Luận án tiến sĩ y học: Nghiên cứu đặc điểm kỹ thuật và đánh giá kết quả ghép thận từ người cho sống tại Bệnh viện Việt Đức

Dưới đây là các meta tags cho bài viết: { "ai_description": "Nghiên cứu kỹ thuật và đánh giá kết quả phẫu thuật ghép thận lấy từ người cho sống tại bệnh

Trường đại học

Học viện Quân y

Chuyên ngành

Ngoại khoa

Tác giả

Đỗ Ngọc Sơn

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận án tiến sĩ y học

2019

212
0
0

Phí lưu trữ

55 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan về ghép thận từ người cho sống tại Việt Đức

Ghép thận là phương pháp phẫu thuật thay thế thận hiện đại nhất hiện nay. Phương pháp này điều trị triệt để cho bệnh nhân suy thận mạn giai đoạn cuối. So với chạy thận nhân tạo kéo dài, ghép thận mang lại chất lượng sống cao hơn. Chi phí điều trị dài hạn cũng thấp hơn. Ghép thận lấy từ người cho sống đang ngày càng phổ biến. Người cho sống thường là người thân trong gia đình. Điều này giúp giảm thời gian chờ đợi nội tạng. Tại Bệnh viện Việt Đức, ghép thận từ người cho sống được triển khai thường quy. Nghiên cứu này được thực hiện dựa trên số liệu thực tế. Luận án tiến sĩ y học nghiên cứu đặc điểm kỹ thuật và đánh giá kết quả phẫu thuật. Mục tiêu nhằm hoàn thiện quy trình phẫu thuật. Nghiên cứu cũng đánh giá tính an toàn và hiệu quả của phương pháp. Kết quả nghiên cứu góp phần nâng cao chất lượng điều trị. Ghép thận từ người cho sống là hướng đi bền vững. Phương pháp này giúp giải quyết tình trạng thiếu nguồn tạng. Nhiều bệnh nhân được cứu sống nhờ phương pháp này.

1.1. Vai trò của ghép thận trong điều trị suy thận mạn

Ghép thận là giải pháp thay thế thận cơ bản trong điều trị suy thận mạn. Bệnh nhân suy thận mạn giai đoạn cuối cần điều trị thay thế thận. Các phương pháp gồm chạy thận nhân tạo, thẩm phân phúc mạc và ghép thận. Ghép thận là phương pháp triệt để nhất. Bệnh nhân sau ghép thận có thể trở lại cuộc sống bình thường. Họ không phụ thuộc vào máy chạy thận. Chất lượng cuộc sống được cải thiện rõ rệt. Chi phí dài hạn thấp hơn so với lọc máu. Ghép thận từ người cho sống có nhiều ưu điểm. Nguồn tạng chủ động, thời gian chờ ngắn. Thận từ người cho sống thường có chất lượng tốt. Kết quả ghép cũng tốt hơn so với thận từ người cho chết não.

1.2. Lịch sử và tình hình ghép thận tại Bệnh viện Việt Đức

Bệnh viện Việt Đức là trung tâm ngoại khoa lớn nhất cả nước. Ghép thận được triển khai tại đây từ nhiều năm. Đội ngũ phẫu thuật viên giàu kinh nghiệm. Trang thiết bị hiện đại, đầy đủ. Nhiều nghiên cứu về ghép thận đã được thực hiện. Luận án tiến sĩ y học này là một trong số đó. Nghiên cứu tập trung vào ghép thận từ người cho sống. Đặc điểm kỹ thuật được phân tích chi tiết. Kết quả phẫu thuật được đánh giá khoa học. Nghiên cứu góp phần khẳng định vị thế của Bệnh viện Việt Đức. Đồng thời, nghiên cứu cung cấp dữ liệu quan trọng cho y học Việt Nam. Kinh nghiệm từ nghiên cứu được chia sẻ rộng rãi. Điều này thúc đẩy phát triển ghép tạng tại các trung tâm khác.

II. Phân tích đặc điểm kỹ thuật phẫu thuật ghép thận

Đặc điểm kỹ thuật đóng vai trò quyết định trong ghép thận. Các thao tác phẫu thuật cần chính xác và tỉ mỉ. Kỹ thuật nối mạch máu là bước quan trọng nhất. Động mạch thận có thể nối với động mạch chậu trong. Hoặc nối với động mạch chậu ngoài theo phương pháp tận-bên. Tĩnh mạch thận cần được bộc lộ đầy đủ. Trường hợp tĩnh mạch ngắn, cần xử trí đặc biệt. Thận ghép thường được đặt ở hố chậu phải. Niệu quản được nối vào bàng quang bằng kỹ thuật khâu niêm mạc. Các biến chứng có thể gặp như rò niệu quản, hẹp niệu quản. Nghiên cứu phân tích kỹ từng bước kỹ thuật. Kết quả được ghi nhận và đối chiếu với y văn. Các đặc điểm kỹ thuật được mô tả chi tiết. Điều này giúp chuẩn hóa quy trình phẫu thuật. Phẫu thuật viên có thể áp dụng dễ dàng. Đặc điểm giải phẫu của thận ghép được đánh giá trước mổ. Mạch máu phụ được xử trí theo từng trường hợp cụ thể. Kỹ thuật ghép thận tại Việt Đức ngày càng hoàn thiện.

2.1. Kỹ thuật nối mạch máu thận ghép

Kỹ thuật nối mạch máu quyết định sự sống của thận ghép. Động mạch thận thường được nối với động mạch chậu. Nhiều nghiên cứu ưu tiên nối với động mạch chậu trong. Một số trung tâm chọn động mạch chậu ngoài. Tại Bệnh viện Việt Đức, kỹ thuật tận-bên được áp dụng. Tĩnh mạch thận cần bộc lộ đủ chiều dài. Trường hợp tĩnh mạch ngắn cần xử trí đặc biệt. Người nhận béo phì cũng cần điều chỉnh kỹ thuật. Kỹ thuật này đã được nhiều tác giả áp dụng thành công. Kết quả cho thấy tỷ lệ biến chứng mạch máu thấp. Lưu lượng máu qua thận ghép ổn định. Chức năng thận phục hồi tốt sau ghép.

2.2. Kỹ thuật nối niệu quản bàng quang

Niệu quản là cầu nối dẫn nước tiểu từ thận ghép. Kỹ thuật nối niệu quản với bàng quang cần cẩn thận. Mục tiêu là tạo miệng nối kín, không rò rỉ. Phương pháp khâu niêm mạc-bàng quang thường được dùng. Có thể đặt ống JJ làm nòng để hỗ trợ. Biến chứng thường gặp là rò niệu quản và hẹp niệu quản. Rò niệu quản xảy ra ở khoảng 3% thận ghép. Hẹp niệu quản thường gặp ở một phần ba dưới. Hoại tử niệu quản do thương tổn mạch máu nuôi. Cần tôn trọng tam giác vàng khi phẫu tích. Tổ chức mỡ quanh niệu quản phải được giữ nguyên. Điều này tránh biến chứng hoại tử niệu quản.

III. Phương pháp nghiên cứu ghép thận và giải pháp kỹ thuật

Nghiên cứu được thiết kế theo phương pháp mô tả hồi cứu và tiến cứu. Bệnh nhân được chọn theo tiêu chuẩn chặt chẽ. Người cho sống phải đủ điều kiện sức khỏe. Các xét nghiệm hòa hợp miễn dịch được thực hiện đầy đủ. Quy trình phẫu thuật được thực hiện theo phác đồ chuẩn. Phẫu thuật viên thực hiện các bước theo đúng quy trình. Sau ghép, bệnh nhân được theo dõi sát sao. Các chỉ số chức năng thận được đánh giá định kỳ. Siêu âm Doppler kiểm tra lưu lượng máu thận ghép. Chỉ số kháng trở động mạch được đo đạc. Biến chứng sớm và muộn đều được ghi nhận. Kết quả được xử lý bằng phần mềm thống kê. Phương pháp nghiên cứu đảm bảo độ tin cậy. Dữ liệu được phân tích một cách khoa học. Thời gian theo dõi trung bình đủ dài để đánh giá. Mọi thông tin bệnh nhân được bảo mật tuyệt đối. Nghiên cứu tuân thủ nghiêm ngặt các quy định đạo đức.

3.1. Thiết kế nghiên cứu và tiêu chuẩn chọn bệnh nhân

Đối tượng nghiên cứu là bệnh nhân ghép thận từ người cho sống. Nghiên cứu thực hiện tại Bệnh viện Việt Đức. Tiêu chuẩn chọn người cho gồm sức khỏe tốt, tự nguyện. Người cho phải trên 18 tuổi. Chức năng thận của người cho phải bình thường. Người nhận được đánh giá toàn diện trước ghép. Các xét nghiệm hòa hợp mô HLA được thực hiện. Kết quả phẫu thuật được theo dõi dọc theo thời gian. Dữ liệu thu thập đầy đủ, chính xác. Nghiên cứu tuân thủ các nguyên tắc đạo đức y học. Số liệu được phân tích bằng phần mềm thống kê chuyên dụng. Kết quả có ý nghĩa thống kê rõ ràng. Tiêu chuẩn loại trừ được áp dụng chặt chẽ. Mẫu nghiên cứu đủ lớn và đại diện.

3.2. Quy trình kỹ thuật phẫu thuật ghép thận

Quy trình phẫu thuật ghép thận được chuẩn hóa. Bước đầu tiên là phẫu tích bộc lộ thận ghép. Thận được lấy từ người cho sống bằng phẫu thuật nội soi hoặc mổ mở. Sau đó, thận ghép được xử lý trên bàn. Mạch máu được làm sạch và chuẩn bị miệng nối. Người nhận được rạch da và bộc lộ hố chậu. Động mạch và tĩnh mạch chậu được phẫu tích. Thận ghép được đặt vào hố chậu phải. Miệng nối mạch máu được thực hiện tỉ mỉ. Cuối cùng, niệu quản được nối với bàng quang. Toàn bộ quy trình đảm bảo vô khuẩn tuyệt đối. Thời gian thiếu máu nóng và lạnh được kiểm soát. Các biến chứng trong mổ được xử trí ngay lập tức.

IV. Kết quả và ứng dụng của ghép thận người cho sống

Kết quả phẫu thuật ghép thận tại Bệnh viện Việt Đức rất khả quan. Tỷ lệ thận ghép hoạt động tốt sau phẫu thuật cao. Chức năng thận phục hồi nhanh chóng sau ghép. Creatinin máu trở về bình thường sau vài ngày. Lượng nước tiểu tăng lên rõ rệt. Biến chứng phẫu thuật chiếm tỷ lệ thấp. Các biến chứng nhẹ được xử trí hiệu quả. Bệnh nhân xuất viện trong thời gian ngắn. Nghiên cứu chứng minh phương pháp này an toàn. Ghép thận từ người cho sống là giải pháp hiệu quả. Kết quả này góp phần thúc đẩy chương trình ghép tạng. Ứng dụng lâm sàng mang lại lợi ích lớn cho bệnh nhân. Người bệnh không còn phụ thuộc máy chạy thận. Chi phí điều trị dài hạn giảm đáng kể. Chất lượng cuộc sống của người bệnh được cải thiện. Nghiên cứu mở ra hướng phát triển mới cho ngành ngoại khoa. Kinh nghiệm từ nghiên cứu được phổ biến rộng rãi.

4.1. Đánh giá kết quả phẫu thuật và biến chứng

Kết quả phẫu thuật được đánh giá qua nhiều chỉ số. Chức năng thận ghép là tiêu chí quan trọng nhất. Creatinin máu giảm dần sau mổ. Mức lọc cầu thận tăng lên ổn định. Siêu âm Doppler cho thấy mạch máu thông tốt. Chỉ số kháng trở động mạch nằm trong giới hạn bình thường. Các biến chứng sớm được phát hiện kịp thời. Rò niệu quản, hẹp niệu quản được xử trí hiệu quả. Tỷ lệ thải ghép cấp thấp. Thuốc ức chế miễn dịch được sử dụng hợp lý. Bệnh nhân tuân thủ điều trị tốt. Kết quả dài hạn duy trì ổn định. Tỷ lệ sống của thận ghép cao. So sánh với y văn, kết quả tương đương hoặc tốt hơn. Nghiên cứu khẳng định chất lượng chuyên môn cao. Ghép thận tại Việt Đức đạt chuẩn quốc tế.

4.2. Ứng dụng lâm sàng và giá trị thực tiễn

Kết quả nghiên cứu có giá trị ứng dụng cao. Quy trình kỹ thuật được chuẩn hóa. Các trung tâm ghép tạng có thể áp dụng. Kinh nghiệm được chia sẻ trong cộng đồng y khoa. Bệnh nhân suy thận mạn có thêm cơ hội điều trị. Ghép thận từ người cho sống giảm áp lực chờ đợi. Nguồn tạng từ người cho sống chủ động hơn. Chất lượng thận ghép tốt hơn. Kết quả dài hạn khả quan hơn. Nghiên cứu góp phần phát triển ghép tạng tại Việt Nam. Định hướng cho các nghiên cứu tương lai. Mở rộng chỉ định ghép thận an toàn. Mang lại hy vọng cho nhiều bệnh nhân. Phương pháp này xứng đáng được nhân rộng.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI. Nếu bạn thấy nội dung không chính xác hoặc có vấn đề, vui lòng Báo lỗi nội dung.

19/05/2026
Luận án tiến sĩ y học nghiên cứu đặc điểm kỹ thuật và đánh giá kết quả phẫu thuật ghép thận lấy từ người cho sống tại bệnh viện việt đức

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Sơ lược lịch sử ghép thận 1. Trên thế giới 1. Lịch sử từ trước khi ghép thận thành công ở người Ghép thận tự thân cho chó đã được Emerich Ullman (Vienna, Áo,1902) thực hiện thành công [23].

Cùng lúc đó Carrel, Briau và Villard đã cải biên phương pháp khâu nối mạch máu và đứng đầu là kỹ thuật khâu nối mạch máu của Carrel. Vào năm 1912, Carrel đạt giải thưởng Nobel cho những nghiên cứu của mình về ghép tạng dị loài trên người [2]. Năm 1933, Voronoy lần đầu tiên thực hiện ghép thận đồng loại trên người và bệnh nhân chết vào ngày thứ 4 mà không có huyết khối mạch ghép [2]. đã thực hiện thành công ca ghép thận trên người đầu tiên tại Pháp nhưng thải ghép sau 3 tuần và năm 1953, Michon L.

và cs thực hiện ghép thận từ người cho sống có quan hệ huyết thống [1], [2]. Nguyên nhân thất bại của giai đoạn này là chưa phát hiện ra nguyên lý miễn dịch của ghép, cơ chế đáp ứng miễn dịch dịch thể hay miễn dịch tế bào cũng như việc lấy và bảo quản tạng. Lịch sử kể từ khi thành công ca ghép thận sinh đôi cùng trứng Ngày 23/4/1954, Tại Boston, Murray J. và cs đã ghép thận thành công cho cặp ghép thận sinh đôi cùng trứng và sống được 8 năm [23].

Sau nỗ lực đó, cho đến năm 1956, 19 ca ghép đôi khác đã thực hiện thành công với tỷ lệ tái phát 30% của bệnh viêm cầu thận mạn. Năm 1960, các nhà y học nắm rõ được quy luật thải loại của hệ miễn dịch. Với các chất ức chế miễn dịch như cortisone, azathioprine, immutran serum antilymphocytaire, các nhà phẫu thuật Mỹ đã có thể tiến 14 hành ghép thận từ người cho không cùng huyết thống và từ thận cho của người chết. thành công trong ghép thận cùng huyết thống và Kuss R.

cũng thành công trong ghép thận không cùng huyết thống [1], [2]. Khi đó có dùng thuốc ức chế miễn dịch tỷ lệ thành công ghép thận cùng huyết thống là 70% còn không cùng huyết thống là 20%. Ghép không cùng huyết thống, không dùng thuốc ức chế miễn dịch, cơ hội sống sót chỉ là 1%. Năm 1974 cyclosporin ra đời làm tỷ lệ sống trên 1 năm của người ghép thận tăng lên 80 – 90% so với 20% trước đó.

Năm 1985, Thomas Starzl sử dụng thuốc ức chế miễn dịch mới FK 506 của Nhật sau ghép và không có một trường hợp nào phản ứng thải loại [24]. Sau này, phản ứng thải loại hầu như được khắc phục nhờ: Mycophénolic 1985, Tacrolimus 1989, Ropamycin, Mizoribin, Mycophenolat mophétil 2004. và nhờ đó ghép thận đã trở thành thường quy ở các nước phát triển. Tại Việt Nam Tại Việt Nam, ghép thận mới phát triển vào những năm 1990.

Tuy nhiên, ý tưởng ghép thận đã có từ những năm 70 khi Lê Thế Trung, Học viện Quân y chuẩn bị cơ sở vật chất và tiến hành ghép thận thực nghiệm [3]. Ngày 4/6/1992, ca ghép thận đầu tiên từ người cho sống cùng huyết thống được thực hiện tại Học viện Quân y và sau đó nhiều trung tâm lớn khác tại Việt Nam bắt đầu thực hiện ghép thận: Bệnh viện Chợ Rẫy (12/1992), Bệnh viện Việt Đức (8/2000), Bệnh viện Trung Ương Huế (7/2001), Bệnh viện Nhân dân Gia Định (1/2002), Bệnh viện Nhân dân 115 (2/2004) và Bệnh viện Nhi Trung Ương (5/2004) [3], [4], [5]. 15 “Luật hiến, lấy, ghép mô, bộ phận cơ thể người và hiến, lấy xác” được Quốc hội nước cộng hoà Xã hội chủ nghĩa Việt Nam thông qua và thực hiện từ ngày 1 tháng 7 năm 2007 (luật số 75/2006/QH11). Ngày 23 tháng 4 năm 2008, ca ghép thận từ người cho chết não đầu tiên tại Việt Nam được thực hiện tại Bệnh viện Chợ Rẫy và ngày 7 tháng 5 năm 2010 Bệnh viện Việt Đức lần đầu tiên thực hiện cùng lúc 2 trường hợp ghép thận và 1 trường hợp ghép gan từ người cho chết não [25], [26].

Từ 11/2012 trở về trước có 900 ca ghép thận (847 ca từ người cho sống và 53 ca từ người cho chết não) được thực hiện tại 14 cơ sở y tế trên cả nước. Đến hết năm 2016 tại Việt Nam đã có 18 cơ sở y tế được cấp phép và thực hiện ghép thận thành công với tổng số thận ghép lên đến 2106 ca [27]. Hiện nay nhiều cơ sở y tế đã thực hiện ghép thận thường quy với nhiều trường hợp ghép khác nhóm máu, ghép không cùng huyết thống nhờ ứng dụng các loại thuốc ức chế miễn dịch mới mang lại hiệu quả tốt hơn. Kết quả theo dõi sau ghép thận cho thấy tỉ lệ sống thêm sau ghép của bệnh nhân và của thận ghép ngày càng gia tăng (trên 90%) [26].

Do vậy con số thông báo mới nhất tính đến 30/6/2018 nước ta đã tiến hành ghép thận cho 3047 ca, trong đó 2908 ca từ người cho sống, 137 ca từ người cho chết não và 2 ca từ người cho chết tim [28]. Những cơ sở giải phẫu học liên quan tới ghép thận 1. Giải phẫu thận liên quan tới ghép thận 1. Thận về đại thể Thận gồm hai mặt: mặt trước lồi, mặt sau phẳng; hai cực: cực trên và cực dưới; hai bờ: bờ ngoài lồi, bờ trong lõm.

Chỗ lõm ở bờ trong gọi là rốn thận, rốn thận ở gần cực trên hơn là cực dưới và hơi lấn ra mặt trước. Kích thước thận Theo Đỗ Xuân Hợp và Nguyễn Quang Quyền chiều dài thận: 12cm, chiều rộng: 6 cm và dầy: 3 cm [29], [30]. 16 Theo Nguyễn Đình Mão nhận thấy kích thước thận ở Nam: Thận phải: dài 9,37cm, rộng 4,49 cm và dầy 3,32 cm Thận trái: dài 9,81 cm, rộng 4,55cm, và dầy 4,46cm Nữ: Thận phải: dài 9,16 cm, rộng 4,50cm và dầy 3,46 cm Thận trái: dài 9,55 cm, rộng 4,14cm, và dầy 3,56cm [31]. Hệ mạch máu chính của thận Cuống mạch thận được mô tả cổ điển gồm 1 động mạch (ĐM) và 1 tĩnh mạch (TM).

TM thận nằm ở bình diện giải phẫu trước hơn so với ĐM thận.  Động mạch thận Theo Nguyễn Quang Quyền, chiều dài của ĐM thận phải là 55mm, ĐM thận trái là 48,36mm và đường kính của mỗi ĐM từ 4,2­4,34 mm. 8% thận phải có ĐM cực trên, 4,8% thận trái có ĐM cực trên, 6,45% thận trái có ĐM cực dưới và 4,8% cả 2 bên thận cùng lúc có ĐM cực dưới [30]. Trịnh Xuân Đàn (1999), nghiên cứu giải phẫu mạch máu thận của người Việt Nam có ghi nhận 30,23% số thận có 2­3 ĐM, bên phải thay đổi số lượng nhiều hơn bên trái [32].

Điều này có ý nghĩa quan trọng trong lĩnh vực ghép thận, vì dễ thương tổn ĐM cực thận khi lấy thận ghép, đặc biệt thương tổn ĐM cực dưới có thể gây hoại tử niệu quản chỗ nối [33]. Trần Văn Hinh và cs (2005) nghiên cứu sự phân bố mạch máu vùng cuống thận trên tử thi để áp dụng trong ghép thận, nhận thấy 82,61% thận có 1 ĐM, 14,49% thận có 2 ĐM và 2,9% thận có 3 ĐM [33]. Theo Võ Văn Hải và cs (2011) cho thấy 75,64% thận có 1 ĐM, 21,79% thận có 2 ĐM, 1,92% thận có 3 ĐM, và 0,64% thận có 4 ĐM [34]. Tỷ lệ ĐM cực trên khá cao (38,46%), ĐM cực dưới thấp (5,77%) [34].

Nghiên cứu của Bùi Văn Mạnh (2015) cho thấy 83,85% thận có 1 ĐM, 14,91% thận có 2 ĐM, 0,93% thận có 3 ĐM và 0,31% thận có 4 ĐM [35]. Cấu trúc giải phẫu động mạch, tĩnh mạch thận nhìn theo mặt phẳng đứng dọc * Nguồn: theo Netter F. Đường kính của ĐM thận người Việt nam trưởng thành khoảng 4 ­ 7 mm trong 84,51% các trường hợp và ít thay đổi [32]. Một yếu tố quan trọng liên quan tới ghép thận là vị trí sắp xếp bình thường của mạch thận.

Ta thấy vị trí của TM cả 2 thận đều nằm ở mặt phẳng phía trước, ĐM thận trái và phải đều nằm ở mặt phẳng phía sau và cả ĐM và TM 2 thận đều nằm ở trước hệ thống bài xuất nước tiểu (hình 1.  Tĩnh mạch thận TM thận bắt nguồn từ vùng vỏ và tuỷ thận. Các TM ở cả 2 vùng đều đổ vào các TM cung, rồi tập trung về TM gian thùy, sau đó đổ ra các nhánh trong xoang. TM thận cuối cùng đổ về TM chủ dưới (TMCD) bằng một thân duy nhất hoặc 2 hay 3 nhánh nhưng đều thông nhau nên có thể khâu thắt các TM ngay tại gốc mà vẫn không có vấn đề nghiêm trọng [30].

Ngược lại đối với ĐM thận do không có nhánh nào nối với nhau trong thận 18 nên nếu buộc một nhánh ĐM thì sẽ thiếu máu phần nhu mô thận do nhánh ĐM đó nuôi dưỡng [30]. Đây cũng là một đặc điểm giải phẫu thận cần chú ý trong ghép thận. Thận có thể có nhiều TM dẫn máu về TMCD tương tự như ĐM thận. Số lượng TM thận thường gặp có từ 2 ­ 3 nhánh TM với tỷ lệ thay đổi từ 4,7 ­ 30,6% các trường hợp (TH) nghiên cứu.

Theo Trịnh Xuân Đàn thì thận có nhiều TM chiếm tỷ lệ 19,44% và gặp chủ yếu ở thận phải, trong đó thận có 2 TM chiếm đa số (16,67%) và chỉ có rất ít thận có 3 TM (2,78%) [32]. Chiều dài TM thận ảnh hưởng đến việc lựa chọn bên thận lấy ghép, vị trí đặt thận ghép ở người nhận cũng như chuẩn bị và lựa chọn kỹ thuật khâu nối mạch máu khi ghép của các tác giả trên thế giới. và cs chiều dài TM thận phải trung bình từ 20­40mm, thận trái từ 60­ 100mm [37]. và cs nghiên cứu 119 TH thận ghép phải lấy từ người cho chết nhận thấy chiều dài TM từ 21­71mm và chiều dài ĐM từ 44­111mm [38].

Nhìn chung đường kính TM thận dao động từ 0,6 ­ 1,8 cm. TM thận trái (0,8 ­ 1,8 cm) thường lớn hơn TM thận phải (0,6 ­ 1,6 cm). Niệu quản Niệu quản (NQ) là 1 ống dẫn nước tiểu từ thận xuống bàng quang (BQ). Chiều dài trung bình NQ từ 25­28 cm và đường kính NQ khi căng khoảng 5mm đều từ trên xuống trừ ba chỗ hẹp: khúc nối bể thận NQ, NQ bắt chéo ĐM chậu, đoạn trong thành BQ [30].

Các động mạch nuôi niệu quản * Nguồn: theo Anderson J. Phần dưới của đoạn NQ bụng được nuôi dưỡng bởi nhánh của ĐM chậu chung (ĐMCC). Đoạn NQ chậu được cung cấp máu bởi nhánh của ĐM bàng quang dưới hoặc đôi khi nhánh của ĐM trực tràng giữa (hình 1. ­ Tĩnh mạch: Máu trở về từ NQ đổ vào các TM tương ứng đi kèm ĐM [30].

Trong ghép thận, khi thận lấy ra cùng NQ thì ĐM nuôi NQ duy nhất tách từ ĐM thận nên NQ được cấp máu tối đa tới vị trí bắt chéo bó mạch chậu.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ