CHƯƠNG 1: TONG QUAN VỀ BẢO VE QUYEN SỞ HỮU TRÍ TUE TRONG THƯƠNG MẠI ĐIỆN TU VÀ PHAP LUAT VE BẢO VE QUYỀN SỞ HỮU TRÍ TUỆ TRONG THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỪ 1. Quyền sở hữu trí tuệ trong thương mại điện tử 1. Khái niệm quyền sở hữu trí tuệ trong thương mại điện từ Trí tuệ của con người là khả năng nhận thức lí tinh đạt dén một trình độ nhất định, sản phẩm do trí tuệ con người sáng tạo ra thông qua các hoạt động tư duy, sing tao trong các lĩnh vực công nghiệp, khoa hoc, văn hoc, nghệ thuật, đó goi là tai sản. Tai sản trí tuệ mang các thuộc tính nhw các loại tài sản vật chật thông thường, có thể mua bán, trao đổi, tặng cho, tuy vậy, tai sản trí tuệ là tai sản vô hình chứa ham lương chất xém cao, khác biệt với tai sản vật chất ở tính sáng tao, tính đổi mới.
N gười sở hữu tải sản trí tuệ chính là sở hữu các thông tin, nắm giữ các quyền đổi với tải sản trí tuê được nhà nước bảo hô, các quyên của chủ thé đôi với tài sản trí tuệ được nha nước bảo hộ, các quyên của chủ thê đối với tài sẵn trí tuệ đó là quyên sở hữu trí tuệ. Theo Công ước thành lập Tô chức Sở hữu trí tuệ thê giới (WIPO) ký ngày 14 tháng 7 năm 1967 quy định: “Quyên sở hữu trí tuệ bao gồm các quyên liên quan tới các tác phẩm khoa học, nghệ thuật va văn hoc, chương trình biểu điễn của các nghệ sĩ, các bản ghi âm và chương trình phát thanh, truyền hình, sáng chế trong tất ca các lĩnh vực hoạt động của con người, các phát minh khoa học, các kiểu dáng công nghiệp, các nhãn hiệu hàng hóa, nhãn liệu dịch vụ, các chỉ din và tên thương mại, bảo hộ chồng canh tranh không lành manh và tất ca các quyên khác là két quả của hoạt động trí tuệ trong lĩnh vực công nghiệp, khoa học, văn học hoặc nghé thuật "“ Ở Việt Nam, khái niệm quyên sở hữu trí tuệ sử dụng trong khoa học pháp lý được hiểu là quyền sở hữu đốt với các đối tượng sở hữu tri tuệ, quyển mà nhà nước đành cho các nhân, tổ chức là chit sở hữu tài sản trí tuệ sự kiếm soát độc quyển trong thời gian nhất định nhằm ngăn chăn sự khai thác các tài sản này một cách bat hop pháp5. Luật sở hữu trí tuệ 2005 (sửa đổi, bỗ sung năm 2019) (sau đây gọi tat là Luật Sở hữu trí tuộ trực tiệp đưa re định nghĩa như sau: “Quyển sở hữm trí tué là quyền * Lê Nết (2012), G áo trình Luat Sở hữu trí tuệ, Nxb. Đại học quốc ga Thanh phổ Hồ ChíMinh, Hồ Chí Minh * Trần Hồng Minh (2006), So sánh pháp luật về sở hữu trí tuệ của Việt Nam với Hiệ p định TRIPS— WTO, Vien Nghš n cứu Quản lý kinh tế Trung Ương, Ha Nội của tổ chức, cá nhân đối với tài sản trí tuệ, bao gồm quyền tác giả và quyén liên quan đến quyền tác giả.
quyển sở hữm công nghiệp và quyền đối với giống cay trồng ” (Khoản 1 Điều 4)’. Quyền sở hữu trí tuệ là quyên của chủ thể đối với loại tai sản đặc biệt đem lại lợi ích kinh té và giá tri tinh thân Khi công nghệ thông tra phát triển manh thì Internet và các mang mở là môi trường thúc day giao dịch thương mại điện tử, tải sẵn trí tuệ trở thành sẵn phẩm được mua bản, trao đôi thường xuyên. Thương mai điện tử là toàn bộ các giao dich mang tính thương mai được tiền hành bằng các phuong tiện điện tử (phương tiện hoạt động dua trên công nghệ điện, điện tử, kỹ thuật số, từ tính, truyện dẫn không dây, quang học, điện tử hoặc công nghệ tương tự).Š Đối tượng của giao dich thương mai điện tử là hàng hóa, dịch vụ hoặc sản. phẩm kỹ thuật số chịu tác đông của quyên sở hữu trí tuệ.
Nến kinh tê kỹ thuật sô tao ra sự lan toa nhanh chong các phương thức giao dich phi giây tờ làm cho quyên sở hữu của chủ thé đôi với các tài san trí tuệ có thé được nâng cao giá trị hoặc bị ảnh hưởng nghiệm trong: nhén hiệu hàng hóa bị giả mạo, bí mật kinh đoanh bị tiệt lộ, hay một tác phẩm nghệ thuật được sao chép, truyền tải sử dụng bat hợp pháp. Quyên sở hữu của chủ thé đối với tai sản trí tuệ trong thương mại điện tử phát sinh, thay đổi, châm đút dua trên cén cứ pháp lý chung của quyền sở hữu trí tuệ Ÿ Khái niệm quyên sở hữu trí tuệ trong thương mai điện tử không được quy định cụ thé trong các văn bản pháp luật, về bản chất, quyền sở hữu trí tuệ trong thương mai điện tử chính là quyền của các chủ thê đôi với tài sẵn trí tuệ trong lĩnh vực thương mai điện tử. Pháp luật sở hữu trí tuệ và pháp luật thương mai điện tử Viét Nam điêu chỉnh quyền sở hữu tri tuệ trong thương mại điện tử là nên tang dé đưa ra khái niém cơ bản về quyền sở hữu trí tuệ trong thương mai điện tử. Căn cứ vào Luật Sở hữu trí tué và Luật Giao dich điện tử năm 2005, quyền sở hữm trí tuệ trong thương mại điền từ được hiểu là quyên của tổ chức, cá nhân đối với tài sản trí tué trong các giao dịch thương mại được thực hiện thông qua phương tiện điện tir, ching hạn quyên sở hữu đối với phan mềm máy tính, tên thương mai trên website của một doanh nghiệp, ? Bộ Tư Pháp (2006), Những nội dung cơ bản của Luật Sở hữu trí tuệ, NXB Tư Pháp, Hà Nội.
* Mai Thị Mai Hương {2016), Pháp luật trong thương mai điện từ, Trưởng Cao dang thương mai, Da Nang. ? tê Đình Nghị, Vũ Thị Hải Yến (2004), G áo trình Luật Nxb. Giáo dục Việt Nam, Ha Nội. 8 Quyền sở hữu trí tuệ trong thương mai điện tử truộc quan hệ pháp luật dân sự, có nội dụng gồmquyền nhân thân và quyên tài sân đối với tài sản trí tué trong thương mai điện tử.
Quyên sở hữu trí tué trong thương mại điện tử được quy định tại Phân thứ Sáu Bộ luật dân sự năm 2005, Luật Sở hữu trí tuệ và các văn bản dưới luật. Tĩnh vực thương mai điện tử, quyền sở hữu trí tuệ có những đặc trưng riêng xuất phát từ tài sản trí tuệ được tạo lập đưới dang thông điệp đữ liêu (những thông tin được tao ta, được gửi đi, được nhân và được lưu trữ bằng phương tiện điện tử), sản phẩm kỹ thuật số, phân mém máy tính l0 Theo cách tiếp cận của pháp luật Việt Nam, quyên sở hữu trí tuệ được chia thành bền loại: quyên tác giả, quyên liên quan dén quyên tác giả; quyên sở hữu công nghiệp và quyền đối với giống cây trong Tuy nhiên, quyên sở hữu trí tué trong thương mại điện tử không bao gom quyên đối với giống cây trồng Quyên đối với giống cây trồng là quyền sở hữu của chủ thé đối với sin phẩm lả kết quả của quá trinh chon và tạo ra gióng cây trêng (Khoản 5 Điêu 4 Luật Sở hữu tri tuộ, gắn liên với vật chất lả giống cây trồng không thé đưa vào lưu thông trên phương tiện điện tử. Chỉ có những tai sản trí tué đáp ứng các tính chat chuyên biệt của thương mại điện tử moi được xem là quyền sở hữu trí tuệ trong thương mai điện tử: tính kỹ thuật số, phi vật chất, vô hành Quyên sở hữu trí tuệ trong thương mại điện tử gồm ba nhóm quyền: quyền tác giả, quyên liên quan dén tác giả; quyên sở hữu công nghiệp. Quyển tác gid trong thương mại điện tir bao gồm quyền nhân thân, quyền tài sẵn của tác giả, chủ sở hữu quyên tác giả đối với tác phẩm văn học, nghệ thuật, khoa học trong thương mai điện tử.
Theo Luật Sở hữu tri tuệ, quyên tác gia là quyền của tô chức, cá nhân đối với tác pham do minh sáng tạo ra hoặc sở hữu (Khoản 2, Điều 4). Chủ thể của quyên tác giả trong thương mại điện tử là tác giả (người sáng tạo tác phẩm văn học, nghệ thuật, khoa học) và chủ sở hữu quyên tác giả (tô chức, cá nhân nam giữ một, một số hoặc toàn bộ các quyền tai sản đối với tác phẩm). Quyền liên quan đến tác giả (sau đây gọi là liễn quan) trong thương mại điện từưlà quyên của tô chức, cá nhân đối với cuộc biểu diễn, ‘ban ghi âm, ghi hình, chương trình phát sóng, tin hiệu vệ tinh mang chương trình được ma hóa trong thương mại * Đại học Luật Ha Nội (2008), G iáo trình luật sở hữu trí tuệ Viet Nam, Nxb. Công an nhân đản, Ha Nội.
Chủ thé của quyên liên quan là người biểu diễn (diễn viên, ca sỹ, nhạc công, vũ công và những người khác trình bay tác phẩm văn học, nghệ thuật) và nhà đầu tư (chủ sở hữu cuộc biểu diễn); nha sản xuất bản ghi âm, ghi âm (tô chức, cá nhân định Bình lân dau âm thanh, hình anh của cuộc buổi dién hoặc các âm thanh, hình ảnh); tô chức phát sóng (tô chức khởi xướng và thực hién việc phát sóng) 1 Quyền sở hữu công nghiệp trong thương mại điện từ là quyền của tô chức, cá nhân đối với sáng ché, kiểu. đảng công nghiệp, nhãn hiệu, tân thương mai, bí mat kinh doanh do minh sáng tạo ra hoặc sở hữu và quyên chồng canh tranh không lành menh trong thương mai điện tử. Chủ thé của quyền sở hữu công nghiệp trong thương mai điện tử là tác giả của đối tượng sở hữu công nghiệp (1a cá nhân, tô chức sáng tạo sản phẩm trí tuệ được bảo hộ đưới dang sở hữu công nghiệp) hoặc chủ sở hữu của đối tượng sở hữu công nghiệp (cá nhân, tổ chức được cơ quan nhà nước cấp bằng hoặc chuyển giao văn bằng bảo hộ). Tac đông hai chiêu của thương mai điện tử sở hữu trí tué làm nay sinh nhu câu bão vệ quyên sở hữu trí tuệ trong thương mai điện tử.
Theo cách phân chia của Luật thương mại năm 2005, thương mai được liệt kê gom bổn loại hoạt động mua bán hàng hóa, cung ứng dich vụ, đầu tư xúc tiên thương mai, các hoạt đông thương mai khác nhém mục đích sinh lợi (Khoản 1 Điêu 3). Các giao dịch thương mại được thực hiện thông qua phương tiện điện tử: điện báo, telex, fax, thư điện tử, trang web. được gọi là thương mai điện tử.