Chương 1: Những van dé lý luận về các tội phạm về ma túy. - Chương 2: Quy định của pháp luật hình sự Việt Nam về các tội phạm về ma túy. - Chương 3: Thực tiễn áp dụng quy định của pháp luật hình sự Việt Nam vê các tội phạm vê ma túy và giải pháp nâng cao hiệu quả áp dụng. II PHAN TONG QUAN TINH HÌNH NGHIÊN CỨU 1.
Tinh hình nghiên cứu ở Việt Nam Ở Việt Nam, trong lĩnh vực khoa học luật hình sự, các tội phạm về ma túy đã được nhiều tác giả nghiên cứu ở những cấp độ khác nhau, theo nhiều nhóm van đề khác nhau. Cụ thé: đã có khá nhiều các công trình khoa học như dé tài nghiên cứu; giáo trình, sách chuyên khảo, sách tham khảo; bài viết đăng trên các tạp chí chuyên ngành; luận án tiễn sĩ, luận văn thạc sĩ. nghiên cứu về nhóm tội phạm này hoặc từng tội phạm cụ thể. Trong các công trình đó, các tác giả đã tiến hành tìm hiểu, phân tích, đánh giá thực tiễn áp dụng hoặc bình luận.
những quy định của PLHS về tội phạm ma túy trong các BLHS qua các thời kỳ. Vi vậy, việc đánh giá tổng quan tình hình nghiên cứu sẽ giúp NCS hệ thống lại những vấn đề lý luận có liên quan, qua đó giúp NCS có cách tiếp cận đúng đắn trong quá trình thực hiện đề tài Luận án tiến sĩ của mình. Các công trình nghiên cứu liên quan đến Lý luận về các tội phạm VỀ ma túy Năm 1998, khi BLHS năm 1999 đang trong giai đoạn dự thảo, tác giả Trần Văn Luyện, một chuyên gia PLHS có uy tín, đã xuất bản cuốn sách chuyên khảo “Trách nhiệm hình sự đối với các tội phạm về ma túy ””. Đây là một công trình nghiên cứu có giá trị, cung cấp cho người đọc cái nhìn tổng quan về các tội phạm về ma túy, từ khái niệm, dấu hiệu pháp lý đặc trưng, định khung hình phạt.
Tuy nhiên, một số nội dung trong cuốn sách còn mang tính lý thuyết, chưa được áp dụng nhiều trong thực tiễn, không còn phù hợp với quy định của BLHS năm 2015. - Sách tham khảo "Các tội phạm về ma tuý: Đặc điểm hình sự, dấu hiệu pháp lý, các biện pháp phát hiện và diéu tra" của Ths. Nguyễn Phong Hoà” là một công trình nghiên cứu khoa hoc có giá tri, cung cap cho người đọc cái nhìn ° Trần Văn Luyện (2005), "Trach nhiệm hình sự đối với các tội phạm vé ma túy", Nxb.Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1998, tái bản lần thứ 2 vào năm 2002 và lần thứ 3 vào năm 2005. Nguyễn Phong Hoà (1998), "Các t6i phạm vé ma tuý: Đặc điểm hình sự, dau hiệu pháp lý, các biện pháp phát hiện và diéu tra", Nxb.
Công an nhân dân, Hà Nội. 12 tổng quan về các tội phạm về ma túy. Tác phẩm có nội dung được trình bày một cách logic, khoa hoc, dé hiểu và cung cấp cho người đọc cái nhìn tong quan về các tội phạm về ma túy, từ đặc điểm hình sự, dấu hiệu pháp ly, cho đến các biện pháp phát hiện và điều tra. Tuy nhiên, tác phẩm có một số nội dung chưa được áp dụng thực tiễn nhiều và một số nội dung đã không còn phù hợp với quy định của BLHS năm 2015.
- Bài viết "Quyên tài phán đối với tội phạm về ma tuý - so sánh quy định của các công ước quốc tế về kiểm soát ma tuy với pháp luật Việt Nam" của Ths. Nguyễn Thị Phuong Hoa’ tập trung nghiên cứu hai van đề chính là các quy định về quyền tài phán đối với tội phạm về ma túy trong các Công ước quốc tế về kiểm soát ma tuý và so sánh những quy định này với pháp luật Việt Nam. Bài viết cũng chỉ ra một số điểm khác biệt cần được xem xét dé hoàn thiện pháp luật Việt Nam như: (1) Quyên tai phán của quốc gia nơi hậu qua của tội phạm xảy ra thì pháp luật Việt Nam chỉ quy định đối với các tội sản xuất, tàng trữ, vận chuyên, mua bán trái phép chất ma túy, trong khi các Công ước quốc tế quy định đối với tất cả các tội phạm về ma túy: (2) Nguyên tắc có lợi cho người phạm tội thì pháp luật Việt Nam chỉ quy định áp dụng nguyên tắc này trong trường hợp áp dụng hình phạt, trong khi các Công ước quốc tế quy định áp dụng nguyên tắc này trong tất cả các giai đoạn t6 tụng hình sự. Bài viết đã góp phần làm rõ các quy định về quyền tài phán đối với tội phạm về ma túy trong các Công ước quốc tế và pháp luật Việt Nam.
Đồng thời bài viết cũng đã chỉ ra những điểm tương đồng và khác biệt cơ bản giữa hai hệ thống quy định này, từ đó tác giả có đề xuất một số kiến nghị nhăm hoàn thiện pháp luật Việt Nam trong lĩnh vực này. Tuy nhiên, bài viết chưa đưa ra các số liệu thống kê hoặc nghiên cứu thực tiễn dé làm rõ hơn cho các van dé được đê cập. Nguyễn Thi Phương Hoa (2017), “Quyển tài phán đối với tội phạm về ma tuý - so sánh quy định của các công ước quốc tê về kiêm soát ma tuy với pháp luật Việt Nam", Tạp chí Luật học sô tháng 7, Đại hoc Luật Hà Nội. 13 - Luận án tiến sĩ của Phạm Minh Tuyên về “Trách nhiệm hình sự đối với các toi phạm về ma túy trong Luật hình sự Việt Nam’” đã đề cập đến vẫn đề xác định TNHS đối với các tội phạm về ma túy trong Luật hình sự Việt Nam.
Luận án đi từ việc xác định các vẫn đề lý luận liên quan đến tội phạm về ma túy, sau đó phân tích và đánh giá các quy định về xác định TNHS đối với các tội phạm này. Trên cơ sở đó, tác giả chỉ ra những điểm hạn chế, bất cập của các quy định và đề xuất các giải pháp hoàn thiện nhằm góp phan hiệu qua trong công tác đấu tranh phòng chống tội phạm về ma túy, góp phần làm rõ những van dé lý luận và thực tiễn về xác định TNHS đối với tội phạm về ma túy. - Bài viết “Các tội phạm VỀ ma tuý - So sảnh giữa Bộ luật hình sự năm 1985 và Bộ luật hình sự năm 1999, của TS. Lê Thị Sơn” đã phân tích, so sánh các quy định về các tội phạm về ma túy giữa BLHS năm 1985 và BLHS năm 1999.
Theo tác giả, BLHS năm 1999 đã có nhiều điểm mới về các tội phạm về ma túy, đã sửa đổi, bô sung một số tội danh về ma túy; bổ sung thêm một số đối tượng tác động của tội phạm về ma túy như: Người chưa thành niên, phụ nữ có thai, phụ nữ đang nuôi con dưới 36 tháng tuổi; quy định rõ hơn về chủ thể của các tội phạm về ma túy: Tuôi chịu TNHS đối với tội phạm về ma túy là từ đủ 16 tuổi trở lên. Ngoai ra, BLHS năm 1999 quy định cụ thé hơn về hành vi phạm tội của các tội phạm về ma túy, quy định cụ thể hơn về lỗi của người phạm tội về ma túy: Người phạm tội về ma túy có thể phạm tội với lỗi cô ý trực tiếp hoặc cô ý gián tiếp. Bên cạnh những điểm mới đã nêu, BLHS năm 1999 cũng có một số điểm chưa hop lý, cần được sửa đổi, bổ sung như: BLHS năm 1999 chưa quy định cụ thể về việc xử lý hành vi sử dụng trái phép chất ma túy, dẫn đến tình trạng nhiều người sử dụng trái phép chất ma túy nhưng không bị truy cứu TNHS; một số dấu hiệu pháp lý của các tội phạm về Š'TS. Phạm Minh Tuyên (2006), "Trach nhiệm hình sự đối với các tội phạm về ma túy trong Luật hình sự Việt Nam".
? Lê Thị Sơn (2000), “Các tội phạm về ma tuy - So sánh giữa Bộ luật hình sự năm 1985 và Bộ luật hình sự năm 1999”, Tạp chí Luật học. 14 ma túy chưa được quy định cụ thể, dẫn đến khó khăn trong việc ADPL. Ví du: dấu hiệu “số lượng lớn” của chất ma túy chưa được quy định cụ thé, dẫn đến việc ADPL chưa thống nhất; một số hình phạt đối với các tội phạm về ma túy chưa đủ sức răn đe, phòng ngừa tội phạm. Ví dụ: hình phạt đối với tội tô chức, môi giới cho người khác sử dụng trái phép chất ma túy chỉ là phạt tù từ 3 tháng đến 7 năm, chưa tương xứng với tính chất nguy hiểm của hành vi phạm tội.
Bài viết đã có những phân tích, đánh giá sâu sắc về những điểm mới và chưa hợp lý của các quy định về các tội phạm về ma túy giữa hai Bộ luật gop phan nâng cao nhận thức và khả năng ADPL hình sự đối với các tội phạm vê ma túy. - Bài viết “Bàn về việc sửa đổi, bổ sung Điều 194 Bộ luật hình sự năm 1999” của tác giả Nguyễn Ngọc Anh'” đã phân tích những bat cập trong quy định của Điều 194 về tội tàng trữ, vận chuyền, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt chất ma túy của BLHS năm 1999. Tác giả bài viết đã chỉ ra rằng, việc giải thích và áp dụng nhiều điểm trong Điều luật này trên thực tế là chưa thong nhất, cụ thé là: Thi? nhất, về khái niệm “chất ma túy” thì nội hàm của khái niệm này chưa được quy định rõ ràng, dẫn đến việc áp dụng chưa thống nhất, có trường hợp không được coi là chất ma túy nhưng vẫn bị xử lý hình sự. Thứ hai, độ tuổi chịu TNHS đối với tội phạm về ma túy chưa phù hợp với thực tiễn, dẫn đến việc có trường hợp người chưa đủ 14 tuổi vẫn bị truy cứu TNHS.
7# ba, tội danh “mua bán trái phép chất ma túy” chưa rõ ràng, dẫn đến việc áp dụng chưa thống nhất, có trường hợp mua bán chất ma túy với số lượng nhỏ nhưng van bị truy cứu TNHS với khung hình phat cao. Từ những bất cập trên, tác giả đã đưa ra một số đề xuất nhằm bồ sung, hoàn thiện Điều 194, cụ thể là: Sửa đổi khái niệm “chất ma túy”: Quy định rõ ràng nội hàm '® Nguyễn Ngọc Anh (2009), “Bàn vẻ việc sửa đổi, bô sung Điễu 194 Bộ luật hình sự năm 1999”, Tạp chí Kiểm sát, số 4/2009, tr.