực hiện văn bản đó. Xác định địa giới hành chính, lập và quản lý hồ sơ địa giới hành chính, lập bản đồ hành chính. Khảo sát, đo đạc, lập bản đồ địa chính, bản đồ hiện trạng sử dụng đất và bản đồ quy hoạch sử dụng đất; điều tra, đánh giá tài nguyên đất; điều tra xây dựng giá đất. Quản lý quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất.
Quản lý việc giao đất, cho thuê đất, thu hồi đất, chuyển mục đích sử dụng đất. Quản lý việc bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi thu hồi đất. Đăng ký đất đai, lập và quản lý hồ sơ địa chính, cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất. Thống kê, kiểm kê đất đai.
Xây dựng hệ thống thông tin đất đai. Quản lý tài chính về đất đai và giá đất. Quản lý, giám sát việc thực hiện quyền và nghĩa vụ của người sử dụng đất 12. Thanh tra, kiểm tra, giám sát, theo dõi, đánh giá việc chấp hành quy định của pháp luật về đất đai và xử lý vi phạm pháp luật về đất đai.
Phổ biến, giáo dục pháp luật về đất đai. Giải quyết tranh chấp về đất đai; giải quyết khiếu nại, tố cáo trong quản lý và sử dụng đất đai. Quản lý hoạt động dịch vụ về đất đai.2 Khái quát tình hình quản lý Nhà nước về đất đai ở nước ta từ khi thực hiện Luật đất đai 2013 đến nay 2.1 Công tác quản lý Nhà nước về đất đai trong phạm vi cả nước * Công tác ban hành các văn bản quy phạm pháp luật về quản lý, sử dụng đất đai và tổ chức thực hiện các văn bản đó Việc soạn thảo, ban hành các văn bản quy phạm pháp luật về quản lý và sử dụng đất đai chính xác, hiệu quả và kịp thời là công việc quan trọng của cơ quan quản lý Nhà nước về đất đai ở Trung ương. Khi Luật đất đai 2013 được Quốc Hội khoá XI thông qua ngày 29/11/2013 và có hiệu lực thi hành từ ngày 01/07/2014.
Để Luật đất đai 2013 thật sự đem lại hiệu quả cao, Chính phủ đã kịp thời ban hành nhiều Nghị định, Thông tư hướng dẫn, thi hành Luật này như: - Nghị định số 46/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2013 của Chính phủ quy định về thu tiền thuê đất, thuê mặt nước. - Nghị định số 47/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2013 của Chính phủ quy c 6 định về bồi thường, hỗ trợ tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất. - Thông tư 23/2014/TT-BTNMT ngày 19/5/2014 Quy định về GCNQSDĐ, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất. - Thông tư 24/2014/TT-BTNMT ngày 19/5/2014 Quy định về hồ sơ địa chính.
- Thông tư 25/2014/TT-BTNMT ngày 19/5/2014 Quy định về bản đồ địa chính. -Thông tư 28/2014/TT-BTNMT ngày 02/6/2014 Quy định về thống kê, kiểm kê đất đai, xây dựng bản đồ hiện trạng sử dụng đất. -Thông tư 02/2015/TT-BTNMT hướng dẫn nghị định 43/2014/NĐ-CP. * Công tác xác định địa giới hành chính, lập và quản lý hồ sơ địa giới hành chính, lập bản đồ hành chính Hiện nay hầu hết các địa phương đã hoàn thành xong việc cắm mốc địa giới hành chính và lập bản đồ hành chính.
Công tác phân mốc giới hành chính được lập theo kế hoạch. Trong công tác phân giới cắm mốc, hoàn thành đúng tiến độ ba tuyến biên giới trên đất liền và tuyến biển: tuyến Việt Nam - Trung Quốc, Việt Nam - Lào, Việt Nam - Campuchia. Đây là những kết quả nỗ lực hết mình của Đảng và Nhà nước ta trong việc đàm phán phân chia ranh giới đất liền giữa ba nước có biên giới chung. Bên cạnh những kết quả đạt được ở trên thì trong quá trình đo vẽ ở các địa phương còn gặp những thiếu sót do hạn chế về trang thiết bị, trình độ công nghệ của các cấp, các địa phương khác nhau nên độ chính xác chất lượng của bản đồ còn kém, dẫn đến tình trạng ranh giới giữa một số địa phương chưa rõ ràng, cần phải khắc phục.