Chương 1: Tổng quan các nghiên cứu có liên quan Chương 2: Cơ sở lý thuyết Chương 3: Phương pháp nghiên cứu Chương 4: Kết quả nghiên cứu và bàn luận Chương 5: Kết luận và gợi ý chính sách. 123doc 5 CHƢƠNG 1: TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU CÓ LIÊN QUAN Với mục tiêu là nghiên cứu ảnh hưởng của cơ cấu sở hữu đến hành vi QTLN của các công ty niêm yết trên sàn giao dịch chứng khoán TP Hồ Chí Minh, từ đó góp phần giúp cho các công ty niêm yết nâng cao chất lượng BCTC, phục vụ tốt cho các đối tượng sử dụng thông tin kế toán, đồng thời giúp cho các nhà đầu tư có sở sở để đánh giá chất lượng BCTC của công ty từ đó đưa ra các quyết định phù hợp. Liên quan đến vấn đề này đã có nhiều học giả trong và ngoài nước đề cập trong các nghiên cứu của mình. Dưới đây tác giả tiến hành lược khảo một số nghiên cứu đã công bố ở Việt Nam cũng như ở một số nước trên thế giới.
Các nghiên cứu công bố ở nƣớc ngoài Nghiên cứu của Park & Shin (2004): “Board composition and earnings management in Canada” về ảnh hưởng của thành phần HĐQT đến QTLN đã sử dụng mô hình của Dechow và cộng sự (1995) – Modified Jones để đo lường biến kế toán dồn tích với một mẫu gồm 539 quan sát tại các công ty Canada giai đoạn 1991 – 1997. Tác giả nhận thấy lợi nhuận được quản lý theo chiều hướng tăng lên nhằm tránh sự tổn thất trên báo cáo và lợi nhuận bị tụt giảm. Kết quả nghiên cứu cho thấy sự hiện diện của thành viên HĐQT đến từ các trung gian tài chính và sự hiện diện của cổ đông là tổ chức thì làm giảm hành vi QTLN. Đồng thời, nghiên cứu còn cho thấy tăng tỷ lệ thành viên HĐQT bên ngoài làm tăng hành vi QTLN, trái ngược với quan điểm cho rằng tăng tỷ lệ thành viên HĐQT bên ngoài sẽ giúp HĐQT tăng tính độc lập, giải quyết xung đột lợi ích giữa cổ đông nhỏ và cổ đông lớn.
Nghiên cứu của Ali và cộng sự (2008): “Ownership structure and earnings management in Malaysian listed companies: the size effect”. Mẫu nghiên cứu được sử dụng bao gồm 1001 công ty niêm yết ở Malaysia cho cả 2 năm 2002 và 2003 sau khi đã loại bỏ những công ty thuộc ngành tài chính và những công ty không có đầy đủ dữ liệu. Nghiên cứu này đã xem xét mối liên hệ giữa mức độ sở hữu quản lý đến hành vi QTLN, đại diện bởi độ lớn của biến kế toán dồn tích có thể điều chỉnh theo mô hình của Jones (1991). Kết quả cho thấy rằng, mức độ sở hữu của nhà quản lý 123doc 6 có thể hạn chế hành vi QTLN.
Đồng thời, nghiên cứu cũng chỉ ra có một mối quan hệ cùng chiều giữa quy mô công ty đến mối quan hệ giữa quyền sở hữu của nhà quản lý và hành vi điều chỉnh lợi nhuận. Mặc dù sở hữu của nhà quản lý có thể làm giảm các hành vi QTLN, các yếu tố khác như quy mô doanh nghiệp cũng có thể ảnh hưởng đến hành vi này. Sở hữu của nhà quản lý là một cơ chế giám sát hiệu quả, đặc biệt là trong các doanh nghiệp nhỏ, do đó quyền sở hữu của nhà quản lý cần được khuyến khích trong các doanh nghiệp nhỏ để nó có thể thay thế cho sự yếu kém của cơ chế quản trị công ty khác. Nghiên cứu của Kim & Yoon (2008): “The impact of corporate governance on earnings management in Korea” đã điều tra các yếu tố quản trị công ty có ảnh hưởng làm giảm hành vi QTLN của các công ty niêm yết trên TTCK Hàn Quốc trong năm 2004 và 2005.
Mức độ QTLN được đo bằng khoản kế toán dồn tích có điều chỉnh và tổng dồn tích theo mô hình Modified Jones (Dechow và cộng sự, 1995). Với kỹ thuật phân tích hồi quy để điều tra tác động của quản trị công ty đến QTLN, kết quả nghiên cứu cho thấy sự độc lập của HĐQT, tập trung quyền sở hữu, quyền sở hữu nước ngoài, tỷ lệ đòn bẩy và quy mô công ty ảnh hưởng đáng kể các khoản kế toán dồn tích có điều chỉnh và tổng dồn tích. Nghiên cứu của Jang và cộng sự (2009): “The Effect of Board Structure and Institutional Ownership Structure on Earnings Management” xem xét vai trò của giám đốc bên ngoài và cổ đông tổ chức trong việc hạn chế các hoạt động QTLN. Mẫu sử dụng gồm 613 công ty niêm yết ở Malaysia trong các lĩnh vực xây dựng, sản phẩm công nghiệp và sản phẩm tiêu dùng, giai đoạn từ năm 2001 đến năm 2003.
Mô hình Modified Jones (Dechow và cộng sự, 1995) được sử dụng để nhận diện hành vi QTLN. Kết quả nghiên cứu nhân thấy mức độ QTLN của các công ty niêm yết của Malaysia là khoảng 16% tổng tài sản năm trước và hầu hết các công ty QTLN tăng lên chứ không giảm xuống. Đồng thời, kết quả nghiên cứu không có bằng chứng chứng minh mối quan hệ giữa độ lớn QTLN với tỷ lệ giám đốc bên ngoài và cổ đông tổ chức. Lý giải cho kết quả này, Jang, Chun & Ramadili lập luận rằng, giám đốc bên ngoài có thể thiếu chuyên môn về tài chính cần thiết để phát 123doc 7 hiện việc QTLN, do đó họ sẽ gặp khó khăn để đánh giá hoặc phân tích thông tin nhất định, đồng thời, giám đốc bên ngoài tại Malaysia có thể không hoàn toàn độc lập trong HĐQT.
Nguyên nhân khác nữa làm cho giám đốc bên ngoài và cổ đông tổ chức không có khả năng hạn chế các hành vi QTLN nếu quyền sở hữu của một công ty là tập trung cao và quá trình lựa chọn giám đốc bên ngoài không được nêu rõ ràng và minh bạch. Nghiên cứu của Roodposhti & Chashmi (2011): “The impact of corporate governance mechanisms on earnings management” đã xem xét ảnh hưởng của cơ chế quản trị công ty (bao gồm tập trung quyền sở hữu, HĐQT độc lập, kiêm nhiệm hai chức danh Giám đốc điều hành và Chủ tịch HĐQT và cổ đông tổ chức) đến QTLN. Quy mô công ty và đòn bẩy tài chính là các biến kiểm soát trong mô hình. Mẫu được sử dụng trong nghiên cứu này bao gồm 196 công ty niêm yết trên sàn chứng khoán Tehran (TSE) từ năm 2004 đến 2008.
Kết quả nghiên cứu cho thấy, giữa tập trung quyền sở hữu, HĐQT độc lập và kiêm nhiệm hai chức danh Giám đốc điều hành và Chủ tịch HĐQT với QTLN có tác động ngược chiều, trong khi các công ty có CP thuộc sở hữu của tổ chức cao thì QTLN nhiều hơn. Đồng thời, nghiên cứu cũng tìm thấy một quan hệ cùng chiều giữa các biến kiểm soát (quy mô công ty và đòn bẩy tài chính) và QTLN. Nghiên cứu của Wang & Yung (2011): “Do state enterprises manage earnings more than privately owned firms? The case of China” điều tra tác động của sở hữu nhà nước đến QTLN của các công ty niêm yết ở Trung Quốc. Mẫu nghiên cứu gồm 557 công ty niêm yết trên TTCK Thượng Hải và TTCK Thâm Quyến trong khoản thời gian 9 năm từ 1998 đến 2006 và được chia thành 2 nhóm: doanh nghiệp nhà nước và doanh nghiệp tư nhân.
Kết quả nghiên cứu cho thấy mức độ dồn tích của QTLN của các doanh nghiệp nhà nước thấp hơn so với doanh nghiệp tư nhân, điều này trái ngược với dự đoán trong giả thuyết của tác giả cũng như sự tin tưởng của đa số rằng sở hữu nhà nước là gốc rễ của tất cả sự kém hiệu quả trong doanh nghiệp. Giải thích cho kết quả này, Wang & Yung cho rằng việc 123doc 8 bảo vệ các doanh nghiệp nhà nước của chính phủ đóng vai trò quan trọng trong việc giảm thiểu áp lực lên các nhà quản lý để thao tác thông tin. Nghiên cứu của Klai & Omri (2011): “Corporate Governance and Financial Reporting Quality: The case of Tunisian firms” sử dụng mẫu gồm 22 công ty niêm yết trên sàn chứng khoán Tunis trong giai đoạn 1997-2007 của Tunisia để xem xét tác động của cơ chế quản lý đến chất lượng BCTC. Cụ thể, nghiên cứu tập trung vào các đặc điểm của BGĐ và cơ cấu sở hữu tác động đến hành vi QTLN, từ đó ảnh hưởng đến chất lượng BCTC.
Kết quả cho thấy rằng các cơ chế quản trị đặc trưng bởi sự thiếu tính độc lập của BGĐ và mức độ tập trung quyền sở hữu ảnh hưởng đến hành vi QTLN của các công ty Tunisia. Đặc biệt, kiểm soát bởi nước ngoài, các gia đình và tập trung quyền sở hữu làm tăng mức độ QTLN, đo đó làm giảm chất lượng BCTC, trong khi sự kiểm soát của nhà nước và các tổ chức tài chính hạn chế hành vi QTLN, cải thiện chất lượng BCTC. Ngoài ra, ba biến kiểm soát gồm quy mô công ty và cơ hội phát triển ảnh hưởng giảm, và đòn bẩy tài chính cũng có tác động hạn chế hành vi QTLN. Nghiên cứu của Shaikh và cộng sự (2012): “Institutional Ownership and Discretionary Accruals: Empirical Evidences from Pakistani Listed Non-Financial Companies” điều tra tác động của sở hữu tổ chức đến biến kế toán dồn tích có điều chỉnh của các công ty niêm yết tại Pakistan.
Mô hình Jones (1991) được sử dụng để xác định khoản dồn tích có điều chỉnh, trong khi sở hữu của tổ chức đo bằng cách chia số lượng cổ phiếu nắm giữ bởi các tổ chức từ tổng số cổ phiếu đang lưu hành. Sau khi phân tích thực nghiệm với một kích thước mẫu gồm 68 công ty phi tài chính được niêm yết trên sàn chứng khoán Karachi (KSE) của Pakistan trong thời gian 5 năm, bắt đầu từ năm 2006 đến năm 2010, nghiên cứu kết luận rằng sở hữu của tổ chức có tác động ngược chiều đối với các khoản dồn tích có điều chỉnh. Điều này cho thấy, các công ty ở Pakistan đang ý thức hơn về quản trị công ty và chủ sở hữu là tổ chức như là một trung gian quan trọng để cải thiện hoạt động quản trị công ty, giám sát gây khó khăn trong việc quản lý thay đổi thu nhập cho bất kỳ mục đích mong muốn. 123doc 9 Nghiên cứu của Alves Sandra (2012): “Ownership structure and Earning management: Evidence from Portugal” với mẫu gồm 34 công ty niêm yết trên sàn Euronext Lisbon của Bồ Đào Nha giai đoạn 2002-2007, nghiên cứu đã kiểm tra tác động của cơ cấu sở hữu của một công ty (được đo bằng ba biến: sở hữu của nhà quản lý, mức độ tập trung quyền sở hữu và sở hữu của tổ chức) đến hành vi QTLN của một công ty.
Các kết quả thực nghiệm cho thấy rằng hành vi QTLN của các công ty niêm yết Bồ Đào Nha đều bị ảnh hưởng bởi cơ cấu sở hữu.