Tổng quan luận án

Luận án tiến sĩ luật học với đề tài "Các tội phạm về ma túy theo pháp luật hình sự Việt Nam" được thực hiện bởi nghiên cứu sinh Trần Thị Thu Hương, chuyên ngành Luật Hình sự và Tố tụng hình sự (mã số: 9.04) tại Trường Đại học Luật Hà Nội, dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS.TS Trương Quang Vinh (Hà Nội, năm 2024).

Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu

Sau hơn 35 năm tiến hành công cuộc đổi mới và 10 năm thực hiện Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011), Việt Nam đã đạt được nhiều thành tựu về kinh tế, chính trị, cải cách hành chính và cải cách tư pháp. Tuy nhiên, tình hình tội phạm trong những năm gần đây có xu hướng tăng cao, trong đó các tội phạm về ma túy có tính chất và mức độ nguy hiểm cao cho xã hội. Nhóm tội phạm này là nguồn gốc làm phát sinh nhiều loại tội phạm khác như giết người, cướp tài sản, trộm cắp tài sản, tội phạm xâm phạm tình dục, đồng thời kéo theo các bệnh truyền nhiễm nguy hiểm như HIV/AIDS, viêm gan B.

Theo số liệu thống kê của Tòa án nhân dân (TAND) tối cao giai đoạn 2013 - 2023, các cơ quan tiến hành tố tụng đã thụ lý và xét xử gần 210.000 vụ án ma túy với gần 273.000 bị cáo, chiếm xấp xỉ 30% tổng số vụ án và khoảng 22% tổng số bị cáo phạm tội được xét xử trên cả nước. Về mức độ hình phạt, có 5.740 bị cáo bị tuyên phạt mức án tù chung thân hoặc tử hình; 10.740 bị cáo chịu mức án từ 15 năm đến 20 năm tù. Nhiều vụ án mua bán, vận chuyển ma túy xuyên quốc gia có quy mô lớn đã bị xử lý nghiêm khắc, điển hình như vụ án năm 2014 do TAND tỉnh Quảng Ninh xét xử đã tuyên 30 án tử hình; vụ vận chuyển 300 bánh heroin trong can nhựa tại Phú Thọ năm 2016; vụ giấu 490 bánh heroin trong bình gas thuộc đường dây 1.200 bánh heroin (giai đoạn 2015 - 2016); vụ thu giữ 5,5 tấn ma túy và tiền chất tại biên giới Việt - Lào năm 2015; đường dây ma túy do Tráng A Tàng (Tàng Keangnam) cầm đầu đã mua bán 1.791 bánh heroin và hơn 550 viên ma túy tổng hợp, thu lời bất chính 608.000 USD (bị bắt giữ năm 2013).

Bên cạnh đó, thực tiễn ghi nhận sự xuất hiện của nhiều chất ma túy mới chưa có trong Danh mục kiểm soát của Việt Nam. Ngày 21/7/2021, Cục Điều tra chống buôn lậu (Tổng cục Hải quan) đã ra văn bản cảnh báo về 8 chất ma túy mới lần đầu phát hiện tại Việt Nam gồm: 1eP-LDS, 2-FMA, 3-FEA, 3-MMC, MDMB-4en-PINACA, ADB-BUTINACA, 4F-MDMB-BUTICA và ABUTINACA. Những chất này có khả năng gây ảo giác, co giật, hôn mê và tử vong.

Về mặt thể chế và pháp lý, Đảng và Nhà nước đã ban hành các văn bản chỉ đạo và quy phạm pháp luật như Chỉ thị số 21-CT/TW ngày 26/3/2008 của Bộ Chính trị, Kết luận số 95-KL/TW ngày 02/4/2014 của Ban Bí thư, Luật Phòng, chống ma túy số 13/VBHN-VPQH ngày 23/7/2013, Nghị định số 73/2018/NĐ-CP ngày 15/5/2018 quy định về danh mục chất ma túy và tiền chất, Bộ luật Hình sự (BLHS) năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) và Nghị định số 19/2018/NĐ-CP ngày 02/02/2018 về tính tổng khối lượng hoặc thể tích chất ma túy. Dù hệ thống pháp luật đã được nâng cao, thực tiễn áp dụng vẫn tồn tại các trường hợp xác định chưa đúng tính chất nguy hiểm của hành vi, định tội danh thiếu chính xác, làm phát sinh nguy cơ oan sai hoặc bỏ lọt tội phạm; quyết định hình phạt có trường hợp quá nặng hoặc quá nhẹ. Kể từ khi BLHS năm 2015 có hiệu lực, số lượng công trình nghiên cứu chuyên sâu, tổng thể về nhóm tội phạm này chưa nhiều, đặt ra yêu cầu phải làm rõ toàn diện các vấn đề lý luận và thực tiễn thi hành.

Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu

  • Mục đích nghiên cứu: Đề xuất các giải pháp nâng cao hiệu quả áp dụng quy định của pháp luật hình sự về các tội phạm về ma túy ở Việt Nam trong thời gian tới dựa trên việc tổng hợp kết quả nghiên cứu lý luận, quy định pháp luật hình sự và thực tiễn áp dụng trong định tội danh và quyết định hình phạt.
  • Nhiệm vụ nghiên cứu:
    1. Phân tích một cách có hệ thống những vấn đề lý luận về các tội phạm về ma túy.
    2. Phân tích quy định của pháp luật hình sự Việt Nam về các tội phạm về ma túy đến trước khi ban hành BLHS năm 2015.
    3. Phân tích các dấu hiệu định tội, định khung và hình phạt của các tội phạm về ma túy quy định trong BLHS năm 2015.
    4. Phân tích, đánh giá thực tiễn áp dụng quy định của pháp luật hình sự Việt Nam trong định tội danh và quyết định hình phạt đối với các tội phạm về ma túy ở nước ta trong giai đoạn từ năm 2013 đến năm 2023, từ đó làm rõ những hạn chế, vi phạm, sai lầm trong thực tiễn áp dụng và nguyên nhân của những hạn chế, vi phạm, sai lầm đó.
    5. Đề xuất các giải pháp nâng cao hiệu quả áp dụng quy định của pháp luật hình sự đối với các tội phạm về ma túy ở nước ta trong thời gian tới.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

  • Đối tượng nghiên cứu: Các tội phạm về ma túy theo pháp luật hình sự Việt Nam, bao gồm quan điểm khoa học trong khoa học pháp lý và khoa học luật hình sự; hệ thống quy phạm pháp luật hình sự Việt Nam (có đối chiếu pháp luật quốc tế và một số quốc gia); thực tiễn áp dụng pháp luật hình sự đối với nhóm tội phạm này từ năm 2013 đến năm 2023.
  • Phạm vi nghiên cứu:
    • Góc độ chuyên ngành: Chuyên ngành luật hình sự và tố tụng hình sự.
    • Phạm vi áp dụng pháp luật: Giới hạn trong giai đoạn truy tố (với nội dung định tội danh của Viện kiểm sát) và giai đoạn xét xử sơ thẩm (với hai nội dung chủ yếu là định tội danh và quyết định hình phạt của Tòa án).
    • Nội dung quy định: Phân tích khái quát các giai đoạn trước BLHS năm 2015 và phân tích cụ thể dấu hiệu định tội, định khung, hình phạt trong BLHS năm 2015.
    • Phạm vi không gian: Toàn quốc.
    • Phạm vi thời gian: Thu thập, khảo sát số liệu và các vụ án điển hình giai đoạn 2013 - 2023, tập trung nghiên cứu sâu giai đoạn từ ngày 01/01/2018 đến tháng 12/2023.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Luận án đã phân loại và điểm lại các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước liên quan trực tiếp đến đề tài:

Các công trình nghiên cứu trong nước

  • Nhóm nghiên cứu về lý luận tội phạm ma túy:
    • Cuốn sách chuyên khảo "Trách nhiệm hình sự đối với các tội phạm về ma túy" của Trần Văn Luyện (Nxb. Chính trị quốc gia, 1998; tái bản năm 2002, 2005) cung cấp góc nhìn tổng quan về lý luận nhưng một số nội dung chưa cập nhật quy định của BLHS năm 2015.
    • Sách tham khảo của ThS. Nguyễn Phong Hoà (1998) về "Các tội phạm về ma tuý: Đặc điểm hình sự, dấu hiệu pháp lý, các biện pháp phát hiện và điều tra" (Nxb. Công an nhân dân).
    • Bài viết của ThS. Nguyễn Thị Phương Hoa (2017) trên Tạp chí Luật học về "Quyền tài phán đối với tội phạm về ma tuý - so sánh quy định của các công ước quốc tế về kiểm soát ma tuý với pháp luật Việt Nam".
    • Luận án tiến sĩ của TS. Phạm Minh Tuyên (2006) về "Trách nhiệm hình sự đối với các tội phạm về ma túy trong Luật hình sự Việt Nam".
    • Bài viết của TS. Lê Thị Sơn (2000) trên Tạp chí Luật học so sánh các quy định giữa BLHS năm 1985 và BLHS năm 1999.
    • Bài viết của Nguyễn Ngọc Anh (2009) trên Tạp chí Kiểm sát đề xuất sửa đổi Điều 194 BLHS năm 1999 liên quan đến khái niệm chất ma túy, độ tuổi chịu trách nhiệm hình sự và tình tiết định tội.
    • Bài viết của Nguyễn An Bình (2019) trên Tạp chí Kiểm sát phân tích vướng mắc trong BLHS năm 2015 như định nghĩa ma túy tại Điều 250 và sự bất cập trong phân hóa khối lượng định tội, định khung.
    • Các luận văn thạc sĩ luật học chuyên sâu: Nguyễn Thị Thu Thảo (2000 - 2010 tại Bắc Ninh), Nguyễn Thanh Dung (2012), Phạm Hồng Thủy (2016 tại Đà Nẵng), Hoàng Thị Thu Trang (2012), Trần Quốc Thắng (2012 tại Hà Nam), Phạm Thị Hồng Thắng (2015 tại Đắk Lắk).
  • Nhóm bình luận, giải thích quy định pháp luật hình sự:
    • Bộ sách bình luận khoa học BLHS của ThS. Đinh Văn Quế (2001, 2005); sách bình luận khoa học do TS. Uông Chu Lưu chủ biên (2004); sách bình luận khoa học BLHS năm 2015 (sửa đổi, bổ sung 2017) do GS.TS Nguyễn Ngọc Hoà chủ biên; sách chuyên khảo của PGS.TS Cao Thị Oanh (2023).
    • Các bài báo chuyên ngành: TS. Nguyễn Thị Mai Nga (2008, 2023) trên Tạp chí Kiểm sát; bài viết của Dương Văn Thịnh (2020) thuộc VKSND tỉnh Thái Nguyên về tình tiết "phạm tội 02 lần trở lên" và "đối với 02 người trở lên".
  • Nhóm nghiên cứu về thực tiễn thi hành và phòng, chống tội phạm:
    • Bài viết của Trần Ngọc Hương (2008) tại địa bàn tỉnh Sơn La; Đỗ Văn Kha (2010) về công tác phối hợp điều tra, truy tố, xét xử vụ án ma túy.
    • Luận án tiến sĩ của TS. Nguyễn Tuyết Mai (2007) về "Đấu tranh phòng chống các tội phạm về ma túy ở Việt Nam".
    • Đề tài nghiên cứu cấp tỉnh của TS. Phạm Minh Tuyên (2009 tại Bắc Ninh) và Nguyễn Việt Hùng (2007 tại Bắc Giang).
    • Đề tài nghiên cứu khoa học cấp bộ của TAND tối cao do ThS. Nguyễn Quang Lộc chủ nhiệm (2002, 2022).
    • Các luận văn thạc sĩ của Dương Thị Thủy Linh (2016 tại Thái Nguyên), La Thị Hằng (2020 tại Cao Bằng), Nguyễn Minh Thành (2011), Đặng Thị Thảo Lan (2005).

Các công trình nghiên cứu nước ngoài

  • Nghiên cứu ứng dụng kỹ thuật phân tích mạng lưới xã hội (SNA) trong tội phạm ma túy tại Đài Loan của Fu-Ching Tsai, Ming-Chun Hsu, Chien-Ta Chen, Da-Yu Kao (2019).
  • Quan điểm coi buôn bán ma túy là tội phạm cổ cồn trắng/thương mại tại Hoa Kỳ của Mark Osler và Thea Johnson (2015).
  • Nghiên cứu mô hình ba bên của Goldstein về tác động kinh tế - xã hội của ma túy tại Chile của Matias Fernandez (2020).
  • Các công trình lý thuyết và chính sách can thiệp của Glenn D. Walters (2014), Suzanne Fraser và David Moore (2022), Serge Brochu, Natacha Brunelle, Chantal Plourde (2022).
  • Các nghiên cứu lịch sử pháp lý và kiểm soát quốc tế: Melissa Bull (2008, 2016) về quản lý heroin và Công ước 1961; Marcel de Kort và Dirk J. Korf (1992) về mô hình tách thị trường và Đạo luật Thuốc phiện 1919 tại Hà Lan.
  • Nghiên cứu an ninh khu vực Đông Nam Á và ASEAN của Rendi Prayuda, Tulus Waristo, Surwandono (2021).
  • Tình hình tội phạm ma túy tại Trung Quốc của Zhonglin Chen và Kaicheng Huang (2018); khảo sát buôn bán ma túy cấp trung và cấp cao ở Bắc Âu qua 60 cuộc phỏng vấn của Victor L. Shammas, Sveinung Sandberg, Willy Pedersen (2014).
  • Tác động thực nghiệm của việc hợp pháp hóa cần sa tại Uruguay qua học thuyết tự kiểm soát và liên kết khác biệt của Nicolas Trajtenberg và Pablo Menes (2020).
  • Nghiên cứu về mức án tối thiểu bắt buộc của liên bang Hoa Kỳ của David Bjerk (2018); hệ thống thông tin đa tác nhân Sherpa tại Wisconsin của Rahul Bhaskar và Parag C. Pendharkar (2010).
  • Nghiên cứu về nữ giới phạm tội ma túy của Jessica Van Denend (2013) theo lý thuyết Melanie Klein; nghiên cứu về 35 phụ nữ Việt Nam thụ án ma túy tại Melbourne (Úc) liên quan đến cờ bạc của Roslyn Le và Michael Gilding (2019).
  • Khảo cứu tội phạm có tổ chức tại châu Mỹ của Bruce M. Bagley và Jonathan D. Rosen (2016); thẩm quyền tài phán phổ quát của Nghị viện Hoa Kỳ của Eugene Kontorovich (2020); nghiên cứu kiểm soát phi chính thức của Scott Jacques và Richard Wright (2011).

Khoảng trống luận án lựa chọn giải quyết

  1. Chưa có công trình làm rõ một cách toàn diện và sâu sắc nội dung khái niệm, đặc điểm pháp lý đặc thù của nhóm các tội phạm về ma túy trong hệ thống lý luận luật hình sự Việt Nam hiện đại.
  2. Chưa phân tích đầy đủ cơ sở lý luận và cơ sở thực tiễn phục vụ việc quy định và truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội ma túy theo cấu trúc của BLHS năm 2015.
  3. Chưa đi sâu đánh giá, tổng kết toàn diện những vướng mắc, sai lầm và nguyên nhân từ thực tiễn áp dụng các quy định của BLHS năm 2015 trong giai đoạn truy tố và xét xử sơ thẩm trên phạm vi toàn quốc.
  4. Chưa xây dựng được hệ thống giải pháp lập pháp đồng bộ nhằm sửa đổi, bổ sung BLHS năm 2015, bổ sung danh mục chất ma túy mới và hoàn thiện hướng dẫn nghiệp vụ thống nhất.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Phương pháp luận

Luận án được xây dựng dựa trên phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của Chủ nghĩa Mác - Lênin; Tư tưởng Hồ Chí Minh; hệ thống quan điểm, chủ trương, đường lối của Đảng và chính sách, pháp luật của Nhà nước Việt Nam về tội phạm, hình phạt, công tác phòng ngừa, đấu tranh chống tội phạm và chiến lược cải cách tư pháp.

Phương pháp nghiên cứu cụ thể

  • Phương pháp phân tích lý luận: Nghiên cứu các khái niệm, đặc điểm, nguyên nhân, hậu quả, các yếu tố cấu thành tội phạm, tiêu chí phân loại tội phạm ma túy và cơ sở quy định pháp luật qua hệ thống giáo trình, tài liệu, luận án, bài báo khoa học.
  • Phương pháp thống kê, phân tích, so sánh số liệu thống kê: Khảo sát, thu thập và xử lý các số liệu thực tế về số lượng vụ án, số lượng bị cáo, tình hình thụ lý, giải quyết và cơ cấu hình phạt áp dụng cho các tội phạm về ma túy giai đoạn 2013 - 2023.
  • Phương pháp tổng kết thực tiễn: Khảo sát các báo cáo công tác phòng, chống ma túy của các cơ quan chức năng, các bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật của Tòa án nhân dân và kết quả điều tra, truy tố, xét xử thực tế.
  • Phương pháp so sánh pháp luật: So sánh quy định pháp luật hình sự Việt Nam với các điều ước quốc tế mà Việt Nam ký kết hoặc tham gia (các Công ước của Liên hợp quốc) cùng quy định pháp luật hình sự của một số quốc gia trên thế giới nhằm xác định điểm tương đồng và khác biệt.
  • Phương pháp điều tra, thu thập, phân tích các vụ án điển hình: Trích xuất hồ sơ, bản án của các vụ án cụ thể để làm rõ các sai sót, vướng mắc trong định tội danh và lượng hình, làm căn cứ thực tiễn xây dựng giải pháp.

Nguồn tư liệu và dữ liệu

  • Văn bản pháp quy: BLHS năm 1985, BLHS năm 1999, BLHS năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); Luật Phòng, chống ma túy năm 2013; Nghị định số 73/2018/NĐ-CP, Nghị định số 19/2018/NĐ-CP và các văn bản hướng dẫn thi hành.
  • Số liệu thống kê xét xử của TAND tối cao từ năm 2013 đến năm 2023.
  • Danh mục hồ sơ, bản án sơ thẩm trên địa bàn cả nước giai đoạn 2013 - 2023 được tổng hợp tại các Phụ lục của luận án đối với 4 tội danh trọng điểm: Tội sản xuất trái phép chất ma túy (Phụ lục 1), Tội tàng trữ trái phép chất ma túy (Phụ lục 2), Tội vận chuyển trái phép chất ma túy (Phụ lục 3), Tội mua bán trái phép chất ma túy (Phụ lục 4).

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1. Những vấn đề lý luận về các tội phạm về ma túy

Chương này tập trung xây dựng cơ sở lý luận về tội phạm ma túy, cấu thành tội phạm, lý thuyết định tội danh và quyết định hình phạt:

  • Khái niệm và phân loại: Làm rõ định nghĩa khoa học về tội phạm ma túy; phân loại tội phạm ma túy theo khách thể, hành vi khách quan và mục đích phạm tội.
  • Các yếu tố cấu thành tội phạm về ma túy:
    • Khách thể: Xâm phạm chế độ quản lý độc quyền của Nhà nước đối với các chất ma túy, tiền chất, thuốc gây nghiện, thuốc hướng thần và trật tự an toàn công cộng.
    • Mặt khách quan: Các hành vi sản xuất, tàng trữ, vận chuyển, mua bán, chiếm đoạt, tổ chức sử dụng, chứa chấp sử dụng, cưỡng bức sử dụng, lôi kéo người khác sử dụng, trồng cây có chứa chất ma túy trái phép.
    • Mặt chủ quan: Đều được thực hiện với lỗi cố ý (cố ý trực tiếp hoặc cố ý gián tiếp tùy cấu thành cụ thể).
    • Chủ thể: Cá nhân có năng lực trách nhiệm hình sự và đạt độ tuổi luật định (từ đủ 14 tuổi hoặc từ đủ 16 tuổi trở lên tùy tội danh và loại tội phạm).
  • Cơ sở quy định: Luận giải cơ sở lý luận và cơ sở thực tiễn của việc hình sự hóa các hành vi vi phạm liên quan đến ma túy tại Việt Nam.
  • Pháp luật quốc tế và nước ngoài: Phân tích các điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên (Công ước thống nhất về các chất ma túy năm 1961 - SCoND, Công ước về các chất hướng thần năm 1971, Công ước của Liên hợp quốc về chống buôn bán bất hợp pháp các chất ma túy và chất hướng thần năm 1988) và đối chiếu với pháp luật hình sự một số quốc gia.
  • Lý luận về định tội danh và quyết định hình phạt: Khái quát các nguyên tắc, căn cứ lý luận định tội danh chính xác và quyết định hình phạt công minh, tương xứng với tính chất nguy hiểm của hành vi.

Chương 2. Quy định của pháp luật hình sự Việt Nam về các tội phạm về ma túy

Chương 2 trình bày quá trình phát triển lịch sử lập pháp và phân tích chi tiết quy định hiện hành:

  • Giai đoạn trước BLHS năm 2015:
    • Các quy định từ sau Cách mạng tháng Tám năm 1945 đến trước năm 1985.
    • Các quy định trong BLHS năm 1985 (bước đầu hệ thống hóa các tội phạm về ma túy).
    • Các quy định trong BLHS năm 1999 (bổ sung tội danh, cụ thể hóa các tình tiết định khung tăng nặng, đối tượng tác động đặc biệt như phụ nữ có thai, người chưa thành niên).
  • Quy định của BLHS năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017):
    • Phân tích các dấu hiệu pháp lý chung của nhóm tội phạm về ma túy.
    • Phân tích cụ thể các dấu hiệu định tội, định khung hình phạt đối với từng tội danh cụ thể trong chương các tội phạm về ma túy, đặc biệt là sự phân hóa về khối lượng, thể tích chất ma túy trong từng khung hình phạt và chế tài áp dụng.

Chương 3. Thực tiễn áp dụng quy định của pháp luật hình sự Việt Nam về các tội phạm về ma túy và giải pháp nâng cao hiệu quả áp dụng

Chương 3 đánh giá thực trạng áp dụng pháp luật dựa trên dữ liệu thống kê xét xử toàn quốc giai đoạn 2013 - 2023, chỉ rõ tồn tại và xác lập các định hướng hoàn thiện:

Chỉ số thống kê (Giai đoạn 2013 - 2023) Số liệu ghi nhận Tỷ lệ / Chi tiết
Tổng số vụ án xét xử Gần 210.000 vụ ~30% tổng số vụ án hình sự toàn quốc
Tổng số bị cáo xét xử Gần 273.000 bị cáo ~22% tổng số bị cáo hình sự toàn quốc
Hình phạt tù chung thân và tử hình 5.740 bị cáo Áp dụng cho các vụ án đặc biệt nghiêm trọng
Hình phạt tù từ 15 năm đến 20 năm 10.740 bị cáo Nhóm tội tàng trữ, vận chuyển, mua bán quy mô lớn
Vụ án xét xử điển hình TAND tỉnh Quảng Ninh (2014) Tuyên 30 bị cáo mức án tử hình
  • Các vướng mắc, hạn chế trong thực tiễn áp dụng:
    • Nhận thức và áp dụng chưa thống nhất các dấu hiệu định tội danh giữa tội tàng trữ, vận chuyển và mua bán trái phép chất ma túy.
    • Vướng mắc khi xử lý các tình tiết định khung tăng nặng như "phạm tội 02 lần trở lên" và "đối với 02 người trở lên".
    • Bất cập trong việc giám định và quy đổi khối lượng đối với các chất ma túy mới phát sinh chưa nằm trong Danh mục của Chính phủ.
    • Sai sót trong việc quyết định hình phạt chưa tương xứng với tính chất, mức độ nguy hiểm hoặc chưa áp dụng đúng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự.
  • Hệ thống giải pháp đề xuất:
    1. Sửa đổi, bổ sung quy định của BLHS năm 2015: Hoàn thiện định nghĩa khái niệm chất ma túy, điều chỉnh các tiêu chí định lượng khối lượng và phân định ranh giới giữa các tội danh.
    2. Bổ sung chất ma túy mới vào Danh mục: Kịp thời cập nhật các chất ma túy mới (như 8 chất ma túy mới phát hiện năm 2021) vào Danh mục các chất ma túy và tiền chất, nâng cấp trang thiết bị và kỹ thuật giám định.
    3. Tăng cường giải thích, hướng dẫn áp dụng thống nhất pháp luật: Hội đồng Thẩm phán TAND tối cao ban hành nghị quyết hướng dẫn thống nhất nghiệp vụ định tội danh và lượng hình.
    4. Nâng cao trình độ đội ngũ Thẩm phán và Hội thẩm nhân dân: Đào tạo chuyên sâu về kỹ năng xét xử án ma túy và phẩm chất chính trị, đạo đức nghề nghiệp.
    5. Thể chế hóa trách nhiệm hình sự của pháp nhân thương mại: Nghiên cứu mở rộng chủ thể chịu trách nhiệm hình sự là pháp nhân thương mại đối với một số hành vi phạm tội về ma túy phù hợp với thực tiễn hội nhập quốc tế.

Kết quả và những đóng góp mới

Luận án xác định 6 đóng góp mới về mặt khoa học:

  1. Tổng quan có hệ thống và đánh giá toàn diện tình hình nghiên cứu trong nước và quốc tế về các tội phạm về ma túy; chỉ ra các nội dung đã thống nhất, các vấn đề còn bất cập để xác lập câu hỏi và giả thuyết nghiên cứu.
  2. Phân tích, làm rõ những vấn đề lý luận nền tảng về tội phạm ma túy: khái niệm, đặc điểm chung, cấu thành tội phạm, phân loại tội phạm, cơ sở quy định pháp luật, lý luận về định tội danh và quyết định hình phạt.
  3. Phân tích nội dung các quy định pháp luật hình sự Việt Nam từ sau Cách mạng tháng Tám năm 1945 đến trước BLHS năm 2015; phân tích chi tiết các dấu hiệu định tội, định khung hình phạt của từng tội danh ma túy trong BLHS năm 2015.
  4. Đánh giá thực tiễn áp dụng pháp luật hình sự đối với tội phạm ma túy trên phạm vi toàn quốc giai đoạn 2013 - 2023, phân tích thực trạng định tội danh của Viện kiểm sát và quyết định hình phạt của Tòa án, làm rõ các hạn chế, sai phạm cùng nguyên nhân trực tiếp.
  5. Đề xuất hệ thống giải pháp đồng bộ và có tính khả thi nhằm nâng cao hiệu quả áp dụng BLHS năm 2015 đối với các tội phạm về ma túy, tập trung vào sửa đổi điều luật, cập nhật danh mục chất ma túy, ban hành văn bản hướng dẫn và thể chế hóa trách nhiệm hình sự của pháp nhân thương mại.
  6. Cung cấp nguồn tư liệu tham khảo khoa học cho công tác lập pháp, hoạt động thực thi tố tụng hình sự và công tác đào tạo, nghiên cứu luật hình sự tại Việt Nam.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế: Phạm vi nghiên cứu thực tiễn áp dụng pháp luật của luận án giới hạn chủ yếu ở giai đoạn truy tố (định tội danh của Viện kiểm sát) và giai đoạn xét xử sơ thẩm (định tội danh và quyết định hình phạt của Tòa án); số liệu và vụ án khảo sát tập trung trong khung thời gian 2013 - 2023 (đặc biệt là 2018 - 2023), chưa khảo sát toàn diện giai đoạn thi hành án hình sự hoặc điều tra chuyên sâu.
  • Hướng nghiên cứu tiếp: Tiếp tục nghiên cứu cơ chế xử lý hình sự đối với các loại ma túy mới liên tục biến đổi; hoàn thiện cơ sở pháp lý và quy trình tố tụng để truy cứu trách nhiệm hình sự đối với pháp nhân thương mại phạm tội về ma túy trong bối cảnh thương mại điện tử và tội phạm công nghệ cao xuyên quốc gia.

Giá trị tham khảo

  • Đối với cơ quan lập pháp và làm luật: Cung cấp luận cứ khoa học và cơ sở thực tiễn để xem xét sửa đổi, bổ sung các điều khoản về tội phạm ma túy trong BLHS năm 2015, bổ sung kịp thời Nghị định về danh mục chất ma túy và tiền chất.
  • Đối với cơ quan tiến hành tố tụng (Điều tra viên, Kiểm sát viên, Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân): Là tài liệu tham khảo trong thực tiễn định tội danh, đánh giá chứng cứ, xác định tình tiết định khung và cá thể hóa hình phạt đúng quy định.
  • Đối với cơ sở đào tạo và nghiên cứu: Phục vụ giảng dạy, học tập môn Luật Hình sự, Tố tụng hình sự và Tội phạm học cho giảng viên, nghiên cứu sinh, học viên cao học và sinh viên ngành Luật.

Câu hỏi thường gặp

1. Tình hình xét xử các tội phạm về ma túy tại Việt Nam giai đoạn 2013 - 2023 được thể hiện qua các số liệu thống kê nào?

Theo số liệu thống kê của TAND tối cao trong giai đoạn 2013 - 2023 được nêu trong luận án, các Tòa án đã xét xử gần 210.000 vụ án với gần 273.000 bị cáo phạm các tội về ma túy, chiếm xấp xỉ 30% tổng số vụ án và khoảng 22% tổng số bị cáo phạm tội trên cả nước. Trong đó, có 5.740 bị cáo bị tuyên phạt tù chung thân hoặc tử hình, và 10.740 bị cáo chịu mức án từ 15 năm đến 20 năm tù.

2. Các chất ma túy mới nào lần đầu xuất hiện tại Việt Nam được luận án đề cập cảnh báo?

Luận án dẫn cảnh báo ngày 21/7/2021 của Cục Điều tra chống buôn lậu (Tổng cục Hải quan) về 8 chất ma túy mới lần đầu phát hiện tại Việt Nam gồm: 1eP-LDS, 2-FMA, 3-FEA, 3-MMC, MDMB-4en-PINACA, ADB-BUTINACA, 4F-MDMB-BUTICA và ABUTINACA.

3. Phạm vi nghiên cứu thực tiễn áp dụng pháp luật của luận án được giới hạn trong những giai đoạn tố tụng nào?

Luận án giới hạn phạm vi nghiên cứu thực tiễn áp dụng pháp luật hình sự trong giai đoạn truy tố với nội dung định tội danh của Viện kiểm sát, và trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự với hai nội dung chủ yếu là định tội danh và quyết định hình phạt của Tòa án trên phạm vi toàn quốc giai đoạn 2013 - 2023 (trọng tâm từ 01/01/2018 đến tháng 12/2023).

4. Luận án đề xuất những nhóm giải pháp trọng tâm nào để nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật hình sự đối với tội phạm ma túy?

Luận án đề xuất 5 nhóm giải pháp: (1) Sửa đổi, bổ sung quy định của BLHS năm 2015; (2) Kịp thời bổ sung các chất ma túy mới vào Danh mục và nâng cao năng lực giám định; (3) Tăng cường giải thích, hướng dẫn áp dụng thống nhất pháp luật; (4) Nâng cao trình độ chuyên môn, phẩm chất của đội ngũ Thẩm phán và Hội thẩm nhân dân; (5) Thể chế hóa trách nhiệm hình sự của pháp nhân thương mại đối với các tội phạm về ma túy.

5. Những vụ án mua bán, vận chuyển ma túy quy mô lớn nào được luận án dẫn chứng minh họa?

Luận án dẫn chứng các vụ án lớn gồm: chuyên án ma túy tại Quảng Ninh năm 2014 với 30 án tử hình; vụ vận chuyển 300 bánh heroin trong can nhựa tại Phú Thọ (2016); vụ giấu 490 bánh heroin trong bình gas thuộc đường dây 1.200 bánh heroin (2015 - 2016); vụ thu giữ 5,5 tấn ma túy và tiền chất tại biên giới Việt - Lào (2015); và vụ án Tráng A Tàng (Tàng Keangnam) mua bán 1.791 bánh heroin cùng hơn 550 viên ma túy tổng hợp.


Kết luận

Luận án tiến sĩ "Các tội phạm về ma túy theo pháp luật hình sự Việt Nam" của tác giả Trần Thị Thu Hương là công trình nghiên cứu hệ thống thuộc chuyên ngành Luật Hình sự và Tố tụng hình sự. Tác giả đã làm rõ các vấn đề lý luận nền tảng, phân tích quá trình lập pháp qua các thời kỳ và đánh giá thực trạng áp dụng BLHS năm 2015 trên cơ sở dữ liệu xét xử thực tế giai đoạn 2013 - 2023 của Tòa án nhân dân các cấp. Các giải pháp do luận án đề xuất, bao gồm hoàn thiện kỹ thuật lập pháp, bổ sung danh mục chất ma túy mới và thể chế hóa trách nhiệm hình sự của pháp nhân thương mại, có giá trị trực tiếp cho công tác xây dựng và thi hành pháp luật hình sự tại Việt Nam.