Luận văn: Ảnh hưởng bột lá chè đại đến năng suất, chất lượng thịt gà Mía lai Thái Nguyên

Luận văn đánh giá ảnh hưởng bột lá chè đại (Trichanthera gigantea) đến năng suất, chất lượng thịt gà Mía lai Lương Phượng tại Thái Nguyên.

Chuyên ngành

Chăn nuôi

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn Thạc sĩ

2020

66
1
0

Phí lưu trữ

30 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan về bột lá chè đại trong chăn nuôi gà Mía lai

Bột lá chè đại có nguồn gốc từ cây Trichanthera gigantea. Cây này thuộc họ Acanthaceae, phân bố rộng rãi ở vùng nhiệt đới. Lá chè đại chứa hàm lượng protein cao, khoảng 18-24% chất khô. Ngoài ra, lá còn cung cấp các vitamin và khoáng chất thiết yếu cho vật nuôi. Bột lá chè đại còn chứa sắc tố tự nhiên, tác động tích cực đến màu sắc sản phẩm chăn nuôi. Gà Mía lai Lương Phương là giống gà thịt phổ biến tại Việt Nam. Giống này có tốc độ tăng trưởng nhanh. Khả năng thích nghi với điều kiện chăn nuôi địa phương rất tốt. Bột lá chè đại được sử dụng làm phụ gia thức ăn gia cầm. Mục đích nhằm thay thế một phần thức ăn công nghiệp. Phương pháp này giúp giảm chi phí sản xuất hiệu quả. Đồng thời cải thiện chất lượng sản phẩm chăn nuôi. Các nghiên cứu tại Đại học Thái Nguyên đã chứng minh hiệu quả của việc bổ sung bột chè đại. Năng suất và chất lượng thịt gà Mía lai được cải thiện rõ rệt. Đây là hướng đi mới trong phát triển chăn nuôi bền vững tại Việt Nam.

1.1. Đặc điểm sinh học và thành phần dinh dưỡng cây chè đại

Cây chè đại (Trichanthera gigantea) là cây bụi lớn, cao 2-5 mét. Cây phân bố chủ yếu ở vùng nhiệt đới Nam Mỹ và Đông Nam Á. Lá chè đại có hình bầu dục, kích thước lớn. Thành phần dinh dưỡng của lá rất phong phú. Hàm lượng protein thô chiếm 18-24% chất khô. Lá chứa nhiều carotenoid, xanthophyll và các sắc tố tự nhiên. Các chất này có vai trò quan trọng trong việc tạo màu sắc cho sản phẩm chăn nuôi. Ngoài ra, lá còn cung cấp canxi, phốt pho và các nguyên tố vi lượng. Chất kháng dinh dưỡng trong lá ở mức thấp, an toàn cho vật nuôi. Quy trình chế biến bột lá đơn giản, bao gồm phơi khô và xay nghiền.

1.2. Giới thiệu giống gà Mía lai Lương Phương trong chăn nuôi

Gà Mía lai Lương Phương là kết quả lai tạo giữa gà Mía và gà Lương Phương. Giống gà này được nghiên cứu và phát triển tại Việt Nam. Đặc điểm nổi bật là tốc độ tăng trưởng nhanh. Gà đạt trọng lượng thị trường trong thời gian ngắn. Thịt gà có chất lượng cao, săn chắc và thơm ngon. Khả năng thích nghi với điều kiện chăn nuôi nông hộ rất tốt. Gà Mía lai chịu được khí hậu nóng ẩm vùng nhiệt đới. Hệ số chuyển hóa thức ăn ở mức hợp lý. Giống gà này phù hợp với mô hình chăn nuôi quy mô vừa và nhỏ. Người chăn nuôi có thể tận dụng nguyên liệu địa phương để giảm chi phí.

II. Phân tích ảnh hưởng của bột chè đại đến năng suất gà Mía lai

Nghiên cứu được thực hiện với bốn nhóm thử nghiệm khác nhau. Nhóm đối chứng không bổ sung bột chè đại. Nhóm TN1 bổ sung 2% bột chè đại. Nhóm TN2 bổ sung 4% bột chè đại. Nhóm TN3 bổ sung 6% bột chè đại vào khẩu phần ăn. Kết quả cho thấy sự khác biệt rõ ràng giữa các nhóm. Ở giai đoạn 4-5 tuần tuổi, hệ số chuyển hóa thức ăn tương đương nhau. Tất cả các nhóm đều đạt khoảng 1,77 kg thức ăn/kg tăng khối lượng. Tuy nhiên, từ tuần thứ 7 trở đi, sự khác biệt bắt đầu显现 rõ. Nhóm TN2 cho kết quả vượt trội nhất. Hệ số chuyển hóa thức ăn ở tuần 12 của TN2 là 3,04 kg/kg. Con số này thấp hơn đáng kể so với nhóm đối chứng 3,14 kg/kg. Nhóm TN1 đạt 3,09 kg/kg, cũng tốt hơn đối chứng. Nhóm TN3 với 6% bột chè đại lại cho kết quả không cải thiện, đạt 3,15 kg/kg. Điều này chứng tỏ tỷ lệ bổ sung quá cao không mang lại hiệu quả tích cực.

2.1. Ảnh hưởng đến tốc độ tăng trưởng khối lượng gà Mía lai

Tốc độ tăng trưởng khối lượng của gà Mía lai chịu ảnh hưởng trực tiếp từ khẩu phần ăn. Bổ sung bột chè đại ở tỷ lệ phù hợp giúp cải thiện tăng trưởng. Giai đoạn 4-5 tuần tuổi, sự khác biệt giữa các nhóm chưa rõ ràng. Gà ở các nhóm thử nghiệm đều tăng trưởng ổn định. Từ tuần thứ 6 đến tuần thứ 8, tốc độ tăng trưởng bắt đầu phân hóa. Nhóm TN2 (4% bột chè đại) cho tốc độ tăng trưởng cao nhất. Khối lượng gà đạt mức tối ưu so với các nhóm khác. Giai đoạn 9-12 tuần tuổi, ưu thế của nhóm TN2 được duy trì. Tốc độ tăng trưởng của nhóm TN3 (6%) không vượt trội so với đối chứng.

2.2. Hệ số chuyển hóa thức ăn ở gà Mía lai bổ sung bột chè đại

Hệ số chuyển hóa thức ăn là chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng thức ăn. Chỉ tiêu này tính bằng kg thức ăn tiêu thụ trên mỗi kg tăng khối lượng. Kết quả nghiên cứu cho thấy nhóm TN2 có hệ số chuyển hóa tốt nhất. Tính chung giai đoạn 4-12 tuần, TN2 đạt 3,04 kg/kg. Nhóm TN1 đạt 3,09 kg/kg, giảm 1,59% so với đối chứng. Nhóm TN2 giảm 3,18% so với mức 3,14 kg/kg của đối chứng. Nhóm TN3 đạt 3,15 kg/kg, cao hơn đối chứng 0,31%. Sai khác có ý nghĩa thống kê (P<0,05) được ghi nhận ở tuần 7 và tuần 11-12. Kết quả证实 tỷ lệ bổ sung 4% là tối ưu cho hệ số chuyển hóa thức ăn.

III. Phương pháp bổ sung bột chè đại vào thức ăn gà Mía lai

Việc bổ sung bột chè đại cần tuân thủ quy trình khoa học. Tỷ lệ bổ sung quyết định hiệu quả cuối cùng. Nghiên cứu chỉ ra rằng 4% là tỷ lệ tối ưu cho gà Mía lai Lương Phương. Bột chè đại được chế biến từ lá tươi của cây Trichanthera gigantea. Quy trình bao gồm thu hái lá, phơi khô và xay nghiền thành bột. Kích thước hạt bột ảnh hưởng đến khả năng tiêu hóa của gà. Thức ăn viên là dạng phổ biến trong chăn nuôi gà thịt. Chất lượng viên thức ăn tác động trực tiếp đến lượng thức ăn thu nhận. Mùi vị thức ăn cũng đóng vai trò quan trọng trong việc kích thích ăn uống. Gà có phản ứng nhất định đối với mùi vị thức ăn mới. Nước uống liên quan chặt chẽ đến lượng thức ăn ăn vào hàng ngày. Độc tố nấm mốc cần được kiểm soát nghiêm ngặt trong quá trình bảo quản. Sự cân bằng các axit amin ảnh hưởng đến lượng thức ăn tiêu thụ. Việc thiếu hụt sắc tố từ thức ăn làm giảm chất lượng sản phẩm cuối cùng.

3.1. Quy trình chế biến và bảo quản bột lá chè đại

Quy trình chế biến bột lá chè đại gồm nhiều bước. Bước đầu tiên là thu hái lá non và bánh tẻ. Lá tươi được rửa sạch để loại bỏ bụi bẩn. Tiếp theo, lá được phơi khô dưới nắng hoặc sấy ở nhiệt độ thấp. Nhiệt độ sấy không nên vượt quá 60°C để giữ nguyên dinh dưỡng. Sau khi khô, lá được xay nghiền thành bột mịn. Kích thước hạt bột nên nhỏ hơn 1mm. Bột thành phẩm được đóng gói kín, bảo quản nơi khô ráo. Tránh ánh sáng trực tiếp để防止 phân hủy sắc tố carotenoid. Thời gian bảo quản tối ưu là 3-6 tháng. Kiểm tra chất lượng bột định kỳ trước khi sử dụng.

3.2. Cách phối trộn bột chè đại vào khẩu phần gà Mía lai

Bột chè đại được phối trộn trực tiếp vào thức ăn hỗn hợp. Tỷ lệ 4% tính trên tổng khối lượng thức ăn. Quy trình phối trộn cần đảm bảo均匀分布 trong toàn bộ khẩu phần. Sử dụng máy trộn thức ăn để đạt độ đồng đều cao nhất. Thức ăn sau khi trộn được ép viên để tăng chất lượng. Chất lượng viên thức ăn ảnh hưởng đến lượng thức ăn gà thu nhận. Viên thức ăn đạt tiêu chuẩn có độ cứng và kích thước phù hợp. Kiểm tra mùi vị thức ăn sau khi phối trộn. Gà thường phản ứng tốt với thức ăn có mùi hấp dẫn. Đảm bảo thức ăn không bị ẩm mốc trong quá trình sử dụng. Thay đổi khẩu phần dần dần để gà适应 với thức ăn mới.

IV. Kết luận và ứng dụng thực tiễn của bột chè đại trong chăn nuôi

Nghiên cứu đã xác nhận hiệu quả của bột lá chè đại trong chăn nuôi gà Mía lai. Tỷ lệ bổ sung 4% cho kết quả vượt trội nhất. Hệ số chuyển hóa thức ăn cải thiện đáng kể so với đối chứng. Tiêu tốn thức ăn cho mỗi kg tăng khối lượng giảm 3,18%. Chất lượng thịt gà được nâng cao rõ rệt. Màu sắc thịt trở nên hấp dẫn hơn nhờ sắc tố carotenoid tự nhiên. Hàm lượng dinh dưỡng trong thịt tăng lên đáng kể. Hiệu quả kinh tế được cải thiện rõ ràng cho người chăn nuôi. Chi phí thức ăn giảm mà năng suất vẫn đảm bảo. Bột chè đại là nguồn nguyên liệu sẵn có tại địa phương. Việc sử dụng nguyên liệu này giúp giảm phụ thuộc vào thức ăn nhập khẩu. Mô hình này phù hợp với quy mô chăn nuôi hộ gia đình. Cần tiếp tục nghiên cứu để tối ưu hóa quy trình sản xuất. Áp dụng rộng rãi sẽ mang lại lợi ích kinh tế xã hội to lớn. Phát triển bền vững ngành chăn nuôi gà tại Việt Nam.

4.1. Hiệu quả kinh tế khi sử dụng bột chè đại cho gà Mía lai

Hiệu quả kinh tế là yếu tố quyết định sự thành công của mô hình chăn nuôi. Sử dụng bột chè đại giúp giảm đáng kể chi phí thức ăn. Với tỷ lệ 4% bột chè đại, hệ số chuyển hóa thức ăn giảm 3,18%. Điều này意味着 mỗi kg gà tăng trọng tiêu tốn ít thức ăn hơn. Chi phí nguyên liệu bột chè đại thấp hơn thức ăn công nghiệp. Nguồn nguyên liệu sẵn có tại địa phương, giảm chi phí vận chuyển. Giá trị gia tăng từ chất lượng thịt cao hơn cũng cần được tính đến. Mô hình này phù hợp với điều kiện kinh tế nông thôn. Người chăn nuôi có thể tăng thu nhập mà không cần đầu tư lớn.

4.2. Hướng phát triển và ứng dụng rộng rãi bột chè đại

Bột chè đại có tiềm năng ứng dụng rộng rãi trong ngành chăn nuôi. Ngoài gà Mía lai, có thể nghiên cứu trên các đối tượng khác. Gà đẻ trứng, vịt, ngan và các loài gia cầm khác. Cần xây dựng quy trình sản xuất bột chè đại công nghiệp hóa. Đảm bảo chất lượng đồng đều và ổn định. Nghiên cứu thêm về ảnh hưởng của bột chè đại đến chất lượng trứng. Phát triển vùng nguyên liệu tập trung để cung cấp đủ lượng. Đào tạo kỹ thuật cho người chăn nuôi về cách sử dụng hiệu quả. Kết hợp với các chương trình khuyến nông địa phương. Mục tiêu là nhân rộng mô hình trên toàn quốc.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI từ nội dung tài liệu gốc; tài liệu do người dùng đóng góp và được kiểm duyệt trước khi xuất bản. Báo lỗi nội dung.

18/04/2026
Luận văn thạc sĩ ảnh hưởng của khẩu phần ăn bổ sung bột lá chè đại trichanthera gigantea đến năng suất chất lượng thịt của gà mía lai lương phượng tại thái nguyên

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Cơ sở khoa học của đề tài 1. Phân loại thực vật, nguồn gốc và đặc điểm thực vật học của cây chè đại (Trichanthera gigantea) 1. Nguồn gốc Cây chè đại (Trichanthera gigantea) thuộc họ Acanthaceae, họ phụ Acanthoideae, bộ Trichanthereae, loài Trichanthera gigantea, tên khoa học là Trichanthera gigantea có nguồn gốc ở chân đồi Andean của Colombia, nhưng cũng được tìm thấy ở dọc bờ sông và khu vực đầm lầy từ Costa Rica đến miền Bắc nước Mỹ và các rừng mưa từ Trung Mỹ đến Peru và lưu vực Amazon, vùng đồng cỏ trên các đảo ở vùng cửa sông Amazon.

Mutis là người đầu tiên mô tả về cây (Trichanthera gigantea). Vào năm 1801, Humboldt và Bonpland cho rằng cây này là một loài trong giống Ruellia và được phân lớp Ruellia gigantea (tất cả các loài thuộc giống Ruellia đều là cây thân thảo) trích theo Văn Thị Ái Nguyên (2017). Chè đại (Trichanthera gigantea) được mô tả lần đầu với tên gọi Ruellia gigantean 1. Đặc điểm thực vật học của cây (Trichanthera gigantea) Theo mô tả của Leonard (1951) cây (Trichanthera gigantea) là cây thân bụi hoặc có cây cao đến 5 m.

Cây có tán tròn, nhánh bậc 2, lá hình cánh quạt dài đến 26 cm và rộng 14 cm thuôn nhọn về chót lá, bản hẹp, cuống lá dài 1-5 4 cm, hoa nở theo chu kỳ. Mỗi quả của cây (Trichanthera gigantea) có 35-40 hạt, có 1.123 quả/kg và 4. Tuy nhiên do hạt cây thường khó hoặc hiếm khi nảy mầm, tỷ lệ trồng bằng hạt chỉ đạt 0-2% (CIPAV, 1996) nên người ta thường chọn cách nhân giống bằng hom. Theo McDade (1983) nguyên nhân là do cây không tự thụ phấn khi nhụy hoa không có hạt phấn.

Rễ là một trong những bộ phận giúp cây (Trichanthera gigantea) có thể nhân giống, phần thân trưởng thành tại vị trí gần đất sẽ hình thành rễ, các rễ này khi tiếp xúc với đất sẽ hình thành cây mới (Gomez và Murgueitio, 1991) (Từ Quang Hiển và cs (2002). Bên cạnh rễ, người ta còn dùng hom để nhân giống cây Trichanthera gigantea. Khi sử dụng các đoạn hom có đường kính 4 cm, dài 50 cm để nhân giống thì tỷ lệ nảy mầm có thể đạt 95% (Acero, 1985). Nhưng khi sử dụng các đoạn hom có đường kính lớn hơn (3,2-3,8 cm) và chiều dài ngắn hơn (20-30 cm) để nhân giống thì tỉ lệ mọc mầm có thể sẽ thấp hơn 50% (Jaramillo và River, 1991).

Thích nghi sinh thái Cây Trichanthera gigantea có khoảng thích nghi sinh thái rộng thích nghi tốt với khí hậu nhiệt đới ẩm và lượng mưa hàng năm từ 1.800 mm (Acero, 1985; Jaramillo và Corredor, 1989), nhưng nơi có lượng mưa hàng năm khoảng từ 5. Cây phát triển tốt trên đất khô kém màu mỡ và có tính acid (pH là 4,5) nhưng cần phải thoát nước tốt (Acero, 1985). Ở Việt Nam cây Trichanthera gigantea cho thấy khả năng phát triển tốt ở nơi có khí hậu nóng ẩm của miền Bắc hay ở Miền Trung với lượng mưa hàng năm 3.415 mm, nhiệt độ 21-290C, ẩm độ 79-91% (Nguyen Xuan Ba and Le Duc Ngoan, 2003) và thích hợp cả với Miền Nam với lượng mưa hàng năm 1.700 mm, nhiệt độ trung bình 26-280C và ẩm độ 78- 88%. Thành phần hóa học và giá trị dinh dưỡng của cây chè đại (Trichanthera gigantea) Theo Preston (1992) cây Trichanthera gigantea là một trong số những cây đa mục tiêu (multi-purpose tree) được trồng vì nhiều mục tiêu hữu dụng cho con người như: cung cấp nguồn protein cho động vật, chống xói mòn, kho chứa nguồn carbon dioxide (mà đại diện là sinh khối) và methane (sinh ra do tiến trình phân hủy lá rụng trong đất).

Trong khuôn khổ nghiên cứu chúng tôi chủ yếu đề cập và kỳ vọng ở mục tiêu cung cấp nguồn đạm cho vật nuôi. gigantea có hàm lượng đạm 15-22% phần lớn là đạm thô hữu dụng (Rosales, 1997) và hàm lượng canxi đặc biệt cao hơn so với các loại cây thức ăn khác (Rosales và Galino, 1987). Điều này được cho là do có sự hiện diện của cystoliths trong lá, đặc trưng của họ Acanthaceae. Chất cystoliths là các khối khoáng nhỏ (small mineral concretions) xuất hiện bên trong những đường nhỏ nằm ở bề mặt trên của lá, phần bên trên của cọng, trên nhánh của phát hoa và trên đài hoa (trích dẫn của Nguyễn Thị Hồng Nhân và Huỳnh Thị Ngọc Trinh, 2012).

Nguyen Xuan Ba và Le Duc Ngoan (2003) cho biết: tùy thuộc vị trí địa lý, đất đai và khí hậu mà thành phần hóa học cây Trichanthera gigantea có sự biến động. Tại miền Bắc Việt Nam lá cây chè đại có hàm lượng DM: 12,8 - 16,5%; CP: 11,8 - 15,4%, miền Trung hàm lượng DM: 14%; CP: 12,4% và miền Nam có hàm lượng DM và CP cao nhất 16,41% và 21,66%. Từ đó cho thấy điều kiện khí hậu đã có tác động tích cực đến hàm lượng DM và CP tích lũy lại trong lá cây T. Năng suất chất xanh và giá trị sử dụng của cây chè đại Cây Trichanthera gigantea rất phù hợp với đất và khí hậu, thời tiết vùng Tây Nguyên.

Kết quả nghiên cứu Viện Khoa học kỹ thuật Nông lâm nghiệp Tây Nguyên cho thấy Trichanthera gigantea trồng tại Đắc Lắc sinh trưởng và phát triển tốt, có khả năng chống chịu hạn trong điều kiện mùa khô không tưới 6 nước, năng suất sinh khối tương đối cao, từ 8 tấn - 13,5 tấn/ha/lứa cắt. Có thể trồng xen Trichanthera gigantea trong vườn cây ăn quả và vườn điều, tiêu, cao su,. cây vẫn sinh trưởng và phát triển tốt, đồng thời đây là loại cây thức ăn có thể chế biến phơi khô, ủ xanh làm thức ăn dự trữ cho gia súc. Theo phân tích tại Phòng Nông hóa thổ nhưỡng thì lá cây Trichanthera gigantea có tỷ lệ VCK: 21,29%, trong vật chất khô, tỷ lệ protein thô rất cao lên tới 21,66%, lipit thô: 6,92%, xơ thô: 25,42%.

Lá tươi và bột lá Trichanthera gigantea bổ sung vào khẩu phần của gia cầm, gia súc (bò sữa) đã góp phần giảm chi phí thức ăn nhưng không giảm năng suất, chất lượng sản phẩm thịt, trứng, sữa. gigantea có thể thay thế từ 15 - 30% thức ăn hỗn hợp (khoảng 3-6 kg lá tươi/con/ngày) trong khẩu phần bò vắt sữa giúp tăng lợi nhuận từ 5-10% do giảm chi phí thức ăn hỗn hợp trong khi năng suất, chất lượng sữa và khối lượng cơ thể của bò không bị giảm. Năng suất chất xanh của Trichanthera gigantea trồng bằng hom thân với mật độ hàng cách hàng 60cm, cây cách cây 60 cm, đạt từ 50 - 60 tấn/ha. Người ta thường thu hoạch 3 lần/năm, đợt đầu tiên thu hoạch sau trồng 6 tháng và năng suất đạt từ 18-20 tấn/ha, tái sinh đợt 1 thu hoạch sau đợt cắt đầu tiên là 3 tháng và năng suất đạt từ 17-18 tấn/ha, tái sinh đợt 2 thu hoạch sau đợt cắt 1 là 3 tháng và năng suất chỉ đạt từ 15-16 tấn/ha (Văn Thị Ái Nguyên, 2017) Trichanthera gigantea là loại cây trồng mới sử dụng làm thức ăn cho gia súc, được nhập vào Việt Nam năm 1990 từ nước Colombia, đây là loại cây thân bụi, lá to, năng suất khá cao, rất giàu protein, khoáng và vitamin.

Hiện nay, cây Trichanthera gigantea được trồng nhiều ở miền Tây Nam Bộ, Tây Nguyên và vùng núi phía Bắc nước ta để làm thức ăn cho gia súc, gia cầm, thỏ và cá. Kết quả cho thấy sử dụng loại cây này đã mang lại hiệu quả kinh tế rõ rệt trong chăn nuôi. 7 Cây Trichanthera gigantea có hàm lượng nước trong lá cao, từ 80-85% khi lá ở độ tuổi 30-45 ngày, vì vậy lá mềm mại nhưng lại khó phơi khô; tỷ lệ protein thô trong VCK của lá dao động từ 18-26% tùy thuộc vào tuổi của lá; trong protein hầu hết là protit, nitơ phi protit rất ít; tỷ lệ lipit thấp, khoảng 2-3% VCK; tỷ lệ xơ thô thấp, khoảng 10-18% VCK tùy theo tuổi của lá; tỷ lệ khoáng rất cao (20-25% VCK), hàm lượng canxi cao hơn rất nhiều so với các loại cây thức ăn khác, do đó có thể sử dụng bột lá T. gigantea như một nguồn cung cấp can xi cho vật nuôi.

Tỷ lệ protein và khoáng trong VCK của lá cao đã làm cho tỷ lệ dẫn xuất không chứa nitơ (DXKN) thấp hơn so với một số loại lá khác, nó dao động từ 30-40% VCK. Tỷ lệ lipit và DXKN trong VCK đều thấp dẫn đến năng lượng của bột lá thấp. Đây là điều cần lưu ý khi phối hợp bột lá vào khẩu phần ăn của vật nuôi; bổ sung thêm dầu, mỡ để bù đắp năng lượng thiếu hụt là yêu cầu bắt buộc khi bổ sung bột lá vào khẩu phần ăn của gia cầm. Bằng phương pháp tiêu hóa dạ cỏ để xác định tỷ lệ tiêu hoá đối với lá cây Trichanthera gigantea thấy rằng tỷ lệ phân giải chất khô là 77%.

Cây Trichanthera gigantea có thể thu hoạch lứa đầu vào lúc 4-6 tháng sau khi trồng, năng suất đạt 15,64 đến 16,74 tấn/ha (thân lá tươi) với mật độ trồng 40. Sản lượng sinh khối (lá tươi và thân) đạt trên 50 tấn/ha/năm; khi trồng với mật độ 17.690 cây/ha (khoảng cách 0,75m x 0,75m) và khoảng cách cắt (KCC) 1,5 - 3 tháng một lần, năng suất bình quân đạt 17 tấn/ha/lứa ở năm thứ 2 trở đi. Sản lượng sinh khối (lá tươi và thân) đạt trên dưới 100 tấn/ha/năm. gigantea có khả năng tái sinh mạnh mẽ, ngay cả trong điều kiện thu hoạch nhiều lần mà không cung cấp phân bón.

Điều này cho thấy quá trình tổng hợp nitơ có thể xảy ra ở phần rễ thông qua hoạt động của mycorrhiza hay những vi sinh vật khác. Chất kháng dinh dưỡng Nhân tố kháng dưỡng được định nghĩa là các cơ chất có trong thực liệu thức ăn sinh ra từ quá trình chuyển hóa tự nhiên của loài và một số cơ chế khác 8 (như: sự bất hoạt của một số dưỡng chất, làm giảm các tiến trình tiêu hóa hoặc hiệu quả chuyển hóa thức ăn) đưa đến những ảnh hưởng trái ngược với tiến trình hấp thu dinh dưỡng. Nhân tố kháng dinh dưỡng không phải là đặc tính nội tại của hợp chất mà tùy thuộc vào quá trình tiêu hóa của vật nuôi ăn chúng vào. Các nhân tố kháng trypsin (trypsin inhibitors) bị phân hủy trong dạ cỏ loài nhai lại nên những ảnh hưởng mà chúng gây ra chủ yếu được nhận thấy trên gia súc dạ dày đơn (Cheeke và Shull, 1985).

Các chất kháng dưỡng được tìm thấy trong các nguồn protein thực vật là: các acid amin độc, acid oxalic, glycosides, phytohemagglutinins, polyphenolics và triterpenes (Kumar, 1991). Theo Văn Thị Ái Nguyên (2017), trong thử nghiệm sơ bộ định tính các hợp chất kháng dưỡng (bằng các thử nghiệm sinh hóa sơ bộ) cho thấy không có các alkaloids và các tanins trong cây Trichanthera gigantea và hàm lượng saponin và steroid thì rất thấp. Trong thử nghiệm khác chính xác hơn cho thấy hàm lượng phenol tổng số là 450 ppm và steroids là 0,062%.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ