Tổng quan luận án
Luận án tiến sĩ "Hát Xoan Phú Thọ trong bối cảnh di sản hóa ở Việt Nam" được nghiên cứu sinh Đỗ Thị Nhung thực hiện tại Học viện Khoa học Xã hội thuộc Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Việt Nam, dưới sự hướng dẫn khoa học của GS. Lê Hồng Lý. Đề tài thuộc chuyên ngành Văn hóa học (mã số: 9.40), theo định hướng nghiên cứu định tính dựa trên phương pháp điền dã dân tộc học, quan sát tham dự và phỏng vấn sâu.
Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu
Đề tài xuất phát từ quan sát thực địa trực tiếp của tác giả tại một phường Xoan cổ ở Phú Thọ. Sau buổi tập luyện theo quy chuẩn, các nghệ nhân ngồi lại hát những lời ca do chính họ sáng tác về các chủ đề đương đại như việc bầu cử hay dịch bệnh Covid-19. Một nghệ nhân (được đổi tên thành nghệ nhân Thái để bảo mật danh tính) chia sẻ rằng họ đang "hát trộm ông Sở" (Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Phú Thọ), bởi cơ quan quản lý hành chính chỉ cho phép thực hành đúng 31 bài bản cổ đã được Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa Liên hợp quốc (UNESCO) ghi danh. Nghệ nhân cũng bày tỏ sự không đồng thuận với trang phục diễn mới do cơ quan quản lý thiết kế vì thấy không đẹp bằng trang phục cũ, hoặc có thời điểm trời rét vẫn phải bỏ giày đi chân đất để thể hiện tính mộc mạc của nông dân theo yêu cầu dàn dựng.
Thực tế này làm bộc lộ mâu thuẫn căn bản giữa quản lý hành chính nhà nước và quyền tự quyết của "người mang di sản" (thuật ngữ trong Công ước 2003 của UNESCO). Luận án đặt ra các vấn đề cốt lõi: Di sản sau khi được ghi danh thuộc quyền sở hữu của ai; ai có thẩm quyền quyết định không gian, chủ thể và phương thức diễn xướng; và việc hành chính hóa các thực hành văn hóa có đi ngược lại tinh thần bảo tồn di sản sống hay không. Bối cảnh nghiên cứu còn gắn với thực trạng cả nước tính đến năm 2017 có gần 10.000 di tích cấp tỉnh và thành phố, 3.463 di tích cấp quốc gia, 95 di tích quốc gia đặc biệt, 249 di sản văn hóa phi vật thể trong danh mục quốc gia; cùng 8 di sản thế giới và 14 di sản văn hóa phi vật thể được UNESCO ghi danh (tính đến năm 2021).
Hát Xoan Phú Thọ được UNESCO ghi danh vào Danh sách Di sản văn hóa phi vật thể cần bảo vệ khẩn cấp vào ngày 24/11/2011; đến ngày 08/12/2017, di sản này được đưa ra khỏi tình trạng bảo vệ khẩn cấp để chuyển sang Danh sách Di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại. Sự chuyển đổi này kéo theo các chính sách can thiệp sâu rộng của chính quyền địa phương, làm biến đổi căn bản diện mạo thực hành Xoan trong đời sống đương đại.
Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu
Mục tiêu nghiên cứu là làm rõ diện mạo của Hát Xoan Phú Thọ sau khi được UNESCO ghi danh qua hai giai đoạn: giai đoạn cần bảo vệ khẩn cấp (từ 24/11/2011) và giai đoạn di sản đại diện của nhân loại (từ 08/12/2017). Luận án khảo sát sự biến đổi trên các bình diện: thực hành bài bản, sưu tầm, ký âm, truyền dạy, công tác nghệ nhân, cũng như phương thức Hát Xoan tham gia vào các hoạt động văn hóa, tín ngưỡng, giáo dục, du lịch và kinh tế; từ đó bàn luận về tính chính trị của di sản và sự tồn tại của di sản trong xã hội Việt Nam đương đại.
Nhiệm vụ nghiên cứu được xác định theo 4 nội dung cụ thể:
- Nghiên cứu về vấn đề di sản hóa các di sản văn hóa, tập trung vào vấn đề về tính chính trị của di sản.
- Nghiên cứu về bối cảnh di sản hóa ở Việt Nam từ các phương diện kinh tế, chính trị, văn hóa.
- Nghiên cứu, tìm hiểu quá trình Hát Xoan Phú Thọ được lựa chọn và ghi danh là Di sản văn hóa phi vật thể cần bảo vệ khẩn cấp của UNESCO.
- Nghiên cứu những diễn biến sau ghi danh của Hát Xoan Phú Thọ, quá trình bảo vệ khẩn cấp Hát Xoan, bàn luận vấn đề di sản hóa Hát Xoan trong bối cảnh hiện nay ở Việt Nam.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Các thực hành Hát Xoan được tiến hành tại tỉnh Phú Thọ sau quá trình ghi danh của UNESCO, đặt trong sự tham chiếu và đối sánh với các thực hành Hát Xoan đã diễn ra trước đó.
- Phạm vi không gian: Tỉnh Phú Thọ, tập trung khảo sát tại 4 làng Xoan cổ (vùng Xoan gốc) thuộc thành phố Việt Trì (trước Cách mạng tháng Tám thuộc tổng Phượng Lâu, huyện Phù Ninh), bao gồm: An Thái, Phù Đức, Kim Đái (Kim Đới) và Thét. Ngoài ra, địa bàn khảo sát mở rộng tới các làng Xoan mới, các câu lạc bộ (CLB) Hát Xoan và dân ca, các cơ quan công sở, trường học và các điểm du lịch trên địa bàn tỉnh Phú Thọ.
- Phạm vi thời gian: Giai đoạn từ khi Hát Xoan được ghi danh di sản cần bảo vệ khẩn cấp năm 2011 đến thời điểm hoàn thành luận án năm 2022. Thời gian thực hiện khảo sát điền dã thực tế diễn ra từ năm 2016 đến năm 2021. Luận án đồng thời tham chiếu các đợt nghiên cứu, sưu tầm điền dã lịch sử vào các năm 1954, 1971-1973, 1978 và 1998-2006.
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Các hướng nghiên cứu trước
Tổng quan tài liệu của luận án phân loại các công trình đi trước thành ba nhóm chuyên đề:
-
Các nghiên cứu về lý thuyết di sản hóa và tính chính trị của di sản:
Khái niệm di sản hóa (heritagization) được Robert Hewison đưa ra lần đầu năm 1987 trong công trình The Heritage Industry: Britain in a Climate of Decline. Đến năm 2009, Regina Bendix trong Heritage between economy and politics: An assessment from the perspective of cultural anthropology đã mở rộng hàm nghĩa của di sản hóa như một quá trình bảo tồn mang tính chọn lọc, gắn liền với sự viện dẫn truyền thống, tính chân thực, nuôi dưỡng vốn biểu tượng và thương mại hóa. Rosemary Coombe và Joseph Turcotte (2012) phân tích các động năng pháp lý và chỉ ra rằng việc kiểm kê, cụ thể hóa di sản tạo ra một chế độ quyền lực mới có thể gây nguy hiểm cho các cộng đồng địa phương.
Tại Việt Nam, Oscar Salemink (2012, 2014, 2015) là tác giả phân tích sâu về di sản hóa và tính chính trị của di sản phi vật thể. Salemink chỉ ra rằng việc công nhận di sản biến di sản cộng đồng thành "tài sản quốc gia", kéo theo sự can thiệp và chiếm đoạt quyền quản trị của nhà nước, đẩy cộng đồng chủ thể ra ngoài lề. Lê Hồng Lý và cộng sự (2012, 2018) khảo sát thực trạng bảo tồn tại lễ hội Đền Hùng, Hội Gióng, Tháp Bà Poh Nagar và văn hóa cồng chiêng Lạch, khẳng định quá trình di sản hóa có thể làm suy giảm quyền quản lý, sáng tạo và hưởng lợi của người dân. Phan Phương Anh phân tích sự suy giảm tính thiêng do hành chính hóa lễ hội Đền Hùng. Lê Thị Ngà (2015) nghiên cứu sự tước bỏ quyền sở hữu của cộng đồng tại làng cổ Đường Lâm. Đào Xuân Quý (2016) khảo sát lễ hội làng Cổ Tích hậu di sản. Nguyễn Thị Nhung (2017) phân tích vai trò can thiệp quá mức của nhà nước tại chùa Hương. Lương Hồng Quang (2013, 2015) bàn về sự mất cân bằng giữa bảo tồn tĩnh và động trong quản lý lễ hội.
-
Các nghiên cứu chuyên sâu về Hát Xoan:
Về nguồn gốc, tên gọi và tính chất dân ca nghi lễ thờ Hùng Vương, các công trình tiêu biểu gồm nghiên cứu của Nguyễn Khắc Xương (1978, 2003, 2008), Đức Bằng (1982), Tú Ngọc (1981, 1994, 1997), Phạm Phúc Minh, Phạm Bá Khiêm (2005), Phạm Thị Thiên Nga (2012) và Dương Huy Thiện (1979, 2015). Vấn đề chữ Nôm Lý Liên - Lễ Liên và giả thuyết cội nguồn Hát Xoan từ thời Văn Lang được Trần Thị Kim Anh (2010) khảo cứu.
Về cấu trúc âm nhạc, bài bản và diễn xướng, Nguyễn Lộc (1974, 1975) khảo sát 13 quả cách và 9 giọng vặt. Tú Ngọc (1981, 1997) phân tích hệ thống thang ba âm, bốn âm, năm âm không có bán âm. Phạm Trọng Toàn (2001, 2006) so sánh Hát Xoan, hát Ghẹo với Dân ca Quan họ Bắc Ninh. Dương Anh (2005) và Trần Văn Thục (2009) khảo tả âm nhạc dân gian Phú Thọ. Về phương án bảo tồn, Tú Ngọc (1994) đề xuất 4 hướng: lễ hội hóa, phổ cập hóa, khuyến khích sáng tác mới và tích hợp du lịch. Cao Khắc Thùy (1994, 2011) và Cao Hồng Phương (2011) bàn về việc củng cố các phường Xoan và tăng cường vai trò lãnh đạo quản lý.
-
Các nghiên cứu về di sản hóa Hát Xoan:
Nguyễn Thị Phương Châm (2017) và nhóm tác giả Lê Hồng Lý, Hoàng Cầm, Nguyễn Thị Hiền, Đào Thế Đức (2018) chỉ ra các hệ lụy sau khi Hát Xoan được ghi danh: chính quyền tập trung đầu tư quá mức cho Hát Xoan dẫn tới sự mất cân đối và làm lu mờ các di sản khác trên địa bàn; sự can thiệp hành chính của Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch trong việc quản lý bài bản, quy định mẫu trang phục và tiêu chí xét duyệt nghệ nhân.
Khoảng trống luận án lựa chọn giải quyết
Các công trình đi trước chủ yếu tiếp cận Hát Xoan dưới góc độ âm nhạc học, lịch sử văn hóa hoặc phản ánh khái quát các bất cập bảo tồn. Luận án của Đỗ Thị Nhung lựa chọn giải quyết khoảng trống nghiên cứu về toàn bộ tiến trình di sản hóa Hát Xoan: từ khâu thiết lập hồ sơ đề cử quốc tế (quá trình chọn lọc và tái định vị tính xác thực) cho đến sự biến đổi của thực hành Xoan trong đời sống thường nhật hậu ghi danh. Luận án tập trung phân tích sự giằng co về quyền lực giữa nhà nước và cộng đồng chủ thể, sự phân hóa thành hai dòng thực hành (Xoan tín ngưỡng và Xoan văn nghệ), và xem xét Hát Xoan như một thực thể sống đang tự biến đổi để thích ứng với bối cảnh kinh tế - chính trị địa phương.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Khung lý thuyết và khái niệm công cụ
- Lý thuyết di sản hóa (Heritagization): Dựa trên quan điểm của Robert Hewison (1987), Regina Bendix (2009) và Oscar Salemink (2014), luận án tiếp cận di sản như một "động từ" chỉ quá trình thực hành văn hóa có chọn lọc, thay vì một "danh từ" tĩnh tại. Di sản hóa là tiến trình gán danh hiệu cho các thực hành văn hóa, kéo theo sự can thiệp của thể chế quản lý, marketing biểu tượng và sự thay đổi trong cấu trúc sở hữu di sản.
- Lý thuyết diễn xướng (Performance Theory): Vận dụng định nghĩa của Richard Bauman (1975) về sự diễn xướng như một sự kiện nghệ thuật và thực hành văn hóa dân gian diễn ra trong một tình huống cụ thể, bao gồm bốn thành tố: người biểu diễn, hình thức nghệ thuật, thính giả và bối cảnh.
- Tiếp cận di sản văn hóa sống (Living Heritage): Luận án nhìn nhận di sản trong tính chỉnh thể văn hóa - xã hội, tôn trọng quyền được tiếp tục sáng tạo, biến đổi và thích nghi của cộng đồng chủ thể theo nhu cầu thực tế của đời sống đương đại.
- Hệ thống khái niệm pháp lý: Sử dụng định nghĩa di sản văn hóa theo Công ước 1972 và Công ước 2003 của UNESCO, cùng các điều khoản của Luật Di sản văn hóa Việt Nam (2001, sửa đổi bổ sung năm 2009).
Phương pháp nghiên cứu thực tế
Luận án áp dụng phương pháp nghiên cứu định tính đặc thù của nhân học và văn hóa học:
- Phương pháp tổng hợp, phân tích tài liệu thứ cấp: Thu thập và xử lý các tư liệu nghiên cứu, biên bản kiểm kê, hồ sơ di sản tại Thư viện Quốc gia, Thư viện tỉnh Phú Thọ, Trung tâm Di sản văn hóa, Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Phú Thọ; hệ thống văn bản chỉ đạo của Ủy ban nhân dân (UBND) tỉnh Phú Thọ; văn bản công ước, khuyến nghị trên trang thông tin của UNESCO; kỷ yếu các hội thảo khoa học chuyên đề.
- Phương pháp điền dã dân tộc học:
- Quan sát tham dự: Tiến hành tham dự trực tiếp các canh hát thờ, diễn xướng lễ hội vào dịp đầu xuân và dịp Giỗ Tổ Hùng Vương tại các cửa đình cổ; tham dự các buổi sinh hoạt thường kỳ, các lớp tập huấn truyền dạy Xoan cho cán bộ công sở và giáo viên; quan sát các chương trình biểu diễn Xoan trên sân khấu sự kiện và phục vụ khách du lịch.
- Phỏng vấn sâu: Khảo sát các nghệ nhân tại 4 phường Xoan cổ (An Thái, Phù Đức, Kim Đái, Thét); các thành viên CLB Hát Xoan và Dân ca Phú Thọ; người dân địa phương; cán bộ Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch, Phòng Di sản; cán bộ Sở Giáo dục và Đào tạo tỉnh Phú Thọ; cán bộ văn hóa cấp xã; ban giám hiệu, giáo viên âm nhạc và học sinh các cấp (tiểu học, trung học cơ sở, trung học phổ thông) tại thành phố Việt Trì và huyện Tam Nông; cùng các nhà nghiên cứu, nhạc sĩ, đạo diễn dàn dựng chương trình tại địa phương. Toàn bộ tên thông tín viên được ẩn danh hóa.
- Phương pháp tiếp cận nhạc học và dân tộc học âm nhạc: Ứng dụng để phân tích cấu trúc bài bản, lời ca, thang âm (thang ba âm, bốn âm, năm âm), các dạng thức hát (hát nói, hát ngâm, hát ca khúc, hát đan xen, hát đệm láy) và sự phối hợp giữa âm nhạc, múa nghi lễ và nhạc cụ (trống con, phách, quạt, trống cái).
Nguồn tư liệu và dữ liệu
Nguồn dữ liệu của luận án bao gồm các băng ghi âm phỏng vấn sâu được gỡ băng thực địa trong giai đoạn 2016-2021; nhật ký quan sát tham dự; hệ thống văn bản quy phạm pháp luật và kế hoạch hành chính của tỉnh Phú Thọ; cùng hệ thống tư liệu điền dã lịch sử được công bố qua các thời kỳ: năm 1954 (thời điểm cán bộ văn hóa phát hiện và khai thác Hát Xoan cho đoàn văn công), 1971-1973 (Nguyễn Khắc Xương sưu tầm các quả cách tại Phù Đức và An Thái), năm 1978, và giai đoạn 1998-2006 (giai đoạn phục hồi các phường Xoan thành câu lạc bộ rồi tái lập thành 4 họ Xoan cổ).
| Thời điểm / Giai đoạn |
Sự kiện và Hoạt động nghiên cứu tư liệu Hát Xoan tiêu biểu |
| Năm 1954 |
Cán bộ ngành văn hóa phát hiện Hát Xoan, tiến hành sưu tầm, chỉnh lý và đưa vào sáng tác ca nhạc, hoạt cảnh văn công. |
| 1971 - 1973 |
Tác giả Nguyễn Khắc Xương sưu tầm 13 quả cách hát thờ tại phường Phù Đức và An Thái. |
| 1998 - 2006 |
Phục hồi các phường Xoan thành CLB Kim Đức, An Thái, sau đó tổ chức lại thành 4 phường Xoan cổ. |
| 24/11/2011 |
UNESCO chính thức ghi danh Hát Xoan Phú Thọ vào Danh sách Di sản văn hóa phi vật thể cần bảo vệ khẩn cấp. |
| 08/12/2017 |
UNESCO chuyển Hát Xoan Phú Thọ sang Danh sách Di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại. |
| 2016 - 2021 |
Giai đoạn tác giả Đỗ Thị Nhung thực hiện khảo sát điền dã dân tộc học thực địa cho luận án tiến sĩ. |
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu, cơ sở lý luận và đối tượng nghiên cứu
Chương 1 hệ thống hóa các lý thuyết về di sản hóa, tính chính trị của di sản và diễn xướng văn hóa dân gian; đồng thời miêu tả chi tiết bối cảnh tự nhiên, lịch sử, tổ chức phường hội và cấu trúc nghệ thuật của Hát Xoan truyền thống. Về mặt địa bàn, không gian Hát Xoan gắn liền với vùng bán sơn địa trung du thuộc vùng đất Tổ Hùng Vương, trung tâm là tam giác châu thổ Ngã ba Hạc - núi Hùng thời Lê và Nguyễn. Khu vực này tương ứng với hệ thống các di chỉ khảo cổ học từ thời Đá cũ đến thời đại kim khí: Sơn Vi (10.000 năm trước), Phùng Nguyên, Đồng Đậu, Gò Mun và Đông Sơn (với các di chỉ Làng Cả, Đồng Se, Chính Nghĩa, Vạn Thắng). Hát Xoan gắn với 30 cửa đình, đền tại hai tỉnh Phú Thọ và Vĩnh Phúc, giữ 14 cửa đình ở 18 xã, trong đó hạt nhân bảo tồn 31 bài bản cổ là 4 làng Xoan gốc: An Thái, Phù Đức, Kim Đái và Thét (nguyên thuộc tổng Phượng Lâu, huyện Phù Ninh).
Về mặt tổ chức, phường Xoan là một tổ chức nghề nghiệp và tín ngưỡng mang tính chất gia trưởng khép kín. Phường chỉ thu nạp người trong làng, hình thành nên tập quán "kế thế Xoan phường" (nhiều thế hệ trong một gia đình cùng tham gia). Mỗi phường gồm 13 đến 16 người (có tài liệu ghi 16 đến 20 người), bao gồm một trùm phường đứng đầu, 4 đến 5 kép và các cô đào (số đào nhiều hơn số kép). Trùm phường phụ trách việc tập dượt bài bản, quản lý tài sản chung (trống, phách, y phục, tiền thưởng), điều hành chia thưởng và trích quỹ mua lợn nuôi làm vốn. Luận án ghi nhận thực tế có trùm phường là nữ (bà Nguyễn Thị Lịch) kế nghiệp cha. Về mặt phong tục, Hát Xoan vận hành theo tục kết nghĩa "nước nghĩa" giữa họ Xoan và làng giữ cửa đình. Trong quan hệ này, làng sở tại luôn đóng vai "anh", họ Xoan đóng vai "em", hai bên tuyệt đối cấm kết hôn với nhau.
Về cấu trúc diễn xướng, một canh Hát Xoan đầy đủ diễn ra theo lề lối nghiêm ngặt gồm ba chặng chính:
- Phần khai cuộc và chặng hát thờ: Mở đầu bằng hát Nhập tịch (mời thần linh về dự lễ), tiếp theo là 4 giọng lề lối gồm Giáo trống, Giáo pháo, Thơ nhang và Đóng đám.
- Chặng hát quả cách: Trình diễn 14 quả cách do đào múa theo đội hình 4 người và kép hát dẫn chính, bao gồm: Kiều Dương cách, Nhàn ngâm cách, Tràng mai cách, Xoan thời cách, Hạ thời cách, Thu thời cách, Đông thời cách, Tứ mùa cách, Ngư tiều canh mục cách, Đối rẫy cách, Hồi liên cách, Tứ dân cách, Chơi dân cách (và một số biến thể theo văn bản điền dã).
- Chặng hát hội (hát giao duyên) và kết thúc: Sau phần tạm nghỉ hát giọng nhà tơ (hát chơi bời), canh hát chuyển sang các làn điệu và trò diễn dân gian gồm Bỏ bộ, Bợm gái (Chơi bợm), Đúm, Xin huê - Đố chữ, Cài huê và Mó cá (trò diễn tập thể mô phỏng động tác đánh cá dâng thần). Cuối cùng là bài Chào giã do ông trùm thực hiện kết hợp 4 cô đào múa tiễn thánh từ lòng đình ra sân đình.
Chương 2: Bối cảnh di sản hóa ở Việt Nam và quá trình ghi danh di sản Hát Xoan Phú Thọ
Chương 2 phân tích các động lực kinh tế, chính trị và văn hóa thúc đẩy tiến trình di sản hóa tại Việt Nam nói chung và Phú Thọ nói riêng. Luận án làm rõ quá trình chính quyền địa phương lựa chọn Hát Xoan làm biểu tượng văn hóa để xây dựng hồ sơ khoa học đệ trình UNESCO nhằm phục vụ mục tiêu phát triển kinh tế du lịch và khẳng định vị thế địa phương.
Luận án chỉ ra rằng, trong khâu lập hồ sơ di sản, một quá trình chọn lọc nghiêm ngặt đã diễn ra để định hình một hình ảnh Hát Xoan "có tính truyền thống và tính xác thực". Các chuyên gia và cơ quan quản lý đã dựa trên các tư liệu sưu tầm lịch sử (đặc biệt là các bản ghi của Nguyễn Khắc Xương và Tú Ngọc) để cố định hóa hệ thống 31 bài bản chuẩn mực. Tiến trình lập hồ sơ cũng đồng thời là quá trình mở rộng quyền sở hữu: một thực hành văn hóa vốn thuộc quyền sở hữu riêng biệt của 4 phường Xoan cổ tại vùng đất ven núi Hùng đã được nâng cấp thành di sản văn hóa đại diện cho toàn tỉnh Phú Thọ và trở thành "tài sản quốc gia". Sự can thiệp của thể chế nhà nước trong giai đoạn này đã đặt nền móng cho việc chuyển giao quyền kiểm soát thực hành di sản từ tay các nghệ nhân làng cổ sang các cơ quan quản trị văn hóa.
Chương 3: Diện mạo Hát Xoan Phú Thọ sau ghi danh di sản
Chương 3 miêu tả bức tranh thực hành Hát Xoan sau các mốc ghi danh năm 2011 và 2017. Về công tác kiểm kê và tư liệu hóa, cơ quan quản lý đã tiến hành rà soát, ký âm và xuất bản các tài liệu chuẩn hóa 31 bài bản. Song song đó, xuất hiện các hoạt động đặt lời mới và sáng tác ca khúc dựa trên chất liệu âm nhạc Xoan cổ để phục vụ nhiệm vụ chính trị, tuy nhiên các sáng tác này không được phép đưa vào các nghi thức diễn xướng chính thống.
Về không gian và mạng lưới thực hành, Hát Xoan đã vượt ra khỏi phạm vi 4 làng Xoan gốc để thâm nhập sâu rộng vào đời sống xã hội:
- Thành lập mạng lưới các CLB Hát Xoan và Dân ca trên khắp các huyện, thị xã của tỉnh Phú Thọ.
- Đưa Hát Xoan vào giảng dạy đại trà trong hệ thống giáo dục quốc dân từ bậc tiểu học đến trung học phổ thông, thông qua các đợt tập huấn định kỳ do Sở Giáo dục và Đào tạo phối hợp với Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tổ chức cho giáo viên âm nhạc và cán bộ phụ trách Đoàn - Đội.
- Đưa việc học và hát Xoan vào các cơ quan công sở nhà nước.
- Trình diễn phục vụ du lịch tại đình Hùng Lô, miếu Lãi Lèn và lễ hội Đền Hùng.
Sự mở rộng này đi kèm với quy trình hành chính hóa: việc truyền dạy được tổ chức thành các lớp học có điểm danh, ký nhận thù lao; nghệ nhân biểu diễn phải tuân thủ mẫu trang phục thiết kế thống nhất và kịch bản dàn dựng sân khấu của cơ quan quản lý.
Chương 4: Di sản hóa Hát Xoan: những vấn đề bàn luận
Chương 4 tập trung thảo luận các vấn đề lý luận và thực tiễn nảy sinh từ tiến trình di sản hóa Hát Xoan:
- Nguy cơ nhất thể hóa bài bản và xu hướng bảo tồn bảo tàng hóa: Việc cố định hóa tuyệt đối 31 bài bản cổ vô hình trung triệt tiêu tính biến dị dân gian và khả năng ứng tác tự nhiên của các nghệ nhân, biến di sản sống thành một sản phẩm trưng bày tĩnh tại.
- Sự phổ quát hóa di sản và phản ứng của cộng đồng: Chủ trương "Xoan hóa" trên diện rộng trong toàn tỉnh Phú Thọ đã dẫn tới sự mất cân đối trong phân bổ nguồn lực bảo tồn, khiến các loại hình dân ca bản địa khác như hát Ghẹo, hát Ví, hát Trống quân bị xem nhẹ. Đồng thời, việc bắt buộc học Hát Xoan tại các địa phương không có gốc tích Xoan tạo ra tâm lý gượng ép, phản cảm ở một bộ phận người dân và giáo viên.
- Đời sống riêng của di sản và sự xói mòn quyền cộng đồng: Sự can thiệp quản lý sâu của nhà nước đã làm suy giảm vai trò tự quyết của các trùm phường và đào kép 4 họ Xoan cổ. Cộng đồng chủ thể từ vị thế người sở hữu dần trở thành người làm thuê cho các sự kiện biểu diễn văn hóa.
- Sự phân hóa các hình thức thực hành: Luận án phát hiện và phân tích sự hình thành rõ rệt của hai tiểu loại Hát Xoan trong bối cảnh đương đại:
- Xoan tín ngưỡng: Được thực hành trong không gian thiêng (đình, miếu) vào dịp hội làng, gắn với nhu cầu tâm linh tế lễ thần hoàng, giữ nguyên tính lề lối và trật tự nghi thức truyền thống.
- Xoan văn nghệ: Được cắt xén, sân khấu hóa, biểu diễn phục vụ khách du lịch, hội nghị và giao lưu văn hóa, tách rời khỏi không gian linh thiêng và chịu sự điều phối hoàn toàn của kịch bản dàn dựng bên ngoài.
Kết quả và những đóng góp mới
Đóng góp về mặt lý luận
- Khẳng định Hát Xoan là một thực hành văn hóa được kiến tạo trong lịch sử và tiếp tục được tái kiến tạo trong bối cảnh đương đại dưới sự tác động đan xen của các nhu cầu tâm linh, văn hóa, chính trị và kinh tế tại địa phương.
- Vận dụng tiếp cận "di sản văn hóa sống" (living heritage) vào trường hợp Hát Xoan, chứng minh rằng di sản chỉ có thể duy trì sức sống bền vững khi được nhìn nhận như một thành tố hữu cơ trong chỉnh thể đời sống xã hội, nơi quyền tự quyết và nhu cầu sáng tạo tự thân của cộng đồng chủ thể được tôn trọng thay vì bị áp đặt bởi các khuôn mẫu hành chính.
Đóng góp về mặt thực tiễn
- Nhận diện toàn diện các hệ quả của tiến trình di sản hóa hậu ghi danh: việc mở rộng bảo tồn và phát huy Hát Xoan trên diện rộng đã làm gia tăng nguy cơ nhất thể hóa bài bản, bảo tàng hóa thực hành, phổ quát hóa địa bàn và hành chính hóa công tác nghệ nhân.
- Phát hiện và xác lập cơ sở khoa học cho sự phân hóa của Hát Xoan hậu ghi danh thành hai tiểu loại độc lập: Xoan tín ngưỡng (thực hành tâm linh tại đình, miếu) và Xoan văn nghệ (trình diễn phục vụ công chúng bên ngoài), mỗi tiểu loại sở hữu các đặc trưng riêng biệt về không gian, phương thức và nguyên tắc thực hành.
- Cung cấp luận cứ thực tiễn cho các nhà quản lý văn hóa trong việc xây dựng và điều chỉnh chính sách bảo tồn di sản văn hóa phi vật thể, giảm thiểu sự can thiệp hành chính làm méo mó đời sống di sản.
Kiến nghị và giải pháp đề xuất
- Cơ quan quản lý nhà nước cần chuyển đổi vai trò từ chỉ đạo, can thiệp trực tiếp sang hỗ trợ cộng đồng; tôn trọng quyền của các nghệ nhân 4 phường Xoan cổ trong việc phục hồi các bài bản dị bản và sáng tạo lời mới trong sinh hoạt thường nhật.
- Phân định rõ ranh giới quản lý giữa hai không gian: để Xoan tín ngưỡng vận hành tự nhiên theo lệ tục đình làng của cộng đồng chủ thể; chỉ áp dụng các quy chuẩn dàn dựng sân khấu đối với Xoan văn nghệ phục vụ du lịch.
- Điều chỉnh chính sách bảo tồn văn hóa của tỉnh Phú Thọ nhằm tái lập sự cân bằng đầu tư ngân sách giữa Hát Xoan và các loại hình di sản dân ca khác (hát Ghẹo, hát Ví, hát Trống quân).
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Hạn chế của đề tài
- Địa bàn khảo sát điền dã thực tế tập trung chủ yếu tại tỉnh Phú Thọ (trọng tâm là 4 làng Xoan cổ tại thành phố Việt Trì và một số trường học, công sở), chưa thể khảo sát bao quát toàn bộ hệ thống 30 cửa đình, đền có mối liên hệ lịch sử với Hát Xoan trải dài trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc.
- Thời gian điền dã (2016-2021) chịu ảnh hưởng của các đợt bùng phát dịch bệnh Covid-19, dẫn đến một số hoạt động lễ hội truyền thống đầu xuân tại các làng Xoan bị gián đoạn hoặc thu hẹp quy mô tổ chức.
Hướng nghiên cứu tiếp
- Mở rộng khảo sát so sánh thực hành Hát Xoan tại các làng có tục giữ cửa đình và kết nước nghĩa thuộc tỉnh Vĩnh Phúc nhằm đánh giá toàn diện không gian văn hóa Xoan liên tỉnh.
- Đi sâu nghiên cứu biến đổi tâm lý, thẩm mỹ và mức độ tiếp nhận thực chất của học sinh, giáo viên trong các chương trình đưa Hát Xoan vào hệ thống trường học phổ thông.
- Đánh giá tác động kinh tế và sinh kế của nghệ nhân trong các mô hình du lịch di sản Hát Xoan thương mại hóa.
Giá trị tham khảo
Luận án là tài liệu tham khảo hữu ích cho các nhóm đối tượng và lĩnh vực sau:
- Cơ quan quản lý nhà nước và hoạch định chính sách: Cung cấp cơ sở thực tiễn cho Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Phú Thọ trong việc hoàn thiện chính sách đãi ngộ nghệ nhân, thiết kế các chương trình bảo tồn di sản văn hóa phi vật thể, tránh tình trạng hành chính hóa máy móc.
- Giảng viên, nghiên cứu sinh và học viên cao học: Cung cấp khung phân tích chuyên sâu về nhân học di sản, lý thuyết di sản hóa và nghiên cứu văn hóa dân gian phục vụ công tác giảng dạy, nghiên cứu trong các ngành Văn hóa học, Nhân học, Quản lý văn hóa và Dân tộc học âm nhạc.
- Các nhà nghiên cứu văn hóa dân gian và âm nhạc học: Cung cấp hệ thống tư liệu điền dã chi tiết về lề lối, bài bản, thang âm, diễn xướng 14 quả cách và tục kết nước nghĩa của 4 họ Xoan cổ vùng đất Tổ.
Câu hỏi thường gặp
1. Bốn làng Xoan cổ (vùng Xoan gốc) tại Phú Thọ gồm những làng nào?
Bốn họ Xoan cổ lưu giữ trọn vẹn 31 bài bản Xoan truyền thống là họ An Thái, họ Phù Đức, họ Kim Đái (Kim Đới) và họ Thét. Trước Cách mạng tháng Tám, cả 4 làng này đều thuộc tổng Phượng Lâu, huyện Phù Ninh; hiện nay đều thuộc địa giới hành chính của thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ, nằm trong vùng sơn phận phụ cận núi Hùng.
2. Sự việc thực tế nào tại thực địa đã gợi mở vấn đề nghiên cứu cho tác giả luận án?
Tác giả chứng kiến cảnh các nghệ nhân tại một phường Xoan cổ sau giờ tập luyện chính thức đã ngồi lại hát những câu hát do họ tự đặt lời về bầu cử và dịch Covid-19, đồng thời nghệ nhân Thái chia sẻ họ phải "hát trộm ông Sở". Các nghệ nhân cho biết cơ quan quản lý bắt buộc biểu diễn đúng 31 bài bản đã ghi danh, quy định mặc trang phục thiết kế mới không hợp ý họ, và trời rét vẫn phải đi chân đất cho đúng định kiến "nông dân mộc mạc". Sự việc này làm bộc lộ tình trạng quyền thực hành của chủ thể di sản bị kiểm soát nghiêm ngặt bởi thể chế hành chính.
3. Tục kết nghĩa "nước nghĩa" trong Hát Xoan có điểm gì đặc thù so với Quan họ và hát Ghẹo?
Tục nước nghĩa của Hát Xoan là mối quan hệ kết nghĩa giữa họ Xoan (phường hát) với cộng đồng dân cư của làng có đình mà Xoan đến hát giữ cửa đình, chứ không phải kết nghĩa giữa hai làng với nhau như trong hát Ghẹo (Phú Thọ) hay Quan họ (Bắc Ninh). Trong mối quan hệ này, dân làng sở tại luôn ở vai "anh", họ Xoan luôn ở vai "em", quan hệ này duy trì vĩnh viễn và hai bên tuyệt đối cấm kết hôn với nhau.
4. Hai tiểu loại thực hành Hát Xoan được hình thành hậu ghi danh là gì?
Luận án chỉ ra sự phân hóa thành hai tiểu loại:
- Xoan tín ngưỡng: Thực hành gắn với nhu cầu tâm linh, tế lễ Thành hoàng tại các cửa đình, đền cổ vào mùa xuân; duy trì nghiêm ngặt các quy chuẩn lề lối, bài bản thờ cúng do cộng đồng tự quản.
- Xoan văn nghệ: Thực hành được đưa lên sân khấu, trường học, công sở và các điểm du lịch; các tiết mục bị cắt gọt theo thời lượng biểu diễn, chịu sự kiểm duyệt về bài bản, trang phục và kịch bản dàn dựng của các cơ quan quản lý văn hóa.
5. Những nguy cơ chính đối với Hát Xoan trong tiến trình di sản hóa là gì?
Luận án xác định bốn nguy cơ lớn: nguy cơ nhất thể hóa bài bản (áp đặt cứng nhắc 31 bài bản, triệt tiêu tính dị bản dân gian); xu hướng bảo tồn bảo tàng hóa (đóng băng di sản thành vật trưng bày tĩnh); nguy cơ phổ quát hóa di sản (triển khai "Xoan hóa" đại trà gây áp lực và làm lu mờ các di sản dân ca khác trong tỉnh); và nguy cơ ngoài lề hóa cộng đồng chủ thể (tước bỏ quyền tự quyết và biến nghệ nhân thành người thực hiện kịch bản hành chính).
Kết luận
Luận án tiến sĩ "Hát Xoan Phú Thọ trong bối cảnh di sản hóa ở Việt Nam" của tác giả Đỗ Thị Nhung là công trình nghiên cứu định tính phân tích toàn diện diện mạo Hát Xoan sau khi được UNESCO ghi danh qua hai giai đoạn khẩn cấp và đại diện. Bằng phương pháp điền dã dân tộc học kết hợp lý thuyết di sản hóa và diễn xướng, luận án làm sáng tỏ mâu thuẫn sâu sắc giữa các chính sách quản lý hành chính hóa của nhà nước với quyền tự quyết và nhu cầu thực hành văn hóa tự thân của cộng đồng nghệ nhân bản địa. Công trình đóng góp luận điểm khoa học về sự phân hóa thành hai dòng thực hành Xoan tín ngưỡng và Xoan văn nghệ, đồng thời khẳng định việc bảo tồn di sản chỉ đạt hiệu quả thực chất khi tiếp cận di sản như một thực thể sống và trao lại quyền làm chủ cho cộng đồng người mang di sản.