Chương 1. Tổng quan về đề tài nghiên cứu Chương 2. Cơ sở lý luận và mô hình nghiên cứu Chương 3. Phương pháp nghiên cứu Chương 4.
Phân tích kết quả nghiên cứu Chương 5. Kết luận và kiến nghị 8 CHƯƠNG 2 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU Chương này tác giả sẽ trình bày khung lý thuyết liên quan đến các khái niệm về hành vi tuân thủ thuế, các nhân tố tác động đến hành vi tuân thủ thuế. Trên cơ sở đó tác giả xây dựng mô hình và các giả thuyết nghiên cứu của mình.1 Lý thuyết về hành vi tuân thủ thuế 2.1 Hành vi Dù ở quốc gia nào, hành vi tuân thủ thuế luôn được Nhà nước quan tâm và được xem là thước đo giá trị cho những đóng góp mà cá nhân hoặc tổ chức mang lại cho xã hội, mức đóng góp cho xã hội nhiều hay ít là tùy thuộc vào quy mô và năng lực cụ thể của từng cá nhân hoặc tổ chức mang lại. Theo Luật Quản lý thuế số 78/2006/QH11 thì nghĩa vụ của người nộp thuế gồm: “Đăng ký thuế, sử dụng mã số thuế theo quy định của pháp luật.
Khai thuế chính xác, trung thực, đầy đủ và nộp hồ sơ thuế đúng thời hạn; chịu trách nhiệm trước pháp luật về tính chính xác, trung thực, đầy đủ của hồ sơ thuế. Nộp tiền thuế đầy đủ, đúng thời hạn, đúng địa điểm. Chấp hành chế độ kế toán, thống kê và quản lý, sử dụng hoá đơn, chứng từ theo quy định của pháp luật. Ghi chép chính xác, trung thực, đầy đủ những hoạt động phát sinh nghĩa vụ thuế, khấu trừ thuế và giao dịch phải kê khai thông tin về thuế.
Lập và giao hoá đơn, chứng từ cho người mua theo đúng số lượng, chủng loại, giá trị thực thanh toán khi bán hàng hoá, cung cấp dịch vụ theo quy định của pháp luật. Cung cấp chính xác, đầy đủ, kịp thời thông tin, tài liệu liên quan đến việc xác định nghĩa vụ thuế, số hiệu và nội dung giao dịch của tài khoản mở tại ngân hàng thương mại, tổ chức tín dụng khác; giải thích việc tính thuế, khai thuế, nộp thuế theo yêu cầu của cơ quan quản lý thuế. Chấp hành quyết định, thông báo, yêu cầu của cơ quan quản lý thuế, công chức quản lý thuế theo quy định của pháp luật. Chịu trách nhiệm thực hiện nghĩa vụ thuế theo quy định của pháp luật trong trường hợp người đại diện theo pháp luật hoặc đại diện theo ủy quyền thay mặt người nộp thuế thực hiện thủ tục về thuế sai quy định”.
Theo quy định trên, nghĩa vụ của người nộp thuế có thể được khái quát như sau: Đăng ký thuế, sử dụng mã số thuế theo quy định. Kê khai thông tin về thuế, 9 những hoạt động phát sinh nghĩa vụ thuế chính xác, trung thực, đầy đủ và nộp hồ sơ thuế đúng thời hạn. Chấp hành chế độ kế toán, thống kê, hoá đơn, chứng từ theo quy định; cung cấp chính xác, đầy đủ kịp thời thông tin, tài liệu liên quan đến xác định nghĩa vụ thuế. Chấp hành quyết định, thông báo, yêu cầu của của cơ quan thuế, công chức thuế theo quy định; nộp tiền thuế đầy đủ, đúng thời hạn, đúng địa điểm.
Nghĩa vụ của đối tượng nộp thuế được trình bày trong (OECD, 2004), quản lý rủi ro tuân thủ, quản lý và cải thiện tuân thủ thuế như sau: “Nghĩa vụ cụ thể của đối tượng nộp thuế có thể khác nhau về trách nhiệm thuế và giữa các cơ quan thuế khác nhau, nhưng có bốn loại nghĩa vụ mà đối tượng nộp thuế chắc chắn phải thực hiện dù ở bất kỳ nước nào là: Đăng ký thuế; nộp tờ khai và nộp các thông tin cần thiết liên quan đến thuế đúng thời hạn. Báo cáo các thông tin đầy đủ và chính xác (kết hợp với việc lưu giữ sổ sách); nộp nghĩa vụ thuế đúng hạn”. Nghĩa vụ thuế theo quy định tại Luật Quản lý thuế của Việt Nam và theo OECD không hoàn toàn giống nhau nhưng về cơ bản có những điểm chung. Luật Quản lý thuế quy định nghĩa vụ thuế có phần chi tiết như chấp hành chế độ kế toán, thống kê, hoá đơn, chứng từ theo quy định; chấp hành quyết định, thông báo, yêu cầu của của cơ quan quản lý thuế, công chức quản lý thuế theo quy định của pháp luật; nộp tiền thuế đúng địa điểm.
Về cơ bản nghĩa vụ thuế đều liên quan đến các nội dung: Đăng ký thuế, nộp tờ khai, kê khai (báo cáo) thông tin và nộp thuế.2 Hành vi tuân thủ thuế 2.1 Khái niệm hành vi tuân thủ thuế Ủy ban các vấn đề về thuế của (OECD, 2004) cho rằng ‘tuân thủ thuế là phạm vi mà đối tượng nộp thuế phải hoàn thành các nghĩa vụ thuế của mình’. Tại nhiều nước, đối tượng nộp thuế có ba nghĩa vụ cơ bản: (1) nộp tờ khai thuế đúng hạn; (2) kê khai (báo cáo) chính xác trên tờ khai những thông tin cần thiết để xác định số tiền thuế; và (3) nộp nghĩa vụ thuế kịp thời. Các nghĩa vụ này thường được coi là tuân thủ về nộp tờ khai, tuân thủ về báo cáo (kê khai), và tuân thủ về thu nộp”. 10 Trong nghiên cứu (James & Alley,1999) được trích trong bài (Đặng Thị Bạch Vân, 2014) thì “tuân thủ thuế theo cách hiểu đơn giản nhất là mức độ người nộp thuế chấp hành nghĩa vụ thuế được quy định trong luật thuế”.
Theo quan điểm (Singh và cộng sự, 2003) được trích trong bài (Nguyễn Bá Hoàng, 2017) cho rằng ‘tuân thủ thuế là hành động của một người nộp tờ khai thuế, công khai chính xác tất cả các khoản thu nhập chịu thuế và thanh toán tất cả các khoản thuế phải nộp trong thời hạn quy định mà không phải chờ đợi hành động của cơ quan thuế. Trên cơ sở đó, tuân thủ thuế được tách biệt thành 2 quan điểm: tuân thủ quan điểm về quản lý hành chính và tuân thủ theo quan điểm hoàn thành chính xác tờ khai thuế. Tuân thủ theo quan điểm quản lý hành chính bao gồm đăng ký và thông báo với cơ quan thuế tình trạng của người nộp thuế, nộp tờ khai thuế mỗi năm (nếu cần) và tuân thủ khuôn khổ về thời gian thanh toán theo yêu cầu. Nghĩa là, tuân thủ thuế đòi hỏi người nộp thuế phải đạt được một mức độ trung thực nhất định, có kiến thức thuế đầy đủ và khả năng sử dụng kiến thức này để hoàn thành tờ khai thuế và các hồ sơ có liên quan kịp thời, chínhxác và đầy đủ.
Cho rằng tuân thủ thuế trở thành một vấn đề chủ yếu trong hệ thống tự khai thuế bởi vì tổng số tiền thuế phải nộp phụ thuộc rất nhiều vào mức độ tuân thủ của người nộp thuế mặc dù không thể tránh khỏi việc cơ quan thuế sẽ tìm kiếm thông tin từ những người nộp thuế khác trong khu vực để giảm thiểu rủi ro xảy ra các trường hợp không tuân thủ, hoặc họ sẽ thường xuyên thực hiện việc kiểm tra nhiều loại thuế khác nhau và bằng những hình thức khác chẳng hạn giáo dục kiến thức thuế nhằm tạo ra những tác động nhất định đến việc tuân thủ thuế của người nộp thuế’. Tác giả (Nguyễn Thị Lệ Thúy, 2009) cho rằng “Sự tuân thủ thuế của doanh nghiệp là hành vi chấp hành nghĩa vụ thuế theo đúng mục đích của luật một cách đầy đủ, tự nguyện và đúng thời gian”. Tác giả (Bùi Ngọc Toản, 2017) cho rằng ‘Tuân thủ là việc chấp hành nghĩa vụ của người nộp thuế theo đúng luật định, bao gồm các hoạt động đăng ký, kê khai, báo cáo, nộp thuế. Bất kỳ sự vi phạm nào xuất hiện ở một trong các khâu trên đều dẫn đến sự không tuân thủ ở các mức độ khác nhau’.
11 Tác giả (Nguyễn Thị Thanh Hoài và các thành viên, 2011) cho rằng ‘Tuân thủ thuế là việc chấp hành nghĩa vụ của người nộp thuế theo đúng luật định, bao gồm các hoạt động đăng ký thuế, kê khai thuế, báo cáo, nộp thuế. Bất kỳ sự vi phạm nào xuất hiện ở một trong khâu trên đều dẫn đến sự không tuân thủ ở các mức độ khác nhau. Luật Quản lý thuế quy định về những hành vi vi phạm pháp luật về thuế của người nộp thuế như: Khai gian, trốn thuế dẫn đến làm sai lệch về nghĩa vụ thuế, làm giảm số thuế phải nộp và làm tăng số thuế được hoàn. Hành vi tuân thủ thuế là việc thực hiện tính đầy đủ, kịp thời nghĩa vụ thuế đối với Nhà nước, cơ quan thuế thực hiện chức năng kiểm tra, kiểm soát việc chấp hành nghĩa vụ thuế để kịp thời phát hiện và ngăn chặn hành vi trốn thuế, khuyến khích các doanh nghiệp tuân thủ thuế theo quy định một cách tự nguyện, xem nộp thuế là nghĩa vụ và quyền lợi của mình đối với Nhà nước và cộng đồng xã hội.2 Khái niệm hành vi không tuân thủ thuế Theo quan điểm (Richard M.
Bird và Oliver Oldman,1990, Cải thiện sự tuân thủ thuế, chương trình giảng dạy kinh tế Fulbright, niên khóa 2005-2006) cho rằng “Trốn thuế không chỉ là vấn đề hạn chế trong một số ít quốc gia kém phát triển. Bất kỳ nơi nào có thuế, nơi ấy có tình trạng trốn thuế. Không tuân thủ thuế gồm không chủ ý và chủ ý (tránh thuế và trốn thuế). Không chủ ý có thể do không hiểu rõ chính sách pháp luật thuế hoặc không cẩn thận thực hiện không đúng các quy định về thuế.
Cố ý không tuân thủ thuế thường là lợi dụng kẽ hở của pháp luật thuế để tránh thuế và mức độ cao hơn là trốn thuế”. Sự khác biệt giữa trốn thuế và tránh thuế dựa trên tính hợp pháp về hành động của người nộp thuế. Trốn thuế là một hành vi vi phạm pháp luật: Khi người nộp thuế cố tránh báo cáo thu nhập từ lao động, vốn, người nộp thuế tham gia vào một hoạt động bất hợp pháp mà làm cho người nộp thuế chịu trách nhiệm hành chính hoặc pháp lý từ các cơ quan có thẩm quyền. Trong trốn thuế, người nộp thuế lo ngại về khả năng hành động của mình bị phát hiện.
Tránh thuế trong khuôn khổ pháp lý của pháp luật về thuế. Nó bao gồm khai thác những sơ hở trong pháp luật về thuế để giảm nghĩa vụ thuế, chuyển đổi thành thu nhập ở mức thấp hơn. Khi tránh thuế, người nộp thuế không có lý do để lo lắng về việc bị 12 phát hiện. Ngược lại, thường là bắt buộc rằng NNT làm một báo cáo chi tiết về giao dịch để đảm bảo rằng người nộp thuế sẽ giảm số thuế mong muốn.