CHƯƠNG 1 TMĐT nói chung, QLNN về TMĐT nói riêng là một lĩnh vực nghiên cứu còn khá mới mẻ ở Việt Nam, do đó việc tổng quan các công trình nghiên cứu sẽ cung cấp một bức tranh tổng thể về các vấn đề lý luận và thực tiễn có liên quan đến đề tại luận án. Kết quả tổng quan các công trình nhân dân cho thấy tuy có nhiều công trình nghiên cứu cả trong và ngoài nước về TMĐT nói chung, QLNN về TMĐT nói riêng nhưng các công trình này chưa đề cập sâu tới các vấn đề lý luận QLNN về TMĐT, chưa có giải pháp cụ thể để hoàn thiện các nội dung QLNN về TMĐT ở Việt Nam. Đây sẽ là những vấn đề chủ yếu mà luận án tập trung nghiên cứu. Để có được kết quả nghiên cứu một cách chính xác, khoa học việc lựa chọn phương pháp nghiên cứu đóng vai trò hết sức quan trọng.
Luận án lựa chọn ba phương pháp chủ yếu để sử dụng trong nghiên cứu đề tài luận án, đó là các phương pháp: 19 phương pháp phân tích tổng hợp, phương pháp phân tích định tính, phương pháp phân tích định lượng. Phương pháp phân tích tổng hợp được sử dụng xuyên suốt trong các nội dung của luận án và đây cũng chính là phương pháp nghiên cứu chủ yếu của luận án. Bên cạnh phương pháp phân tích tổng hợp, luận án còn sử dụng hai phương pháp nghiên cứu rất phổ biến trong khoa học kinh tế hiện đại, đó là phương pháp nghiên cứu định tính và phương pháp nghiên cứu định lượng. Phương pháp nghiên cứu định tính được sử dụng trong luận án để xác định các câu hỏi nghiên cứu, xác định các tiêu chí đánh giá QLNN về TMĐT, thu thập ý kiến của các chuyên gia về những vấn đề còn tồn tại trong QLNN về TMĐT hiện nay đồng thời trao đổi về một số giải pháp hoàn thiện các nội dung QLNN về TMĐT ở Việt Nam.
Phương pháp nghiên cứu định lượng được sử dụng trong luận án để đo lường các kết quả thực hiện QLNN về TMĐT theo từng tiêu chí đồng thời kiểm tra tính phù hợp của thang đo từng tiêu chí. 20 CHƯƠNG 2 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ BÀI HỌC KINH NGHIỆM TRONG QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ 2. Thương mại điện tử 2. Khái niệm thương mại điện tử Quá trình phát triển của TMĐT gắn liền với sự phát triển của CNTT và Internet.
Bắt đầu từ năm 1995 khi thuật ngữ “electronic-commerce” được hãng máy tính IBM (International Business Machines) sử dụng thì những nghiên cứu về TMĐT mới chính thức được bắt đầu. Tuy đã thống nhất về mặt thuật ngữ song nếu chỉ dùng một định nghĩa ngắn gọn sẽ rất khó có thể nêu đầy đủ bản chất của TMĐT. Do vậy, định nghĩa về TMĐT cho đến nay vẫn chưa hoàn toàn thống nhất. Có thể hiểu khái niệm TMĐT theo hai nghĩa: Khái niệm TMĐT theo nghĩa hẹp TMĐT là việc mua bán hàng hóa và dịch vụ thông qua các phương tiện điện tử và mạng viễn thông, đặc biệt là máy tính và mạng Internet.
Theo cách hiểu này có một số khái niệm về TMĐT được các tổ chức, các nhà nghiên cứu đưa ra như sau: - Theo Kalakota & Whinston (1997): “TMĐT là quá trình mua, bán và trao đổi sản phẩm, dịch vụ và thông tin thông qua hệ thống máy tính trên nền Internet”. - Theo European Information Technology Observatory (EITO, 1997) “TMĐT là quá trình thực hiện các giao dịch kinh doanh có dẫn tới việc chuyển giao giá trị thông qua các mạng viễn thông”. - Theo Cục Thống kê Hoa Kỳ, “TMĐT là việc hoàn thành bất kỳ một giao dịch nào thông qua một mạng máy tính làm trung gian mà bao gồm việc chuyển giao quyền sở hữu hay quyền sử dụng hàng hóa và dịch vụ”. Như vậy theo nghĩa hẹp, TMĐT bắt đầu bằng việc các DN sử dụng các phương tiện điện tử và mạng Internet để mua bán hàng hóa và dịch vụ, các giao dịch có thể 21 giữa doanh nghiệp với doanh nghiệp, giữa doanh nghiệp với cá nhân hoặc giữa cá nhân với cá nhân.
Khái niệm TMĐT theo nghĩa rộng TMĐT là toàn bộ chu trình và các hoạt động kinh doanh liên quan đến các tổ chức hay cá nhân, được thực hiện thông qua phương tiện điện tử. Nói khác hơn, TMĐT là việc tiến hành hoạt động thương mại, sử dụng các phương tiện điện tử và công nghệ xử lý thông tin số hóa. Theo cách hiểu này có một số khái niệm về TMĐT được các tổ chức, các nhà nghiên cứu đưa ra như sau: Tổ chức Hợp tác & Phát triển Kinh tế - OECD (1997): “TMĐT gồm các giao dịch thương mại liên quan đến các tổ chức và cá nhân dựa trên việc xử lý và truyền đi các dữ kiện đã được số hóa thông qua các mạng mở (như Internet) hoặc các mạng đóng có cổng thông với mạng mở”. Nói khác hơn, TMĐT là việc làm kinh doanh thông qua mạng Internet, bán những hàng hóa và dịch vụ có thể được phân phối thông qua mạng hoặc những hàng hóa có thể mã hóa bằng kỹ thuật số và được phân phối thông qua mạng hoặc không thông qua mạng.
Ủy ban của Liên hợp quốc về Thương mại và Phát triển – UNCTAD: đưa ra định nghĩa đầy đủ nhất về các nước có thể tham khảo làm chuẩn, tạo cơ sở xây dựng chiến lược phát triển TMĐT phù hợp với nước mình. Dưới góc độ doanh nghiệp “TMĐT là việc thực hiện một phần hay toàn bộ hoạt động kinh doanh bao gồm marketing, bán háng, phân phối và thanh toán thông qua các phương tiện điện tử”. Khái niệm này đề cập đến toàn bộ hoạt động kinh doanh chứ không chỉ giới hạn riêng ở việc mua và bán, đồng thời toàn bộ các hoạt động kinh doanh này được thực hiện thông qua các phương tiện điện tử. Khái niệm này được viết tắt bởi bốn chữ MSDP, trong đó: M – Marketing (có trang web hoặc xúc tiến thương mại qua Internet) S – Sales (có trang web hỗ trợ chức năng giao dịch, ký kết hợp đồng) 22 D – Distribution (phân phối sản phẩm số hóa qua mạng) P – Payment (thanh toán qua mạng hoặc thông qua bên trung gian như ngân hàng) Như vậy đối với doanh nghiệp, khi sử dụng các phương tiện điện tử và mạng vào trong các hoạt động kinh doanh cơ bản như marketing, bán hàng, phân phối, thanh toán thì được coi là tham gia TMĐT.
Dưới góc độ quản lý nhà nước, TMĐT bao gồm các lĩnh vực: I – Infrastructure: cơ sở hạ tầng cho sự phát triển TMĐT M – Data Message: thông điệp dữ liệu B – Basic Rules: các quy tắc cơ bản S – Specific Rules: các quy tắc riêng trong từng lĩnh vực A – Applications: các ứng dụng Mô hình IMBSA đề cập đến các lĩnh vực cần xây dựng để phát triển TMĐT như sau: I (Infrastructure): cơ sở hạ tầng công nghệ thông tin và truyền thông. Một ví dụ điển hình là dịch vụ Internet băng rộng ADSL và cáp quang. Suy cho cùng, nếu không phổ cập dịch vụ Internet thì không thể phát triển TMĐT được. Chính vì vậy UNCTAD đã đưa ra lĩnh vực đầu tiên cần phải phát triển chính là cơ sở hạ tầng công nghệ thông tin và truyền thông, tạo nền tảng đầu tiên cho TMĐT.
M (Data Message): các vấn đề liên quan đến thông điệp dữ liệu. Thông điệp dữ liệu chính là tất cả các loại thông tin được truyền tải qua mạng, qua Internet trong TMĐT. Ví dụ như hợp đồng điện tử, các đơn hàng, các chứng từ thanh toán điện tử… đều được coi là thông điệp, chính xác hơn là “thông điệp dữ liệu”. Tại hầu hết các nước, những thông điệp dữ liệu khi được sử dụng trong các giao dịch TMĐT đều được thừa nhận về mặt giá trị pháp lý.
B (Basic Rules): các quy tắc cơ bản điều chỉnh chung về TMĐT. Đây chính là các luật điều chỉnh các lĩnh vực liên quan đến TMĐT trong một nước hoặc khu vực và quốc tế. A (Applications): được hiểu là các ứng dụng TMĐT hay các mô hình kinh doanh TMĐT cần được điều chỉnh, cũng như đầu tư, khuyến khích để phát triển trên cơ sở đã giải quyết được bốn vấn đề nêu trên. Khi các điều kiện trên đã được đảm bảo, sự thành công của một chiến lược TMĐT cần được đảm bảo rằng các doanh nghiệp tham gia TMĐT có thể thực sự thu lợi từ môi trường đã được tạo ra.
Thiết kế các trang web hiệu quả, thiết kế và thực thi các chiến lược liên minh thích hợp (gồm thông qua liên doanh hoặc liên minh) sẽ là một trong những điều kiện đảm bảo thành công trong TMĐT. Khái niệm TMĐT theo góc độ QLNN có hai điều đáng quan tâm. Thứ nhất, mô hình này là cơ sở để các chính phủ có thể xác định các nội dung cần có nhằm tạo ra một môi trường thích hợp cho sự phát triển của TMĐT. Thứ hai, dựa trên mô hình này, các tổ chức quốc tế có thể xác định phương hướng góp phần xây dựng hệ thống các hướng dẫn, các điều luật, các tiêu chuẩn, các quy định để TMĐT toàn cầu có thể trở thành hiện thực.
Qua nghiên cứu các khái niệm về TMĐT cùng với mục tiêu là hoàn thiện QLNN về TMĐT nên luận án sử dụng khái niệm TMĐT theo nghĩa rộng: TMĐT là việc tiến hành một khâu hoặc toàn bộ quy trình của hoạt động kinh doanh bằng các phương tiện điện tử có kết nối với mạng Internet, mạng viễn thông di động hoặc các mạng mở khác. Các đặc trưng của thương mại điện tử So với các hoạt động thương mại truyền thống, TMĐT có một số điểm khác biệt cơ bản sau: * Các bên tiến hành giao dịch trong TMĐT không tiếp xúc trực tiếp với nhau và không đòi hỏi phải biết nhau từ trước. Trong thương mại truyền thống, các bên thường gặp nhau trực tiếp để tiến hành giao dịch. Các giao dịch được thực hiện chủ yếu theo nguyên tắc vật lý như chuyển tiền, séc hóa đơn, vận đơn, gửi báo cáo.
Các phương tiện viễn thông như: fax, telex,… 24 chỉ được sử dụng để trao đổi số liệu kinh doanh. Tuy nhiên, việc sử dụng các phương tiện điện tử trong thương mại truyền thống chỉ để chuyển tải thông tin một cách trực tiếp giữa hai đối tác của cùng một giao dịch. TMĐT cho phép mọi người cùng tham gia từ các vùng xa xôi hẻo lánh đến các khu vực đô thị lớn, tạo điều kiện cho tất cả mọi người ở khắp nơi đều có cơ hội ngang nhau tham gia vào thị trường giao dịch toàn cầu và không đòi hỏi nhất thiết phải quen biết với nhau.