Chương 1: Tổng quan – Giới thiệu lý do hình thành đề tài, mục tiêu nghiên cứu, đối tượng & phạm vi nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu; ý nghĩa và tính mới của đề tài nghiên cứu. 6 Chương 2: Cơ sở lý thuyết và các nghiên cứu trước – trình bày các cơ sở lý thuyết nhân tố ảnh hưởng đến sự tuân thủ thuế của DNVVN, các nghiên cứu trước có liên quan đến đề tài. Chương 3: Thực trạng tuân thủ thuế của các DNVVN tại CCT Tp.TDM và Thiết kế nghiên cứu - Giới thiệu sơ lược về CCT Tp.TDM, thực trạng tuân thủ thuế của các DN trên địa bàn Tp Thủ Dầu Một về đăng ký thuế, kê khai thuế, kiểm tra thuế, nộp thuế; Đánh giá thực trạng công tác quản lý thuế của CCT Tp.TDM hiện nay; giới thiệu mô hình khảo sát và các giả thuyết nghiên cứu, quy trình thực hiện nghiên cứu, xây dựng mô hình phục vụ cho nghiên cứu cũng như đặt các giả thuyết nghiên cứu, thiết kế nghiên cứu bao gồm xây dựng và hoàn thiện bảng câu hỏi khảo sát, thiết kế mẫu nghiên cứu. Chương 4: Kết quả nghiên cứu – trình bày thông tin về mẫu khảo sát, kiểm định mô hình đo lường các nhân tố tác động đến tính tuân thủ thuế, phân tích đánh giá thảo luận các kết quả.
Chương 5: Kết luận và kiến nghị - trình bày một số ý nghĩa từ kết quả nghiên cứu, đề xuất các kiến nghị nhằm làm tăng sự tuân thủ thuế của DNVVN tại CCT Tp.TDM dựa trên kết quả nghiên cứu và những hạn chế của nghiên cứu, đề nghị các bước nghiên cứu tiếp theo. 7 CHƯƠNG 2 CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ CÁC NGHIÊN CỨU TRƯỚC Trong chương này, tác giả giới thiệu về đối tượng khảo sát chính của đề tài nghiên cứu là DNVVN theo quy định pháp luật Việt Nam, đặc điểm, vai trò của loại hình DN này trong nền kinh tế Việt Nam. Tiêu chuẩn đánh giá sự tuân thủ thuế của DN theo quy định của luật quản lý thuế hiện hành và các văn bản pháp luật thuế có liên quan trong tuân thủ về đăng ký, kê khai và nộp thuế của DN. Đồng thời luận văn s giới thiệu một số khái niệm cơ bản về tuân thủ thuế theo quan điểm của các tác giả trong nước và nước ngoài, các nghiên cứu có liên quan đến đề tài nghiên cứu.
Từ các nghiên cứu này, tác giả s chọn lọc các nhân tố tác động đến tính tuân thủ thuế của các DNVVN trên cơ sở lựa chọn các nhân tố phù hợp với tình hình hoạt động của các DN đang hoạt động trên địa bàn TP Thủ Dầu Một hiện nay để xây dựng mô hình nghiên cứu phù hợp.1 Giới thiệu về doanh nghiệp vừa và nhỏ 2.1 Khái niệm doanh nghiệp vừa và nhỏ Bảng 2. 1 Phân loại quy mô doanh nghiệp DN siêu DN nhỏ DN vừa DN lớn nhỏ Quy mô Lao Vốn Lao Vốn Lao Vốn Lao động (tỷ động (tỷ động (tỷ động (người) đồng) (người) đồng) (người) đồng) (người) I. Khu vực Trên nông, lâm Trên 10 Trên 200 Trên ≤10 ≤ 20 20 đến Trên 300 nghiệp và đến 200 đến 300 100 100 thủy sản II. Khu Trên vực công Trên 10 Trên 200 Trên ≤10 ≤ 20 20 đến Trên 300 nghiệp và đến 200 đến 300 100 100 xây dựng III.
Khu Trên Trên 10 Trên 50 Trên vực dịch ≤10 ≤ 10 10 đến Trên 100 đến 50 đến 100 50 vụ 50 DN siêu nhỏ, nhỏ và vừa hay còn gọi thông dụng là DNVVN là những DN có quy mô nhỏ bé về mặt vốn, lao động hay doanh thu. Tại Việt Nam, theo Điều 3, Nghị định số 56/2009/NĐ-CP ngày 30/6/2009 của Chính phủ, 8 DNVVN được định nghĩa như sau “1. DN nhỏ và vừa là cơ sở kinh doanh đã đăng ký kinh doanh theo quy định pháp luật, được chia thành ba cấp: siêu nhỏ, nhỏ, vừa theo quy mô tổng nguồn vốn (tổng nguồn vốn tương đương tổng tài sản được xác định trong bảng cân đối kế toán của DN) hoặc số lao động bình quân năm (tổng nguồn vốn là tiêu chí ưu tiên)” 2.2 Đặc trưng hoạt động kinh doanh của các DN vừa và nhỏ: - Tính chất hoạt động kinh doanh: DNVVN thực hiện các dịch vụ đa dạng và phong phú như các dịch vụ trong quá trình phân phối và thương mại hoá, sinh hoạt và giải trí, tư vấn và hỗ trợ. DNVVN có tính linh hoạt nhờ cấu trúc và quy mô nhỏ nên khả năng thay đổi mặt hàng, chuyển hướng kinh doanh thậm chí cả địa điểm kinh doanh được coi là mặt mạnh của các DNVVN.
- Về nguồn lực vật chất: Nhìn chung các DNVVN bị hạn chế bởi nguồn vốn, tài nguyên, đất đai và công nghệ. Sự hữu hạn về nguồn lực này là do nguồn gốc hình thành DN. Mặt khác còn do sự hạn hẹp trong các quan hệ với thị trường tài chính – tiền tệ, quá trình tự tích luỹ thường đóng vai trò quyết định của DNVVN. - Về năng lực quản lý điều hành: Xuất phát từ nguồn gốc hình thành, tính chất, quy mô nên các quản trị gia DNVVN thường nắm bắt, quản lý hầu hết các mặt của hoạt động kinh doanh.
Chính vì vậy mà nhiều kỹ năng, nghiệp vụ quản lý trong các DNVVN còn rất thấp so với yêu cầu. - Vai trò của các DNVVN trong nền kinh tế Việt Nam: Trong các loại hình sản xuất kinh doanh ở nước ta hiện nay DNVVN chiếm tỷ trọng lớn trong tổng số các DN ,có sức lan toả trong mọi lĩnh vực của đời sống kinh tế - xã hội. Ưu điểm của DNVVN: Các DNVVN năng động, linh hoạt trước thay đổi của thị trường do DNVVN có khả năng chuyển hướng kinh doanh nhanh, tăng giảm lao động dễ dàng, nơi làm việc của người lao động có tính ổn định và ít bị đe doạ mất nơi làm việc. Việc tổ chức sản xuất, tổ chức quản lý linh hoạt, gọn nhẹ, các quyết định quản lý thực hiện nhanh, công tác kiểm tra, điều hành trực tiếp.
Qua đó góp phần tiết kiệm chi phí quản lý DN. 9 Vốn đầu tư ban đầu ít, hiệu quả cao, thu hồi nhanh, điều đó tạo sức hấp dẫn trong đầu tư sản xuất kinh doanh, mọi thành phần kinh tế vào khu vực này. Nhược điểm của DNVVN: Nguồn vốn tài chính hạn chế, đặc biệt nguồn vốn tự có cũng như bổ sung để thực hiện quá trình tích tụ, tập trung nhằm duy trì hoặc mở rộng sản xuất kinh doanh. Cơ sở vật chất kỹ thuật, trình độ công nghệ kỹ thuật thường yếu kém, lạc hậu.
Trình độ quản lý nói chung và quản trị các mặt theo các chức năng còn hạn chế. Đa số các chủ DN nhỏ chưa được đào tạo cơ bản, đặc biệt những kiến thức về kinh tế thị trường, về quản trị kinh doanh, về chính sách kế toán và chính sách thuế, họ quản lý bằng kinh nghiệm và thực tiễn là chủ yếu. - Về công tác kế toán của DNVVN: tổ chức công tác kế toán của DNVVN tuân theo quy định Luật kế toán Số: 03/2003/QH11 ngày 17/06/2003 của Quốc Hội về nội dung công tác kế toán, tổ chức bộ máy kế toán, người làm kế toán và hoạt động nghề nghiệp kế toán. Mục tiêu của công tác kế toán tại DNVVN: xác định tính minh bạch của thông tin kế toán để nhận các khoản tài trợ từ hệ thống NH, quản lý vốn và nợ, ra quyết định đầu tư của DN, tối thiểu hóa chi phí thuế, tuân thủ quy định khai thuế và thể hiện trách nhiệm của DN đối với cơ quan NN, cung cấp thông tin cho các cổ đông.
Đối tượng sử dụng thông tin kế toán của các DNNVV tập trung vào chủ sở hữu, chủ nợ hiện tại và tiềm năng. Do vậy, nghĩa vụ pháp lý công bố thông tin tài chính của các DNNVV này có những giới hạn nhất định và đơn giản hơn so với các DN đại chúng có quy mô lớn. Lĩnh vực hoạt động kinh doanh của các DNNVV thường tập trung vào những ngành nghề kinh doanh chính. Các nghiệp vụ kinh tế phát sinh trong các DN này thường là những nghiệp vụ cơ bản gắn liền với hoạt động sản xuất kinh doanh chủ yếu.
Các quan hệ kinh tế, tài chính phức tạp thường hiếm khi xảy ra do vậy công tác kế toán của các DN này chủ yếu tập trung vào những vấn đề cơ bản trong quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh. 10 Do các nguồn lực và yêu cầu đặt ra đối với công tác kế toán có giới hạn, nên việc đầu tư vào trang thiết bị, nguồn nhân lực cho công tác kế toán ở các DNNVV có nhiều hạn chế, điều này ảnh hưởng lớn đến sự tuân thủ của DN.2 Lý thuyết về tuân thủ thuế: 2.1 Khái niệm về sự tuân thủ thuế: Theo Jackson and Milliron (1986) và Alm (1991), tuân thủ thuế là báo cáo tất cả thu nhập, thanh toán toàn bộ nghĩa vụ thuế bằng cách thực hiện các điều khoản quy định của luật, pháp lệnh, hoặc phán quyết của tòa án. Trong khi theo Hamm (1995) thì tuân thủ thuế được định nghĩa là NNT nộp tờ khai thuế vào thời điểm thích hợp và thực hiện đầy đủ nghĩa vụ thuế theo quy định của các luật thuế, các quyết định của tòa án. Theo Marti (2000), tuân thủ thuế là một thuật ngữ phức tạp để xác định.
Đơn giản chỉ cần hiểu rằng tuân thủ thuế liên quan đến việc hoàn thành tất cả các nghĩa vụ thuế theo quy định của pháp luật một cách tự nguyện và đầy đủ. Theo Tiến sĩ Nguyễn Thị Thanh Hoài (2011), tuân thủ là việc chấp hành nghĩa vụ của NNT theo đúng luật định, bao gồm các hoạt động đăng ký, kê khai, báo cáo, nộp thuế. Bất kỳ sự vi phạm nào xuất hiện ở một trong các khâu trên đều dẫn đến sự không tuân thủ ở các mức độ khác nhau. Tuân thủ pháp luật thuế của NNT thể hiện ở việc chấp hành đầy đủ, kịp thời và đúng đắn các quy định của pháp luật thuế, cụ thể là việc chấp hành các tiêu chí thời gian, mức độ chính xác trung thực và đầy đủ của các hoạt động đăng ký thuế, khai thuế, nộp thuế và các nghĩa vụ khác về thuế của NNT.
Khi tuân thủ pháp luật thuế của NNT được nâng cao, rõ ràng, chính sách pháp luật thuế đã được ban hành và thực thi có hiệu quả, đạt được các mục tiêu mong muốn. Suy cho cùng, tính đúng đắn hay tiên tiến của chính sách thuế, tính hiệu quả của công tác quản lý thuế thể hiện rất rõ ở thực trạng chấp hành pháp luật thuế và của NNT.