Chương 1 - Tổng quan tình hình nghiên cứu, Cơ sở lý luận và Đối tượng nghiên cứu Chương 2 - Bối cảnh di sản hóa ở Việt Nam và quá trình ghi danh di sản Hát Xoan Phú Thọ Chương 3 - Diện mạo của Hát Xoan Phú Thọ sau ghi danh di sản Chương 4 – Di sản hoá Hát Xoan: những vấn đề bàn luận 9 Chƣơng 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU, CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ ĐỐI TƢỢNG NGHIÊN CỨU 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu 1. Những nghiên cứu về di sản hóa và tính chính trị của di sản Tính đến năm 2021, Việt Nam có 14 DSVHPVT được UNESCO ghi danh, gồm: Nhã nhạc cung đình Triều Nguyễn, Không gian văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên, Dân ca Quan họ Bắc Ninh, Ca trù, Hội Gióng ở đền Phù Đổng và Đền Sóc, Hát Xoan Phú Thọ, Tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương ở Phú Thọ, Nghệ thuật Đờn ca tài tử Nam Bộ, Dân ca Ví, Giặm ở Nghệ Tĩnh, Nghi lễ và trò chơi Kéo co, Thực hành tín ngưỡng thờ Mẫu Tam phủ của người Việt, Nghệ thuật Bài Chòi ở Trung Bộ, Thực hành Then của người Tày, Nùng, Thái, Nghệ thuật Xòe Thái. Ngoài các DSVHPVT kể trên, trên đất nước Việt Nam còn hiện hữu nhiều loại hình di sản phi vật thể như âm nhạc, múa, tín ngưỡng, lễ hội,.
của người Kinh và các dân tộc thiểu số khác. Những di sản này có lịch sử tồn tại gắn liền với đời sống văn hóa, xã hội của các cộng đồng, tộc người ở Việt Nam, cả trong quá khứ và trong hiện tại. Nghiên cứu về di sản văn hóa, trong đó có DSVHPVT, thu hút được sự quan tâm của nhiều nhà khoa học và quản lý trong các lĩnh vực như văn hóa học, dân tộc học, nhân học, quản lý văn hóa, bảo tàng,. Tùy vào mục đích nghiên cứu, những chuyên gia có cách tiếp cận DSVHPVT khác nhau.
Một cách khái quát, có thể thấy các nghiên cứu về di sản thường tập trung vào một số vấn đề như: quan điểm về di sản và vai trò của di sản; công tác sưu tầm, kiểm kê, tư liệu hóa DSVHPVT; quá trình bảo vệ, khai thác và phát huy giá trị DSVHPVT trong xã hội. Các tác giả đã khẳng định về tầm quan trọng của di sản trong đời sống văn hóa cộng đồng, trong việc xác định bản sắc quốc gia, dân tộc (Hoàng Vinh 2006, Đặng Văn Bài 2007, Cao Tự Thanh 2013). Nhiều nghiên cứu chỉ ra rằng, 1 để DSVHPVT tồn tại và phát huy được những giá trị vốn có trong xã hội hiện nay, ngoài nhiệm vụ điền dã để sưu tầm, kiểm kê và tư liệu hóa, cần phải tôn trọng và khuyến khích cộng đồng chủ thể di sản để họ lưu giữ, trao truyền các loại hình DSVHPVT cho các thế hệ kế cận (Trần Văn Khê 2002, Đặng Văn Bài 2007, Tô Ngọc Thanh 2007, Nguyễn Xuân Kính 2009, Ngô Đức Thịnh 2010, Bùi Hoài Sơn 2010, Lê Thị Minh Lý 2013, Lê Hồng Lý và các cộng sự 2014). Ngoài ra, các nghiên cứu cũng chỉ ra rằng, cần có sự kết hợp nhuần nhuyễn vai trò của các cơ quan, tổ chức, nhà nước với cộng đồng trong việc bảo vệ và phát huy các giá trị của DSVHPVT của Việt Nam hiện nay.
Trong nghiên cứu về di sản, nổi bật là quan điểm lý thuyết về di sản hóa. Theo Salemink (2014), di sản hóa (heritagization) là khái niệm được Robert Hewison đưa ra năm 1987 trong “Công nghiệp di sản: Vương quốc Anh trong sự đi xuống” (The Heritage Industry: Britain in a Climate of Decline) và có một quá trình biến chuyển hàm nghĩa từ đó tới khoảng những năm 2009, 2010. Từ một khái niệm vốn chỉ dùng để nói về những biến đổi trong các địa điểm di sản, di sản hóa được Regina Bendix trong Di sản giữa kinh tế và chính trị: Đánh giá từ quan điểm nhân học văn hóa (Heritage between economy and politics: An assessment from the perspective of cultural anthropology) (2009) sử dụng với những hàm nghĩa mới. Theo đó, quá trình bảo tồn một cách có ý thức các di sản cho hiện tại và cho các thế hệ tương lai là quá trình "nhất thiết phải mang tính chọn lọc, do không phải mọi ký ức văn hóa đều được coi là di sản" (dẫn theo Salemink 2014: 489).
Bendix đã chỉ ra một số sự biến đổi do sự phong thánh một số địa điểm và thực hành nhất định là di sản đem lại: sự viện dẫn truyền thống và tính chân thực; sự hiện hình bản chất và nuôi dưỡng vốn biểu tượng; sự tranh cãi về những giá trị di sản; công việc mang tính biểu tượng về marketing. Đến Rosmary Coombe và Joseph Turcotte (2012) trong “Di sản văn hóa của người bản địa trong sự phát triển và thương mại: Quan điểm từ động năng Luật và chính sách di sản văn hóa” [Indigenous Cultural Heritage in Development and Trade: Perspectives from the Dynamics of Cultural 1 Heritage Law and Policy], vấn đề di sản hóa được nhận định: "Có thể cho rằng, sự nhấn mạnh mới lên việc kiểm kê DSVHPVT, cụ thể hóa chúng, gắn cho chúng những người bảo vệ phù hợp, và đầu tư xây dựng năng lực để phát triển các chuyên gia địa phương, tạo nên một chế độ quyền lực mới và chế độ này vừa hứa hẹn vừa gây nguy hiểm đến các cộng đồng địa phương và người bản xứ được coi là có một nền văn hóa riêng biệt mà những chế độ mới này tìm kiếm để đánh giá" (Coombe and Turcotte 2021: 31-32, dẫn theo Salemink 2014: 491). Nói theo cách của Salemink, do vướng vào những hệ thống đánh giá khác nhau (bởi người thực hành, bởi các chuyên gia văn hóa, bởi cán bộ nhà nước, bởi thị trường), ở những cấp độ khác nhau (địa phương, quốc gia, liên quốc gia và quốc tế), việc công nhận DSVHPVT có thể là một may mắn không trọn vẹn với những cộng đồng là người mang - nhưng có lẽ không còn là người sở hữu, khi thực hành văn hóa trở thành di sản (Salemink 2014: 491). Trong các nghiên cứu về di sản ở Việt Nam, từ khoảng năm 2010, các nhà nghiên cứu bắt đầu nói tới vấn đề di sản hóa.
Người đề cập trực tiếp và bàn luận nhiều nhất về vấn đề di sản hóa các loại hình DSVHPVT ở Việt Nam là Oscar Salemink. Trong bài viết “Di sản hóa văn hóa sống ở Việt Nam như DSVHPVT” in trong Hội thảo 10 năm thực hiện công ước bảo vệ DSVHPVT của UNESCO - Bài học kinh nghiệm và định hướng tương lai, Salemink đã giới thiệu về khái niệm “di sản hóa” (heritagization) thông qua việc điểm lại quá trình thuật ngữ này xuất hiện và những hàm nghĩa của di sản hóa. Từ bối cảnh cụ thể ở Việt Nam, nhà nghiên cứu phát triển cách hiểu về khái niệm di sản hóa, "Di sản hóa - được hiểu theo nghĩa đơn giản nhất, cụ thể là gắn cho các di tích và thực hành văn hóa danh hiệu di sản" (tr. Quá trình này có khả năng đưa đến sự xói mòn các quyền của cộng đồng sở hữu di sản, cao hơn là sự tước mất quyền của các cộng đồng địa phương, "công cụ hóa các thực hành văn hóa bởi vì nó thường phù hợp với mối quan tâm của những người bên ngoài - các cá nhân và chuyên gia văn hóa, chính quyền địa phương, chính phủ quốc gia (tr.
Salemink đã bàn luận về vấn đề di sản hóa 1 một số loại hình DSVHPVT đại diện nhân loại của Việt Nam như Nhã nhạc cung đình Huế, Không gian văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên, Hát Xoan Phú Thọ, Quan họ Bắc Ninh, Ca trù. Theo tác giả, quá trình tuyên bố và công nhận di sản ở Việt Nam là quá trình chính trị hóa di sản ở các cấp, với những sự trùng lặp và tương tác. Ngoài ra, nhà nước còn phải chịu những trách nhiệm liên quan đến việc quản lý, bảo vệ hoặc giữ gìn di sản. Như vậy, di sản của cộng đồng khi được UNESCO công nhận sẽ trở thành “tài sản quốc gia” (Salemink 2015: 485).
Và khi trở thành tài sản quốc gia, nhà nước sẽ có những chính sách quản lý, bảo tồn di sản như sân khấu hóa, giảng dạy các di sản như Ví, Giặm Nghệ Tĩnh, Quan họ Bắc Ninh, Hát Xoan Phú Thọ trong trường học hoặc thế tục hóa lễ hội. Những việc làm trên thường hướng đến những người bên ngoài chứ không phải là chủ thể di sản, trong khi cộng đồng, chủ thể di sản mới đóng vai trò quyết định sự tồn tại của di sản. Nhấn mạnh thêm về tính chính trị của DSVHPVT ở Việt Nam, trong bài viết “Appropriating Culture: The politics of intangible cultural heritage in Vietnam - Chiếm đoạt để sở hữu văn hóa: Chính trị về DSVHPVT ở Việt Nam”, Oscar Salemink (2012) đã phân tích sự cạnh tranh mang tính địa phương, ở cấp quốc gia và toàn cầu để đạt được sự công nhận mang tính quốc gia và của tổ chức UNESCO. Sự công nhận dù mang tính quốc gia hay toàn cầu thì nhà nước cũng can thiệp trong việc quản lý, bảo vệ và giữ gìn di sản, sự can thiệp đó là một sự “chiếm đoạt” DSVHPVT từ chủ thể di sản - những người đã sáng tạo, gìn giữ và có các quyền lợi về di sản - ra khỏi những thực hành văn hóa của họ.
Sự can thiệp này mang tính hai mặt, nếu việc tổ chức, quản lý, bảo quản cũng như chia lợi ích hợp lý thì sẽ mang lại kết quả tốt; ngược lại, nó cũng có thể đẩy chính những người dân ra ngoài lề, mất độc quyền thực hành văn hóa của chính họ. Đề cập đến di sản hóa các loại hình DSVHPVT, trong chuyên khảo “Bảo tồn và phát huy di sản văn hóa trong quá trình hiện đại hóa: nghiên cứu trường hợp Tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương (Phú Thọ), Hội Gióng (Hà Nội), Tháp bà Poh 1 Nagar (Khánh Hòa) và văn hóa cồng chiêng của người Lạch (Lâm Đồng)”, tác giả Lê Hồng Lý và các cộng sự (2012) cho rằng, quan điểm bảo tồn có chọn lọc, xếp hạng các di sản, quản lý, sân khấu hóa, sáng tạo truyền thống trong công tác bảo tồn và phát huy di sản của các tác nhân bên ngoài chính là quá trình di sản hóa. Quá trình này có thể làm suy giảm quyền quản lý, tổ chức, sáng tạo, hưởng lợi của cộng đồng chủ thể di sản, thậm chí còn "ngoài lề hóa" cộng đồng chủ, tước đoạt các quyền của chủ nhân văn hóa đối với di sản. Quá trình này hình thành nên tâm lý trông chờ, ỷ lại, thờ ơ với chính di sản văn hóa vốn thuộc về cộng đồng, bởi sau khi được tôn vinh, những di sản này đã trở thành “tài sản của quốc gia” chứ không còn thuộc về người dân như trước.