Tổng quan luận án
Quá trình tự do hóa thương mại toàn cầu diễn ra ngày càng sâu rộng đã dẫn đến việc dỡ bỏ dần các rào cản thuế quan truyền thống. Nhằm bảo hộ ngành sản xuất nội địa trước áp lực cạnh tranh từ hàng hóa nhập khẩu, các quốc gia có xu hướng gia tăng áp dụng các biện pháp phi thuế quan, đặc biệt sau cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới năm 2008. Các biện pháp phòng vệ thương mại (PVTM) gồm chống bán phá giá, chống trợ cấp và tự vệ là những công cụ chính sách được Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) thừa nhận, song phải tuân thủ quy trình điều tra nghiêm ngặt nhằm tránh việc lạm dụng như một công cụ bảo hộ mậu dịch trá hình. Khi phát sinh mâu thuẫn trong việc áp dụng các biện pháp này, các thành viên WTO có quyền đưa vụ việc ra Cơ quan giải quyết tranh chấp của WTO (Dispute Settlement Body – DSB).
Thực tiễn hoạt động của WTO cho thấy tranh chấp về PVTM là loại tranh chấp chiếm tỷ trọng lớn nhất, với 341 vụ trong tổng số 617 tranh chấp được khởi xướng tại tổ chức này (chiếm 55,3%). Đối với Việt Nam, sự gia tăng kim ngạch xuất khẩu sau khi gia nhập WTO đi kèm với nguy cơ đối mặt với các vụ kiện PVTM tại thị trường nước ngoài. Tính đến ngày 31/12/2023, hàng hóa xuất khẩu của Việt Nam đã bị điều tra tổng cộng 196 vụ về PVTM. Ở chiều ngược lại, Việt Nam đã khởi xướng điều tra 16 vụ chống bán phá giá, 6 vụ tự vệ, 01 vụ chống trợ cấp và 2 vụ chống lẩn tránh biện pháp PVTM đối với hàng hóa nhập khẩu. Trong 16 năm tham gia WTO, Việt Nam đã tham gia 5 vụ tranh chấp với tư cách bên nguyên đơn (trong đó 4 vụ liên quan đến PVTM), 39 vụ với tư cách bên thứ ba, và chưa có vụ nào tham gia với tư cách bên bị đơn tại DSB.
| Chỉ số thực tiễn về phòng vệ thương mại và tranh chấp tại WTO |
Số lượng ghi nhận |
Tỷ lệ / Ghi chú |
| Tổng số tranh chấp được khởi xướng tại WTO |
617 vụ |
100% |
| Số tranh chấp liên quan đến biện pháp PVTM tại WTO |
341 vụ |
55,3% tổng số vụ tranh chấp |
| Hàng hóa xuất khẩu của Việt Nam bị điều tra PVTM (đến 31/12/2023) |
196 vụ |
Tại các thị trường xuất khẩu |
| Việt Nam khởi xướng điều tra chống bán phá giá đối với hàng nhập khẩu |
16 vụ |
Biện pháp bảo vệ sản xuất trong nước |
| Việt Nam khởi xướng điều tra áp dụng biện pháp tự vệ |
6 vụ |
Biện pháp ứng phó gia tăng nhập khẩu |
| Việt Nam khởi xướng điều tra chống trợ cấp đối với hàng nhập khẩu |
01 vụ |
Biện pháp đối kháng trợ cấp |
| Việt Nam khởi xướng điều tra chống lẩn tránh biện pháp PVTM |
2 vụ |
Xử lý hành vi lẩn tránh thuế PVTM |
| Tranh chấp Việt Nam tham gia với tư cách bên nguyên đơn tại WTO |
5 vụ |
Gồm 4 vụ liên quan trực tiếp đến PVTM |
| Tranh chấp Việt Nam tham gia với tư cách bên thứ ba tại WTO |
39 vụ |
Tham gia bảo vệ quyền lợi và học hỏi thực tiễn |
| Tranh chấp Việt Nam tham gia với tư cách bên bị đơn tại WTO |
0 vụ |
Chưa phát sinh vụ kiện bị đơn tại DSB |
Mục đích nghiên cứu của luận án: Trên cơ sở nghiên cứu lý luận về cơ chế giải quyết tranh chấp PVTM trong WTO, luận án phân tích và đánh giá thực tiễn giải quyết tranh chấp PVTM của tổ chức này, thông qua đó rút ra bài học kinh nghiệm và đề xuất các giải pháp giúp Việt Nam nâng cao hiệu quả tham gia cơ chế giải quyết tranh chấp của WTO về PVTM.
Nhiệm vụ nghiên cứu của luận án:
- Một là, đánh giá tổng quan về tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài, từ đó rút ra những vấn đề cần tiếp tục nghiên cứu và làm sáng tỏ.
- Hai là, phân tích các đặc thù về cơ chế giải quyết tranh chấp tại WTO trong lĩnh vực PVTM.
- Ba là, tổng hợp, phân tích và đánh giá thực tiễn giải quyết tranh chấp về PVTM theo cơ chế của WTO, đi sâu vào phân tích một số vụ tranh chấp cụ thể và làm rõ những điểm bất cập của việc giải quyết tranh chấp về PVTM trong khuôn khổ của tổ chức này, đồng thời phân tích và đánh giá thực tiễn tham gia của Trung Quốc, Indonesia, Thái Lan, Argentina, Brazil và Việt Nam vào việc giải quyết tranh chấp về PVTM tại WTO.
- Bốn là, rút ra bài học kinh nghiệm từ việc phân tích thực tiễn tham gia giải quyết tranh chấp về PVTM tại WTO của các nước, đồng thời đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả sự tham gia của Việt Nam vào cơ chế giải quyết tranh chấp của WTO trong lĩnh vực PVTM.
Hệ thống câu hỏi và giả thuyết nghiên cứu của đề tài:
- Câu hỏi nghiên cứu 1: Cơ chế giải quyết tranh chấp của WTO về PVTM là gì? Cơ chế này bao gồm những đặc điểm gì? Cơ sở pháp lý, các thiết chế, nguyên tắc, trình tự thủ tục giải quyết tranh chấp PVTM trong WTO gồm những nội dung gì?
- Giả thuyết nghiên cứu 1: Luận án giả định rằng các công trình nghiên cứu chưa thiết lập được hệ thống cơ sở lý luận đầy đủ để nhận diện cơ chế giải quyết tranh chấp về PVTM của WTO, bao gồm các vấn đề: khái niệm, đặc điểm, cơ sở pháp lý giải quyết tranh chấp giữa các thành viên WTO liên quan đến lĩnh vực PVTM (ở cả khía cạnh pháp luật nội dung và pháp luật hình thức), các thiết chế, nguyên tắc, trình tự thủ tục giải quyết tranh chấp PVTM trong WTO.
- Câu hỏi nghiên cứu 2: Thực trạng giải quyết tranh chấp về PVTM theo cơ chế của WTO như thế nào? Thông qua thực tiễn giải quyết tranh chấp PVTM theo thủ tục của DSU, các nước đang phát triển như Việt Nam có thể rút ra bài học kinh nghiệm gì khi sử dụng cơ chế này trong lĩnh vực PVTM?
- Giả thuyết nghiên cứu 2: Luận án giả định rằng các công trình nghiên cứu chưa phân tích cụ thể việc áp dụng cơ chế giải quyết tranh chấp của WTO để giải quyết các tranh chấp trong lĩnh vực PVTM.
- Câu hỏi nghiên cứu 3: Việt Nam cần áp dụng những giải pháp nào để nâng cao hiệu quả sự tham gia của Việt Nam vào cơ chế giải quyết tranh chấp của WTO trong lĩnh vực PVTM?
- Giả thuyết nghiên cứu 3: Các biện pháp PVTM đối với hàng hóa Việt Nam tại thị trường nước ngoài có thể gây ra những hậu quả về nhiều mặt, vì vậy Việt Nam cần có những biện pháp phù hợp để vận dụng hiệu quả cơ chế giải quyết tranh chấp của WTO trong lĩnh vực PVTM; đồng thời, với việc Việt Nam tiến hành điều tra các biện pháp PVTM ngày càng nhiều, Việt Nam cũng có thể phải đối mặt với nguy cơ trở thành bên bị đơn trong tranh chấp về PVTM tại WTO, do đó việc sẵn sàng các giải pháp ứng phó khi trở thành bên bị đơn trong các tranh chấp về PVTM tại WTO sẽ giúp cho Việt Nam có thể tham gia một cách hiệu quả nhất trong những tình huống này.
Đối tượng nghiên cứu của luận án là cơ chế giải quyết tranh chấp của WTO (bao gồm giải quyết tranh chấp tại Ban Hội thẩm và Cơ quan phúc thẩm) về PVTM theo các nguyên tắc, trình tự thủ tục của WTO.
Phạm vi nghiên cứu:
- Phạm vi nội dung: Luận án nghiên cứu về quy trình giải quyết tranh chấp PVTM theo cơ chế của WTO và thực tiễn một số tranh chấp điển hình về PVTM theo cơ chế của WTO; đề xuất các giải pháp đối với Việt Nam khi tham gia vào quá trình này. Luận án không nghiên cứu việc giải quyết tranh chấp về PVTM bởi các phương thức khác như trung gian, hòa giải, môi giới, trọng tài ngoài DSB.
- Phạm vi không gian: Nghiên cứu thực tiễn giải quyết tranh chấp về PVTM của các nước đang phát triển, trọng tâm là các nước tích cực sử dụng cơ chế này gồm Trung Quốc, Indonesia, Thái Lan, Argentina, Brazil và Việt Nam.
- Phạm vi thời gian: Nghiên cứu thực tiễn giải quyết tranh chấp về PVTM từ khi Cơ chế giải quyết tranh chấp của WTO đi vào hoạt động (năm 1995) đến nay.
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Tổng quan các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước liên quan đến đề tài được tác giả phân chia thành ba nhóm chính:
Nhóm 1: Các công trình nghiên cứu về cơ chế giải quyết tranh chấp của WTO. Nhóm này cung cấp hệ thống lý luận và thực tiễn chung về cơ chế giải quyết tranh chấp (DSU). Các tài liệu quốc tế tiêu biểu gồm: Craig VanGrasstek (2013) nghiên cứu lịch sử hình thành và tranh chấp thương mại trong WTO; cẩm nang của WTO (2017) hướng dẫn quy trình giải quyết tranh chấp từ khởi đầu đến thực thi; Julio Lacarte và Jaime Granados (2006) phân tích cách tiếp cận đa phương và khu vực trong tranh chấp thương mại liên chính phủ; J. Merrills (2017) phân tích các khía cạnh pháp lý của tranh chấp thương mại quốc tế; Rufus Yerxa và Bruce Wilson (2005) đánh giá 10 năm đầu vận hành của hệ thống giải quyết tranh chấp; Gaetan Verhoosel (2002) nghiên cứu nguyên tắc đối xử quốc gia và quyền tự chủ điều tiết; Ernst-Ulrich Petersmann (1997) xuất bản hai công trình chuyên sâu về hệ thống giải quyết tranh chấp GATT/WTO và luật thương mại quốc tế; Rudiger Wolfrum, Peter-Tobias Stoll và Karen Kaiser nghiên cứu thiết chế và cơ cấu tổ chức; Peter Van den Bossche phân tích các quy định và chính sách qua các vụ tranh chấp; Dencho Georgiev và Kim Van der Borght nghiên cứu việc cải cách DSU. Tại Việt Nam, nhóm nghiên cứu gồm: Nguyễn Tiến Hoàng phân tích các vấn đề đặt ra cho Việt Nam; Nguyễn Vĩnh Thanh và Lê Thị Hà nghiên cứu sự tham gia của các nước đang phát triển; Bùi Anh Thủy phân tích vai trò của doanh nghiệp và hiệp hội; Lý Vân Anh, Trịnh Hải Yến đánh giá cơ hội và thách thức của các nước đang phát triển; Nguyễn Thị Thu Hiền nghiên cứu lịch sử pháp luật giải quyết tranh chấp và chống bán phá giá; Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) tóm tắt quy trình tranh chấp chống bán phá giá; Đinh Thị Ánh Tuyết và Nguyễn Thị Phương Thảo phân tích tính hiệu quả của cơ chế DSU trong giải quyết tranh chấp PVTM và việc sử dụng án lệ.
Nhóm 2: Các công trình nghiên cứu về giải quyết tranh chấp về PVTM trong WTO. Nhóm nghiên cứu này tập trung vào các quy định và tranh chấp liên quan đến chống bán phá giá, chống trợ cấp và tự vệ. Tiêu biểu gồm: Chad P. Bown (2008) phân tích lý do ít vụ việc PVTM bị khiếu kiện và nghiên cứu sự gia tăng các biện pháp PVTM sau khủng hoảng kinh tế 2008; Rudiger Wolfrum, Peter-Tobias Stoll và Michael Koebele nghiên cứu quy định PVTM qua các hiệp định; Robert Teh, Thomas J. Prusa và Michele Budetta khảo sát quy định PVTM trong các hiệp định thương mại khu vực; Willemien Viljoen (2013) nghiên cứu thực tiễn PVTM tại nhóm nước BRICS; Duane W. Layton và Jorge O. Mirada phân tích hoạt động vận động hành lang trước Ban Hội thẩm; Adebukola A. Eleso đề xuất biện pháp bồi thường bằng tiền cho các nước đang phát triển. Về chống bán phá giá, có các công trình của Clive Stanbrook và Philip Bentley, Keith Steele, Wolfgang Muller, John Ohnesorge, Sebastian Farr, Pierre Didier, Brink Lindsey, Wenxi Li, Aradhna Aggarwal, Anderson Mori & Tomotsune. Tại Việt Nam, có các công trình của Lữ Thị Thu Trang, Mai Xuân Hợi, Phan Ánh Hè, Nguyễn Thu Hương, Bùi Anh Thủy, Vũ Thị Phương Lan, Dương Anh Sơn, Lý Vân Anh (về phương pháp quy về không - zeroing), Phạm Quang Minh, Nguyễn Quỳnh Trang, Nguyễn Quý Trọng, cùng các cẩm nang kháng kiện và khuyến nghị của VCCI phối hợp với Dự án Mutrap.
Nhóm 3: Các công trình nghiên cứu về thực tiễn giải quyết tranh chấp PVTM theo cơ chế của WTO. Nhóm này phân tích hoạt động tố tụng thực tế của các quốc gia: William J. Davey khảo sát 10 năm đầu của hệ thống; Chad P. Bown và Bernard M. Hoekman nghiên cứu sự tham gia của khu vực tư nhân hỗ trợ các nước đang phát triển; Gregory C. Shaffer và Ricardo Melendez-Ortiz tổng kết kinh nghiệm của các nước đang phát triển tại Nam Mỹ, Châu Á và Châu Phi; Dukgeun Ahn khảo sát thực tiễn Đông Á; Nottage và Hunter phân tích hạn chế của các nước đang phát triển trong khuôn khổ Chương trình GEG. Về thực tiễn Trung Quốc, có các công trình của Wenhua Ji và Huang Cui, Xiaojun Li, Henry Gao, Chi Manjiao. Về Brazil và khu vực Mỹ Latinh, có các nghiên cứu của Welber Barral, Amrita Bahri (về chiến lược hợp tác đối tác công tư PPP), Archana Jatkar và Laura McFarlene, Gonzalo Biggs, Zunckel và Lambert Botha. Tại Việt Nam, thực tiễn được nghiên cứu qua các công trình của Nguyễn Ngọc Minh và Lê Thanh Hòa, Lê Thị Hồng Hải, Trần Thúy Hồng, Nguyễn Thị Thu Hiền, Nguyễn Tiến Vinh, Trần Việt Dũng và Vũ Trí Đăng, Nguyễn Hữu Huyên (về hai vụ kiện tôm đông lạnh với Hoa Kỳ), Nguyễn Ngọc Hà (về vụ kiện tôn lạnh với Indonesia), Nguyễn Mai Linh.
Khoảng trống nghiên cứu luận án lựa chọn giải quyết: Phần lớn các công trình trước đây tập trung nghiên cứu cơ chế giải quyết tranh chấp chung của WTO hoặc phân tích các quy định nội dung về PVTM một cách riêng lẻ. Các nghiên cứu về tranh chấp PVTM chủ yếu dừng lại ở mức độ thống kê số liệu và mô tả vụ việc, thiếu vắng sự phân tích chuyên sâu về việc áp dụng các điều khoản của các hiệp định PVTM trong hoạt động xét xử của DSB. Đồng thời, chưa có công trình nào ở trình độ tiến sĩ chuyên ngành luật kinh tế kết hợp đồng thời khía cạnh lý luận và thực tiễn giải quyết tranh chấp PVTM tại WTO để trực tiếp liên hệ và đề xuất giải pháp toàn diện cho Việt Nam với cả ba tư cách tố tụng: bên nguyên đơn, bên bị đơn và bên thứ ba.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Luận án sử dụng sáu cơ sở lý thuyết kinh tế và thương mại để làm nền tảng phân tích:
- Học thuyết về lợi thế tuyệt đối của Adam Smith: Giải thích lợi ích thương mại khi mỗi quốc gia chuyên môn hóa sản xuất mặt hàng có hiệu quả vượt trội và trao đổi với nhau.
- Học thuyết về lợi thế so sánh của David Ricardo: Nhấn mạnh các quốc gia vẫn thu được lợi ích từ phân công lao động và thương mại quốc tế bằng cách chuyên môn hóa mặt hàng có chi phí cơ hội thấp hơn, giải thích sự cần thiết của tự do hóa thương mại ngay cả khi không có lợi thế tuyệt đối.
- Học thuyết thương mại mới của Paul Krugman: Giải thích thương mại nội bộ ngành dựa trên lợi thế kinh tế nhờ quy mô, làm rõ nguyên nhân tại sao các sản phẩm tương tự vẫn được trao đổi hai chiều giữa các quốc gia và ngành sản xuất nội địa có thể bị thiệt hại do hàng nhập khẩu bán phá giá, được trợ cấp hoặc gia tăng đột biến.
- Lý thuyết Lợi thế cạnh tranh quốc gia của Michael Porter: Giải thích việc doanh nghiệp đạt được vị thế cạnh tranh trên thị trường mà không cần đến hành vi cạnh tranh không lành mạnh, lý giải cơ sở kinh tế của việc áp dụng biện pháp tự vệ thương mại khi hàng nhập khẩu gia tăng đột biến dù không bán phá giá hay nhận trợ cấp.
- Học thuyết bàn tay vô hình của Adam Smith: Ủng hộ tự do kinh tế và tự do cạnh tranh, giải thích cho xu hướng tự do hóa thương mại quốc tế.
- Học thuyết bàn tay hữu hình của John Maynard Keynes (được Alfred Chandler hoàn thiện năm 1977): Khẳng định vai trò điều tiết của nhà nước trong việc can thiệp để ổn định kinh tế và chống lại các tác động tiêu cực, làm cơ sở lý luận cho sự can thiệp của chính phủ thông qua việc điều tra và áp dụng các biện pháp PVTM khi ngành sản xuất nội địa bị đe dọa hoặc tổn hại.
Phương pháp luận: Luận án sử dụng phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và duy vật lịch sử.
Phương pháp nghiên cứu cụ thể:
- Phương pháp tổng hợp, phân tích và hệ thống hóa: Sử dụng xuyên suốt luận án để luận giải các nguồn tài liệu sơ cấp và thứ cấp.
- Phương pháp so sánh, quy nạp: Sử dụng trọng tâm tại Chương 2 nhằm xây dựng các khái niệm và làm rõ các vấn đề lý luận về cơ chế giải quyết tranh chấp PVTM.
- Phương pháp nghiên cứu tình huống (case study): Sử dụng trọng tâm tại Chương 3 để phân tích các vụ việc giải quyết tranh chấp PVTM điển hình tại WTO và thực tiễn tham gia của Việt Nam.
- Phương pháp so sánh và đối chiếu, kết hợp lý luận với thực tiễn: Sử dụng để so sánh thực tiễn của các nước và đưa ra các giải pháp khả thi cho Việt Nam.
- Phương pháp đa ngành, liên ngành luật học: Kết hợp kiến thức luật học, kinh tế thương mại quốc tế và quan hệ quốc tế để làm rõ các khía cạnh phức tạp của đề tài.
Nguồn dữ liệu và tư liệu:
- Văn bản pháp lý quốc tế: Thoả thuận DSU, Hiệp định GATT 1994, Hiệp định ADA, Hiệp định SCM, Hiệp định SG, Hiệp định thành lập WTO (Hiệp định Marrakesh 1994).
- Báo cáo và phán quyết giải quyết tranh chấp: Báo cáo của Ban Hội thẩm và Cơ quan phúc thẩm (AB) trong các vụ việc liên quan đến PVTM, như tranh chấp EC – Hooc môn (về gánh nặng chứng minh), các vụ kiện tôm đông lạnh giữa Việt Nam và Hoa Kỳ, vụ kiện tôn lạnh giữa Việt Nam và Indonesia.
- Dữ liệu thống kê: Số liệu công bố của WTO, Bộ Công Thương, VCCI và cơ quan điều tra PVTM các nước.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu và cơ sở lý thuyết nghiên cứu
Chương 1 hệ thống hóa các tài liệu nghiên cứu trong và ngoài nước liên quan đến đề tài theo ba nhóm: các nghiên cứu về cơ chế giải quyết tranh chấp của WTO, các nghiên cứu về quy định và biện pháp PVTM, và các nghiên cứu về thực tiễn giải quyết tranh chấp PVTM tại WTO. Luận án chỉ ra các nội dung đã được làm rõ mà luận án kế thừa, bao gồm: quy trình tố tụng chung theo DSU (tham vấn, hội thẩm, phúc thẩm, thực thi); các nguyên tắc của hệ thống thương mại đa phương; các quy định nội dung của GATT, ADA, SCM, SG; thực tiễn tham gia của các nước đang phát triển và một số khuyến nghị chính sách chung.
Trên cơ sở đó, chương này xác định các khoảng trống nghiên cứu cần tiếp tục giải quyết, đặc biệt là việc thiếu vắng các công trình phân tích chuyên sâu việc vận dụng quy định PVTM trong giải quyết tranh chấp tại DSB và đánh giá toàn diện vị thế của Việt Nam. Để giải quyết khoảng trống này, chương 1 thiết lập khung lý thuyết gồm sáu học thuyết kinh tế và thương mại (lợi thế tuyệt đối, lợi thế so sánh, thương mại mới, lợi thế cạnh tranh quốc gia, bàn tay vô hình và bàn tay hữu hình), đồng thời xác định hệ thống ba câu hỏi nghiên cứu cùng ba giả thuyết nghiên cứu tương ứng làm định hướng cho các chương tiếp theo.
Chương 2. Lý luận về cơ chế giải quyết tranh chấp về phòng vệ thương mại của Tổ chức thương mại thế giới
Chương 2 tập trung xây dựng cơ sở lý luận về cơ chế giải quyết tranh chấp PVTM tại WTO. Luận án phân tích khái niệm biện pháp PVTM (chống bán phá giá, chống trợ cấp, tự vệ) và nhu cầu giải quyết tranh chấp xuất phát từ xu hướng gia tăng bảo hộ thương mại phi thuế quan. Luận án đưa ra khái niệm: Cơ chế giải quyết tranh chấp PVTM trong WTO là một quy trình bao gồm những quy định của DSU về nguyên tắc, trình tự, thủ tục, bộ máy giải quyết tranh chấp giữa các Thành viên của WTO trong việc tuân thủ các quy định, chính sách về chống bán phá giá, chống trợ cấp, tự vệ theo các Hiệp định GATT, ADA, SCM, và đảm bảo thi hành bởi DSB.
Luận án làm rõ bảy đặc điểm của cơ chế này:
- Thứ nhất, cơ quan giải quyết tranh chấp là DSB, vốn là Đại Hội đồng WTO đảm nhiệm chức năng giải quyết tranh chấp, không tồn tại cơ quan tài phán độc lập nằm ngoài bộ máy thường trực.
- Thứ hai, các bên tham gia tranh chấp bắt buộc phải là các Thành viên WTO (quốc gia hoặc vùng lãnh thổ thuế quan riêng rẽ); các chủ thể tư nhân, chính quyền địa phương, ban thư ký hay quan sát viên không có quyền khởi kiện tại DSB.
- Thứ ba, mục tiêu giải quyết tranh chấp là bảo đảm chính sách PVTM được thực hiện đúng quy định, duy trì môi trường cạnh tranh công bằng.
- Thứ tư, pháp luật nội dung điều chỉnh tranh chấp gồm Điều VI, Điều XVI, Điều XIX của GATT 1994 cùng các Hiệp định ADA, SCM và SG.
- Thứ năm, pháp luật hình thức là Thỏa thuận DSU gồm 27 điều và 4 phụ lục.
- Thứ sáu, phán quyết của DSB có giá trị ràng buộc và thẩm quyền của DSB là duy nhất và bắt buộc (theo quy định tại Điều 1.1 và Điều 23.1 DSU).
- Thứ bảy, vấn đề chứng cứ và chuẩn mực rà soát: Ban Hội thẩm hoạt động như một cơ chế phúc tra, giới hạn việc xem xét trong phạm vi hồ sơ của cơ quan điều tra nội địa; nguyên tắc phân bổ gánh nặng chứng minh ban đầu thuộc về bên nguyên đơn, sau khi nguyên đơn đưa ra chứng cứ đầy đủ thì gánh nặng chứng minh chuyển sang bên bị đơn (được khẳng định trong án lệ EC – Hooc môn [72; đoạn 98]).
Về thiết chế và nguyên tắc, chương 2 phân tích chức năng của DSB, Ban Hội thẩm (3 hoặc 5 hội thẩm viên), Cơ quan phúc thẩm (AB - 7 thành viên thường trực, nhiệm kỳ 4 năm, tái bổ nhiệm 1 lần; 3 thành viên giải quyết một vụ việc), Tổng giám đốc WTO, trọng tài (theo Điều 21.3(c) và Điều 22.6 DSU) và các nhóm chuyên gia tư vấn (Điều 13 và Phụ lục 4 DSU). Bốn nguyên tắc giải quyết tranh chấp được phân tích sâu sắc gồm: nguyên tắc không phân biệt đối xử; nguyên tắc bí mật; nguyên tắc đồng thuận nghịch (áp dụng khi thành lập Ban Hội thẩm và thông qua báo cáo theo Điều 6.1, Điều 16.4, Điều 17.14 DSU); và nguyên tắc đối xử đặc biệt và khác biệt (S&D) dành cho các nước đang và kém phát triển xuyên suốt các giai đoạn tham vấn, xét xử và thực thi. Trình tự thủ tục được xác lập qua bốn giai đoạn: tham vấn, hội thẩm, kháng cáo và phúc thẩm, và thi hành phán quyết.
Chương 3. Thực trạng giải quyết tranh chấp về phòng vệ thương mại theo cơ chế của Tổ chức thương mại thế giới
Chương 3 phân tích thực trạng giải quyết tranh chấp PVTM theo trình tự bốn giai đoạn của DSU. Luận án khảo sát số liệu thực tế với 341 vụ tranh chấp PVTM trong tổng số 617 tranh chấp tại WTO, chỉ ra rằng tranh chấp PVTM chiếm tỷ lệ đa số (55,3%) và là lĩnh vực xảy ra xung đột thương mại gay gắt nhất giữa các thành viên. Luận án đánh giá việc áp dụng các quy định của ADA, SCM và SG trong các báo cáo của Ban Hội thẩm và Cơ quan phúc thẩm, làm rõ các bất cập trong quá trình thu thập chứng cứ, áp dụng phương pháp tính biên độ phá giá, xác định thiệt hại của ngành sản xuất nội địa và mối quan hệ nhân quả.
Chương này đi sâu đánh giá thực tiễn tham gia của các nước đang phát triển điển hình:
- Trung Quốc: Từ vị thế một thành viên quan sát thận trọng đã chuyển sang chủ động khởi kiện và kháng kiện, trở thành mục tiêu của nhiều vụ điều tra PVTM nhất tại WTO.
- Brazil: Áp dụng thành công mô hình đối tác công tư (PPP) giữa chính phủ và các hiệp hội, doanh nghiệp xuất khẩu để theo đuổi các vụ kiện phức tạp tại DSB.
- Indonesia và Thái Lan: Tích cực sử dụng cơ chế DSB để bảo vệ các ngành hàng xuất khẩu chủ lực và tích lũy kinh nghiệm tố tụng.
- Argentina: Sử dụng cơ chế DSU để bảo vệ chính sách thương mại và ứng phó với các biện pháp PVTM từ các nước đối tác.
Đối với Việt Nam, chương 3 tổng kết thực trạng tham gia sau 16 năm gia nhập WTO: tham gia 5 vụ việc với tư cách nguyên đơn (trong đó có 4 vụ về PVTM, tiêu biểu là các vụ kiện Hoa Kỳ về biện pháp chống bán phá giá đối với tôm nước ấm đông lạnh và vụ kiện Indonesia về biện pháp tự vệ đối với tôn lạnh), tham gia 39 vụ việc với tư cách bên thứ ba, và chưa có vụ việc nào đóng vai trò bên bị đơn. Luận án phân tích chi tiết các vướng mắc tố tụng trong các vụ việc thực tế của Việt Nam, vai trò hỗ trợ của hiệp hội ngành hàng và các chuyên gia pháp lý, đồng thời chỉ ra nguy cơ tiềm ẩn khi Việt Nam đang gia tăng các vụ điều tra PVTM trong nước (với 16 vụ chống bán phá giá, 6 vụ tự vệ, 01 vụ chống trợ cấp và 2 vụ chống lẩn tránh tính đến cuối năm 2023), tạo ra nguy cơ bị kiện ra DSB với tư cách bên bị đơn trong tương lai.
Chương 4. Giải pháp nâng cao hiệu quả tham gia cơ chế giải quyết tranh chấp về phòng vệ thương mại trong Tổ chức thương mại thế giới cho Việt Nam
Chương 4 đúc kết các bài học kinh nghiệm từ thực tiễn của Trung Quốc, Brazil, Indonesia, Thái Lan và Argentina, trên cơ sở đó đề xuất hệ thống giải pháp toàn diện cho Việt Nam nhằm nâng cao năng lực tham gia cơ chế giải quyết tranh chấp PVTM tại WTO:
Thứ nhất, nhóm giải pháp hoàn thiện thể chế và tổ chức: Thành lập cơ quan chuyên trách về giải quyết tranh chấp thương mại quốc tế tại WTO trực thuộc cơ quan quản lý nhà nước; xây dựng quy trình tiếp nhận, xử lý và chuẩn bị hồ sơ tố tụng chuyên nghiệp; thiết lập cơ chế giám sát thực thi các biện pháp PVTM của các đối tác thương mại đối với hàng xuất khẩu Việt Nam.
Thứ hai, nhóm giải pháp xây dựng cơ chế phối hợp công tư (PPP): Thể chế hóa mối quan hệ phối hợp giữa cơ quan nhà nước có thẩm quyền với các hiệp hội ngành hàng và cộng đồng doanh nghiệp; phân định rõ trách nhiệm tài chính và kỹ thuật trong việc theo đuổi các vụ kiện tại Geneva; tạo lập kênh chia sẻ dữ liệu và thông tin điều tra PVTM giữa các bên liên quan.
Thứ ba, nhóm giải pháp phát triển nguồn nhân lực: Đào tạo đội ngũ chuyên gia pháp lý, cán bộ nhà nước và luật sư trong nước am hiểu sâu sắc về DSU, GATT, ADA, SCM và SG; xây dựng chiến lược đưa cán bộ, chuyên gia Việt Nam tham gia sâu vào hoạt động của các ban thư ký, ủy ban chuyên môn và thiết chế của WTO; tận dụng các chương trình hỗ trợ pháp lý quốc tế dành cho nước đang phát triển (như Trung tâm Tư vấn Luật WTO - ACWL).
Thứ tư, nhóm giải pháp theo từng tư cách tố tụng:
- Khi tham gia với tư cách bên nguyên đơn: Chủ động đánh giá khả năng thắng kiện, rà soát tính tương thích của biện pháp bị khiếu kiện với quy định WTO; thu thập đầy đủ chứng cứ ngay từ giai đoạn cơ quan điều tra nước ngoài thụ lý vụ việc; tận dụng hiệu quả giai đoạn tham vấn để tìm kiếm giải pháp tích cực trước khi thành lập Ban Hội thẩm.
- Khi tham gia với tư cách bên bị đơn: Rà soát, hoàn thiện hệ thống pháp luật PVTM quốc gia bảo đảm phù hợp chặt chẽ với các chuẩn mực của WTO; nâng cao tính minh bạch và chuẩn mực điều tra của cơ quan điều tra trong nước khi áp dụng thuế chống bán phá giá, chống trợ cấp và tự vệ nhằm hạn chế tối đa nguy cơ bị khởi kiện ra DSB; chuẩn bị sẵn các lập luận pháp lý để biện hộ cho các kết luận điều tra nội địa.
- Khi tham gia với tư cách bên thứ ba: Tích cực tham gia các vụ tranh chấp PVTM có liên quan trực tiếp hoặc gián tiếp đến lợi ích kinh tế của Việt Nam để bảo vệ quyền lợi quốc gia, đồng thời coi đây là phương thức thực hành tố tụng nhằm nâng cao năng lực cho đội ngũ chuyên gia pháp lý trong nước.
Kết quả và những đóng góp mới
Đóng góp về mặt lý luận và khoa học:
- Góp phần hoàn thiện hệ thống lý luận về cơ chế giải quyết tranh chấp PVTM trong WTO, xác định rõ khái niệm, bảy đặc điểm đặc thù, và phân định rõ cơ sở pháp lý hình thức (DSU) với cơ sở pháp lý nội dung (Điều VI, Điều XVI, Điều XIX của GATT 1994; Hiệp định ADA, SCM, SG).
- Làm rõ cấu trúc, chức năng và thẩm quyền của các thiết chế giải quyết tranh chấp PVTM (DSB, Ban Hội thẩm, Cơ quan phúc thẩm AB, Tổng giám đốc WTO, Trọng tài, nhóm chuyên gia tư vấn), cũng như bốn nguyên tắc pháp lý cốt lõi: không phân biệt đối xử, bí mật, đồng thuận nghịch và đối xử đặc biệt, khác biệt (S&D) dành cho các nước đang phát triển.
- Làm rõ cơ chế phân bổ gánh nặng chứng minh và chuẩn mực rà soát của Ban Hội thẩm đối với các kết luận của cơ quan điều tra nội địa trong các tranh chấp PVTM, chỉ ra cách thức áp dụng và giải thích các điều khoản phức tạp của các hiệp định PVTM qua thực tiễn xét xử.
Đóng góp về mặt thực tiễn và kiến nghị giải pháp:
- Cung cấp bức tranh toàn cảnh có hệ thống về thực tiễn giải quyết 341 vụ tranh chấp PVTM tại WTO, phân tích cụ thể các tranh chấp điển hình và đánh giá khách quan thành công cũng như hạn chế của các nước đang phát triển (Trung Quốc, Brazil, Indonesia, Thái Lan, Argentina).
- Tổng kết và đánh giá thực trạng tham gia của Việt Nam trong 16 năm gia nhập WTO qua 5 vụ nguyên đơn và 39 vụ bên thứ ba, đồng thời nhận diện nguy cơ trở thành bên bị đơn từ 25 vụ việc điều tra PVTM trong nước đối với hàng hóa nhập khẩu.
- Đề xuất hệ thống giải pháp khả thi, mang tính ứng dụng đối với Việt Nam, bao gồm việc thành lập cơ quan chuyên trách, thể chế hóa cơ chế phối hợp công tư (PPP), phát triển đội ngũ luật sư thương mại quốc tế, và xây dựng cẩm nang ứng phó cụ thể cho Việt Nam theo từng tư cách tố tụng (nguyên đơn, bị đơn, bên thứ ba) tại DSB.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Về mặt hạn chế: Luận án chỉ giới hạn phạm vi nghiên cứu vào cơ chế giải quyết tranh chấp chính thức tại DSB của WTO (thông qua hoạt động của Ban Hội thẩm và Cơ quan phúc thẩm), không đi sâu nghiên cứu các phương thức giải quyết tranh chấp PVTM ngoài DSB như trung gian, hòa giải, môi giới và trọng tài độc lập ngoài khuôn khổ WTO. Về phạm vi không gian, luận án tập trung khảo sát một số quốc gia đang phát triển chọn lọc (Trung Quốc, Indonesia, Thái Lan, Argentina, Brazil) và Việt Nam, chưa bao quát toàn bộ các nền kinh tế thành viên WTO.
Về hướng nghiên cứu tiếp:
- Tiếp tục theo dõi và nghiên cứu các diễn biến mới trong quá trình cải tổ hệ thống giải quyết tranh chấp của WTO, đặc biệt là các giải pháp tháo gỡ bế tắc cho Cơ quan phúc thẩm (AB) và cơ chế thỏa thuận trọng tài phúc thẩm tạm thời (MPIA).
- Mở rộng nghiên cứu cơ chế giải quyết tranh chấp PVTM trong khuôn khổ các Hiệp định thương mại tự do thế hệ mới (như CPTPP, EVFTA) và mối quan hệ tương tác giữa các cơ chế khu vực này với cơ chế đa phương tại DSB của WTO.
- Đi sâu nghiên cứu các phương thức giải quyết tranh chấp PVTM ngoài cơ chế DSB nhằm đa dạng hóa công cụ bảo vệ lợi ích thương mại quốc gia.
Giá trị tham khảo
Luận án là công trình nghiên cứu chuyên khảo có giá trị tham khảo đối với nhiều nhóm đối tượng:
- Đối với giảng viên, nghiên cứu sinh và học viên cao học chuyên ngành Luật kinh tế, Luật quốc tế và Thương mại quốc tế: Luận án cung cấp nguồn tài liệu học thuật toàn diện tại Chương 1 và Chương 2 về khung lý thuyết thương mại và các quy định pháp lý quốc tế điều chỉnh tranh chấp PVTM tại WTO.
- Đối với các cơ quan quản lý nhà nước (Bộ Công Thương, Cục Phòng vệ thương mại, Bộ Tư pháp, Bộ Ngoại giao): Nội dung phân tích thực tiễn tại Chương 3 và hệ thống kiến nghị chính sách tại Chương 4 là cơ sở tham khảo giá trị trong việc xây dựng chiến lược tham gia giải quyết tranh chấp tại WTO, hoàn thiện quy trình điều tra PVTM trong nước và nâng cao năng lực ứng phó khi bị khởi kiện.
- Đối với cộng đồng doanh nghiệp xuất nhập khẩu, các hiệp hội ngành hàng và giới luật sư: Các phân tích về thực tiễn vụ kiện thực tế (như vụ tôm đông lạnh, vụ tôn lạnh) và kinh nghiệm đối tác công tư (PPP) của Brazil giúp doanh nghiệp nhận diện quyền lợi, chủ động phối hợp với chính phủ trong việc thu thập chứng cứ và chuẩn bị hồ sơ khi hàng hóa xuất khẩu bị áp dụng biện pháp PVTM tại nước ngoài.
Câu hỏi thường gặp
Câu hỏi 1: Cơ chế giải quyết tranh chấp về phòng vệ thương mại tại WTO có những đặc điểm pháp lý cơ bản nào?
Trả lời: Cơ chế giải quyết tranh chấp PVTM tại WTO mang các đặc điểm pháp lý cốt lõi: cơ quan giải quyết tranh chấp là DSB (chính là Đại Hội đồng WTO đảm nhiệm chức năng giải quyết tranh chấp, không có cơ quan tài phán độc lập); chủ thể tham gia bắt buộc phải là các quốc gia hoặc vùng lãnh thổ thành viên WTO; mục tiêu nhằm bảo đảm việc áp dụng chính sách PVTM đúng quy định và duy trì công bằng thương mại; pháp luật nội dung là Điều VI, XVI, XIX GATT 1994 và các Hiệp định ADA, SCM, SG; pháp luật hình thức là Thỏa thuận DSU; phán quyết của DSB có giá trị ràng buộc và thẩm quyền của DSB là duy nhất, bắt buộc; Ban Hội thẩm hoạt động như một cơ chế phúc tra đối với hồ sơ của cơ quan điều tra nội địa.
Câu hỏi 2: Vấn đề gánh nặng chứng minh và thu thập chứng cứ trong tranh chấp phòng vệ thương mại tại WTO được thực hiện theo nguyên tắc nào?
Trả lời: Theo quy định của DSU và án lệ tại WTO (tiêu biểu là vụ EC – Hooc môn [72; đoạn 98]), gánh nặng chứng minh ban đầu thuộc về bên nguyên đơn, nguyên đơn phải đưa ra các bằng chứng rõ ràng và đầy đủ chứng minh hành vi trái nguyên tắc của bị đơn. Khi nguyên đơn đáp ứng yêu cầu này, gánh nặng chứng minh sẽ chuyển sang bên bị đơn để phản đối hoặc bác bỏ cáo buộc. Bên cạnh đó, Ban Hội thẩm hoạt động như một cơ chế phúc tra, về nguyên tắc chỉ xem xét các chứng cứ đã có sẵn trong hồ sơ của cơ quan điều tra nước thành viên, việc đưa các chứng cứ mới ngoài hồ sơ điều tra bị giới hạn nghiêm ngặt.
Câu hỏi 3: Quy chế đối xử đặc biệt và khác biệt (S&D) dành cho các nước đang phát triển được áp dụng cụ thể như thế nào trong giải quyết tranh chấp tại WTO?
Trả lời: Nguyên tắc S&D được quy định cụ thể qua các giai đoạn: Trong giai đoạn tham vấn, các thành viên phải dành sự quan tâm đặc biệt tới lợi ích của nước đang phát triển và có thể kéo dài thời hạn tham vấn (Điều 4, Điều 12 DSU); trong giai đoạn xét xử tại Ban Hội thẩm, nếu tranh chấp xảy ra giữa nước đang phát triển và nước phát triển, Ban Hội thẩm bắt buộc phải có ít nhất một hội thẩm viên đến từ nước đang phát triển khi có yêu cầu (Điều 8.10 DSU), đồng thời nước đang phát triển là bị đơn được dành thêm thời gian chuẩn bị lý lẽ bào chữa (Điều 12.10 DSU) và báo cáo phải nêu rõ cách thức xem xét các điều khoản S&D (Điều 12.11 DSU); trong giai đoạn thực thi, các nước phát triển cần kiềm chế khi áp dụng biện pháp trả đũa và nước đang phát triển có thể được áp dụng biện pháp trả đũa chéo (Điều 21.2 DSU).
Câu hỏi 4: Thực trạng tham gia giải quyết tranh chấp tại WTO và áp dụng các biện pháp phòng vệ thương mại của Việt Nam tính đến ngày 31/12/2023 như thế nào?
Trả lời: Sau 16 năm gia nhập WTO, Việt Nam đã tham gia 5 vụ tranh chấp với tư cách nguyên đơn (trong đó 4 vụ liên quan đến PVTM gồm các vụ kiện tôm đông lạnh với Hoa Kỳ và tôn lạnh với Indonesia), tham gia 39 vụ với tư cách bên thứ ba, và chưa có vụ nào tham gia với tư cách bị đơn. Về điều tra PVTM, hàng hóa xuất khẩu của Việt Nam đã bị nước ngoài điều tra tổng số 196 vụ. Ở chiều ngược lại, Việt Nam đã khởi xướng điều tra 25 vụ việc đối với hàng hóa nhập khẩu, bao gồm 16 vụ chống bán phá giá, 6 vụ tự vệ, 01 vụ chống trợ cấp và 2 vụ chống lẩn tránh biện pháp PVTM.
Câu hỏi 5: Những cơ sở lý thuyết kinh tế nào được tác giả sử dụng để giải thích sự cần thiết của các biện pháp phòng vệ thương mại và cơ chế giải quyết tranh chấp tại WTO?
Trả lời: Luận án dựa trên sáu học thuyết: Học thuyết về lợi thế tuyệt đối (Adam Smith) và Lợi thế so sánh (David Ricardo) làm cơ sở cho lợi ích của tự do hóa thương mại; Học thuyết thương mại mới (Paul Krugman) giải thích thương mại nội bộ ngành và hiện tượng ngành sản xuất nội địa bị tổn hại do hàng nhập khẩu bán phá giá hoặc được trợ cấp; Lý thuyết Lợi thế cạnh tranh quốc gia (Michael Porter) giải thích việc hàng hóa gia tăng nhập khẩu đột biến mà không cần cạnh tranh không lành mạnh, làm căn cứ áp dụng biện pháp tự vệ; Học thuyết bàn tay vô hình (Adam Smith) giải thích cho tự do kinh doanh và cạnh tranh; và Học thuyết bàn tay hữu hình của John Maynard Keynes (Chandler hoàn thiện năm 1977) giải thích tính hợp pháp cho sự can thiệp của nhà nước thông qua điều tra và áp dụng biện pháp PVTM để bảo vệ nền sản xuất trong nước.
Kết luận
Luận án tiến sĩ "Cơ chế giải quyết tranh chấp về phòng vệ thương mại trong WTO" là công trình nghiên cứu chuyên sâu thuộc chuyên ngành Luật kinh tế, kết hợp phương pháp tiếp cận đa ngành, liên ngành luật học và kinh tế thương mại quốc tế. Tác giả đã làm sáng tỏ hệ thống lý luận về cơ chế giải quyết tranh chấp PVTM theo Thỏa thuận DSU và các hiệp định GATT, ADA, SCM, SG, đồng thời phân tích thực tiễn 341 vụ tranh chấp PVTM tại WTO cùng kinh nghiệm của các nước đang phát triển điển hình. Dựa trên việc đánh giá toàn diện thực trạng 16 năm tham gia WTO và số liệu điều tra PVTM liên quan đến Việt Nam tính đến ngày 31/12/2023, luận án đã đề xuất hệ thống giải pháp thể chế, nhân lực và quy trình tố tụng cụ thể, cung cấp luận cứ khoa học có giá trị ứng dụng cao cho Việt Nam khi tham gia giải quyết tranh chấp PVTM tại WTO với các tư cách nguyên đơn, bị đơn và bên thứ ba.