Tổng quan luận án

Công trình nghiên cứu "Triết lý nhân sinh trong thơ văn Lý – Trần" của tác giả Nguyễn Thị Lan Vi được thực hiện tại Học viện Khoa học Xã hội thuộc Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Việt Nam, chuyên ngành Triết học (mã số 8 22 90 01), dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS. Đỗ Hương Giang vào năm 2021.

Về tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu, tác giả chỉ ra rằng trong bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế hiện nay, Việt Nam đang đối mặt với sự giao thoa phức tạp giữa các giá trị văn hóa, dẫn đến nguy cơ phai nhạt bản sắc dân tộc. Thực trạng này đặt ra yêu cầu phải khơi dậy ý thức cội nguồn, củng cố khối đại đoàn kết và lòng tự hào dân tộc. Trong lịch sử, thời kỳ Lý – Trần (thế kỷ X đến đầu thế kỷ XV) là giai đoạn phục hưng rực rỡ sau hơn một nghìn năm Bắc thuộc, xác lập nền độc lập tự chủ và định hình bản sắc văn hóa phong kiến vững chắc. Thơ văn thời kỳ này là tấm gương phản chiếu diện mạo tư tưởng và tâm hồn dân tộc, chứa đựng những triết lý nhân sinh sâu sắc về lẽ sống, đạo làm người và cách thức ứng xử. Tác giả nhận định trong một thời gian dài, giới nghiên cứu chủ yếu tập trung biểu dương các tác phẩm tráng ca thể hiện hào khí dân tộc (hào khí Đông A), mà chưa khai thác đầy đủ, thấu đáo những cung bậc cảm xúc nhân bản, nỗi thống khổ của nhân dân, cùng những trăn trở thế sự đời thường. Do đó, việc nghiên cứu chuyên sâu và hệ thống về triết lý nhân sinh trong thơ văn Lý – Trần dưới góc độ triết học là một khoảng trống cần được lấp đầy.

Mục đích nghiên cứu của công trình là khảo sát một cách có hệ thống triết lý nhân sinh trong thơ văn Lý – Trần, trên cơ sở đó rút ra ý nghĩa lý luận và các bài học kinh nghiệm cho giai đoạn hiện nay. Để hiện thực hóa mục đích này, tác giả xác định hai nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể:

  1. Trình bày cơ sở lý luận về triết lý, triết lý nhân sinh và triết lý nhân sinh trong thơ văn Lý – Trần.
  2. Xác định các nội dung triết lý nhân sinh cơ bản trong thơ văn Lý – Trần; đồng thời phân tích, đánh giá ý nghĩa của những triết lý nhân sinh đó.

Đối tượng nghiên cứu của luận án là hệ thống triết lý nhân sinh được biểu đạt trong các tác phẩm thơ văn thời Lý – Trần. Phạm vi nghiên cứu được giới hạn vào hai nội dung nổi bật nhất: triết lý về mối quan hệ giữa con người với tự nhiên, và triết lý về mối quan hệ giữa con người với con người. Không gian và thời gian nghiên cứu bao hàm các tác phẩm văn học tiêu biểu từ thế kỷ X đến đầu thế kỷ XV thuộc hai triều đại Lý và Trần trên lãnh thổ Đại Việt.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Trong phần tổng quan tình hình nghiên cứu, tác giả đã phân loại các công trình đi trước thành hai hướng tiếp cận chính:

Hướng thứ nhất bao gồm các công trình nghiên cứu về triết lý, triết học thời Lý – Trần:

  • Trương Văn Chung (1998) với công trình Tư tưởng triết học của thiền phái Trúc Lâm đời Trần, khảo sát tiền đề xã hội, tôn giáo và tư tưởng ảnh hưởng đến sự hình thành Thiền phái Trúc Lâm, phân tích tư tưởng của Trần Thái Tông, Tuệ Trung Thượng sĩ, Trần Nhân Tông, Pháp Loa, Huyền Quang và nhấn mạnh tính nhập thế tích cực.
  • Đỗ Hương Giang với công trình Triết học Phật giáo Việt Nam thời Trần, phân tích hệ thống triết học Phật giáo trên các phương diện bản thể luận, nhân sinh quan và nhận thức luận.
  • Trương Văn Chung và Doãn Chính đồng chủ biên (2008) với tác phẩm Tư tưởng Việt Nam thời Lý - Trần, tập trung trình bày tư tưởng chính trị, nhà nước, pháp luật và quân sự qua các nhân vật như Trần Thủ Độ, Trần Thái Tông, Tuệ Trung Thượng sĩ, Trần Quốc Tuấn.
  • Nguyễn Thị Ngọc Hạnh (2003) với luận văn Thạc sĩ Chủ nghĩa nhân văn và tư tưởng giải thoát trong thơ thiền Lý – Trần, nêu bật quan niệm "con người đời đạo không hai" và "con người Phật tính thường hữu".
  • Nguyễn Tôn Hoàng (2005) với luận văn Thạc sĩ Tư tưởng Phật giáo trong thơ Lý – Trần, nghiên cứu tư tưởng Phật giáo biểu hiện qua văn học.
  • Các bài báo khoa học chuyên khảo: bài viết trên Tạp chí Nghiên cứu Phật học số 4 (2010) về nhân sinh quan Phật giáo thời Lý; Doãn Chính và Trần Huy Du (2013) trên Tạp chí Khoa học Xã hội số 11 về triết lý nhân sinh trong triết học Phật giáo thời Trần; Nguyễn Lan Anh (2015) trên Tạp chí Khoa học Xã hội số 7 về triết lý nhân sinh của Thiền Đại thừa thời Lý – Trần; cùng nguồn dữ liệu từ trang web thuvienhoasen.vn.

Hướng thứ hai bao gồm các công trình nghiên cứu văn học thời Lý – Trần:

  • Bộ tư liệu gốc Thơ văn Lý – Trần gồm ba tập (Tập I năm 1977, Tập II quyển thượng năm 1988, Tập III năm 1979) do Viện Văn học biên soạn, Nhà xuất bản Khoa học Xã hội ấn hành, là cơ sở văn bản chuẩn xác cho việc trích dẫn.
  • Trần Lý Trai (2004) với luận văn Thạc sĩ Trần Thái Tông và Khóa Hư lục, nghiên cứu giá trị yêu nước, nhân văn và tinh thần nhập thế.
  • Thích Phước Đạt (2008) với luận án Tiến sĩ Giá trị văn học trong tác phẩm Thiền phái Trúc Lâm, làm rõ tư tưởng Thiền học và nghệ thuật văn chương của các tác giả Trúc Lâm.
  • Hoàng Gia Thành (2010) với luận văn Thạc sĩ Thiền và Lão Trang trong thơ thời vãn Trần.
  • Trần Kim Tiền (2011) với luận văn Thạc sĩ Thơ tứ tuyệt trong văn học đời Trần và Vũ Thị Cẩm Tú (2012) với luận văn Thạc sĩ Thơ bát cú Đường luật trong văn học đời Trần.
  • Nguyễn Công Lý (2018) với chuyên khảo Văn học Việt Nam thời Lý – Trần (thế kỷ X – đầu thế kỷ XV) những vấn đề về nội dung cảm hứng, thể loại, tác giả tiêu biểu, cùng các bài báo trên Tạp chí Nghiên cứu Phật học (2000) và Tạp chí Hán Nôm (2001).

Từ việc điểm duyệt các công trình trên, tác giả xác định khoảng trống nghiên cứu: các tài liệu trước đây thường tiếp cận độc lập dưới góc độ văn học thuần túy hoặc nghiên cứu tư tưởng triết học nói chung, chưa có công trình nào đi sâu khảo sát một cách chuyên biệt và toàn diện về triết lý nhân sinh thể hiện qua hệ thống tác phẩm thơ văn thời Lý – Trần. Luận án lựa chọn giải quyết khoảng trống này bằng cách đặt văn học trong mối liên hệ với thế giới quan triết học để khái quát thành các nguyên lý nhân sinh hoàn chỉnh.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Luận án dựa trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác – Lênin về mối quan hệ biện chứng giữa tồn tại xã hội và ý thức xã hội, nguyên lý thực tiễn là cơ sở, động lực và mục đích của nhận thức, cùng quan điểm duy vật lịch sử về tư tưởng và đời sống con người. Đồng thời, tác giả kế thừa các khái niệm nền tảng về triết học, triết lý và nhân sinh quan từ các nhà nghiên cứu trong nước (Hồ Sĩ Quý, Hoàng Trinh, Vũ Khiêu) và các từ điển chuyên ngành:

  • Triết học được hiểu là hệ thống tri thức lý luận chung nhất của con người về thế giới, về vị trí và vai trò của con người trong thế giới đó.
  • Triết lý là những mệnh đề cô đúc từ sự trải nghiệm, chiêm nghiệm của con người, mang tính hướng về đạo lý trong các quan hệ với tự nhiên, con người và xã hội, trở thành phương châm sống và hành động.
  • Triết lý nhân sinh trong thơ văn là hệ thống quan điểm, quan niệm cơ bản về mục đích, lẽ sống và cách ứng xử của con người đối với tự nhiên và xã hội, được đúc kết qua thực tiễn lịch sử và thể hiện qua hình tượng văn học.

Về mặt phương pháp luận, đây là công trình nghiên cứu định tính thuộc ngành Triết học, không sử dụng các công cụ thống kê hay phân tích định lượng. Tác giả vận dụng phối hợp các phương pháp nghiên cứu cụ thể:

  • Phương pháp lịch sử và xã hội: khảo sát các điều kiện kinh tế, chính trị, thể chế và văn hóa - xã hội thời Lý – Trần như là mảnh đất hiện thực sản sinh ra tư tưởng thơ văn.
  • Phương pháp phân loại và hệ thống hóa lý thuyết: chọn lọc, gom nhóm các tư tưởng nhân sinh phân tán trong tác phẩm thành hai hệ thống quan hệ rành mạch.
  • Phương pháp phân tích, tổng hợp, so sánh và logic: tiếp cận trực tiếp văn bản thơ tự sự, thơ thiền, chiếu, hịch, biểu, phú để phân tích ý niệm triết học, so sánh quan điểm giữa các tác gia và tổng hợp thành luận điểm khoa học.

Nguồn tư liệu chính của luận án là bộ sách Thơ văn Lý – Trần (3 tập) do Viện Văn học biên dịch và khảo chú, kết hợp với các văn bản lịch sử như Đại Việt sử ký toàn thư và các tác phẩm triết học - Phật giáo tiêu biểu (Khóa Hư lục, Binh thư yếu lược, Thiền uyển tập anh).

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Điều kiện kinh tế, chính trị, xã hội hình thành thơ văn Lý – Trần và triết lý nhân sinh

Chương này tập trung xác lập cơ sở lý luận về thuật ngữ và phân tích các tiền đề hiện thực dẫn đến sự ra đời của thơ văn cùng triết lý nhân sinh thời Lý – Trần:

Về mặt lý luận, tác giả hệ thống hóa các định nghĩa về triết học (từ nguồn gốc philosophia phương Tây, "triết" phương Đông đến quan điểm duy vật biện chứng), định nghĩa về triết lý và nhân sinh quan, từ đó làm rõ khái niệm triết lý nhân sinh trong thơ văn.

Về điều kiện chính trị, sau chiến thắng Bạch Đằng năm 938 của Ngô Quyền, đất nước bước vào kỷ nguyên độc lập tự chủ qua các triều Ngô, Đinh, Tiền Lê. Sự khủng hoảng cuối thời Tiền Lê (Lê Hoàn mất năm 1005, Lê Long Việt bị giết, Lê Long Đỉnh trị vì suy đồi) dẫn đến việc năm 1009 Lý Công Uẩn được Phật giáo ủng hộ lên ngôi vua. Năm 1010, Chiếu dời đô về Thăng Long khẳng định tầm nhìn chiến lược lâu dài. Nhà nước phong kiến trung ương tập quyền thời Lý chia cả nước thành 24 lộ và hai trại; năm 1042 ban hành bộ luật Hình thư đầu tiên; năm 1077 mở kỳ thi tuyển lại viên bằng chữ viết, toán và hình luật. Đến đầu thế kỷ XIII, nhà Lý suy yếu, Trần Cảnh lên ngôi năm 1226 mở đầu triều Trần. Năm 1242, nhà Trần tổ chức lại hành chính thành 12 lộ, 5 phủ, 6 châu; năm 1230 ban hành Quốc triều thông chế, cuối thế kỷ XIII ban hành Quốc triều hình luật, năm 1332 lập cơ quan kiểm pháp. Quân sự thực hiện triệt để chính sách "Ngự binh ư nông", năm 1253 lập Giảng võ đường, giảng dạy theo Binh thư yếu lược của Trần Hưng Đạo. Về ngoại giao, thực hiện đường lối mềm dẻo nhưng cương quyết đối với lân bang: vua Lý Thái Tông thân chinh Chiêm Thành năm 1044 để giữ yên biên giới; đánh bại quân Tống (1068 – 1075) và ba lần chiến thắng quân xâm lược Mông – Nguyên.

Về điều kiện kinh tế, hình thức sở hữu ruộng đất bao gồm công hữu (ruộng quốc khố, tịch điền, sơn lăng, ruộng làng xã) và tư hữu bắt đầu nảy nở từ thế kỷ XII – XIII. Vua Lý Thái Tông đích thân cày tịch điền năm 1038 tại Bố Hải Khẩu (Thái Bình) nhằm nêu gương trọng nông. Năm 1137, nhà Lý quy định ba nhà làm một bảo, nghiêm cấm tự ý mổ trâu bò để bảo vệ sức kéo. Nhà Trần phát triển kinh tế điền trang và thái ấp, năm 1266 ban chiếu cho vương hầu quý tộc mộ dân nghèo khai khẩn đất hoang. Công tác trị thủy được chú trọng đặc biệt: năm 1108 đắp đê phường Cơ Xá; đào kênh Đàn Nãi (1029), kênh Lẫm (1051), khơi thông sông Lãnh Kinh và Tô Lịch; năm 1248 nhà Trần lập cơ quan hà đê phụ trách đê điều toàn quốc, đào sông Mã, sông Lễ, đục núi Chiếu Bạch và năm 1256 tiếp tục nạo vét sông Tô Lịch. Thủ công nghiệp và quan hệ tiền tệ phát triển: nghề dệt gấm vóc được vua Lý Thái Tông dạy cho cung nữ năm 1040; nghề luyện kim đúc chuông và tượng với quy mô lớn (năm 1010 Lý Thái Tổ phát 1680 lạng bạc đúc chuông Đại Giác; năm 1014 phát 310 lạng vàng đúc chuông chùa Hưng Thiên; năm 1056 Lý Thánh Tông dùng 12.000 cân đồng đúc chuông Sùng Khánh Báo Thiên; năm 1057 đúc tượng Phạm Vương và Đế Thích bằng vàng).

Về văn hóa – xã hội, cơ cấu xã hội phân tầng thành ba đẳng cấp: quý tộc (nắm giữ quyền lực tối cao, kết hợp thần quyền và vương quyền, thực hiện chế độ Thái thượng hoàng và nội tộc hôn nhân để bảo vệ dòng họ), bình dân (nông dân làng xã, thợ thủ công, tiểu thương) và nô tỳ. Về tư tưởng, đặc trưng nổi bật là tinh thần "tam giáo đồng nguyên" (Nho – Phật – Đạo), trong đó Phật giáo giữ vai trò hệ tư tưởng chủ đạo chi phối đạo đức và nhân tâm thời kỳ đầu, còn Nho giáo ngày càng giữ vị trí cao trong việc xây dựng thể chế chính trị và giáo dục khoa cử (bắt đầu từ việc lập Văn Miếu và khoa thi năm 1070). Cả ba hệ tư tưởng đều được bản địa hóa để phục vụ lợi ích của quốc gia độc lập.

Về diện mạo thơ văn, văn học viết chữ Hán và chữ Nôm phát triển phong phú về thể loại (thơ thiền, thơ tự sự, thơ trữ tình, chiếu, hịch, cáo, biểu, phú, ngữ lục) với hai dòng mạch chính: văn học Phật giáo (tiêu biểu như Khóa Hư lục, thơ của Tuệ Trung Thượng sĩ) và văn học yêu nước (các tác phẩm của Lý Thường Kiệt, Trần Quốc Tuấn, Trần Quang Khải, Phạm Ngũ Lão, Trương Hán Siêu). Nguyễn Công Lý chỉ ra ba đặc trưng văn học thời kỳ này: vận động theo hướng dân tộc hóa; kết hợp ý thức dân tộc với cảm hứng thời đại mở ra dòng văn học yêu nước; hình thành các giá trị nhân bản, nhân đạo sâu sắc.

Tiêu chí Thời kỳ nhà Lý (1009 – 1225) Thời kỳ nhà Trần (1225 – 1400)
Phân chia hành chính 24 lộ và 2 trại 12 lộ, 5 phủ, 6 châu (quy định năm 1242)
Hệ thống văn bản pháp luật Ban hành bộ Hình thư (năm 1042) Bộ Quốc triều thông chế (1230), Quốc triều hình luật (cuối thế kỷ XIII), lập cơ quan kiểm pháp (1332)
Tổ chức và đào tạo quân sự Chính sách "Ngự binh ư nông" Duy trì "Ngự binh ư nông", lập Giảng võ đường (1253), học tập Binh thư yếu lược
Công trình và quản lý thủy lợi Đắp đê Cơ Xá (1108); đào kênh Đàn Nãi (1029), kênh Lẫm (1051) Lập cơ quan hà đê (1248); đào sông Mã, sông Lễ, khơi sông Tô Lịch (1256)
Chế độ sở hữu ruộng đất Ruộng công làng xã, tịch điền, ruộng sơn lăng, ruộng thác đao Mở rộng chế độ thái ấp và điền trang của quý tộc (từ năm 1266)

Chương 2: Nội dung triết lý nhân sinh trong thơ văn Lý – Trần

Chương 2 là phần trọng tâm của công trình, làm rõ các luận điểm triết lý nhân sinh ở hai bình diện quan hệ lớn:

Thứ nhất, triết lý về mối quan hệ giữa con người với tự nhiên:

  • Thơ văn thời kỳ này thể hiện sự gắn bó, hòa đồng tuyệt đối giữa con người và vũ trụ qua quan niệm "thiên nhân tương dữ", "thiên nhân hợp nhất", "vạn vật nhất thể" và tư tưởng "hòa quang đồng trần".
  • Nguyên tắc sống "tùy duyên" thuận theo lẽ trời và lẽ đời được Tuệ Trung Thượng sĩ xác lập: "Tùy duyên theo lẽ trời, tùy tục theo lẽ đời, sống hết mình theo trời, theo người và theo tâm". Hành động sống hòa đồng, không câu nệ giới luật ăn cỏ hay ăn thịt của Tuệ Trung Thượng sĩ phản ánh nhận thức xem mọi sự vật trong trời đất đều vận hành theo đặc tính tự nhiên khách quan ("Xuân về cây cỏ sinh, Họa phúc nào đâu có?").
  • Nhận thức về tính chất biến dịch vô thường của tự nhiên và đời người: Vạn vật luôn biến đổi theo quy luật sinh hóa, con người là một phần tử trong đó nên không thể nằm ngoài quy luật. Bài kệ của Thiền sư Vạn Hạnh chỉ rõ: "Thân như bóng chớp, có rồi không / Cây cối xuân tươi, thu não nùng / Mặc cuộc thịnh suy đừng sợ hãi / Kia kìa ngọn cỏ giọt sương đông". Thái độ trước quy luật biến dịch là sự bình thản, an nhiên, không sợ hãi trước cảnh hưng vong.
  • Tinh thần hòa cảm phóng khoáng với vũ trụ thể hiện qua hình tượng thi nhân - thiền sư nhập thế đầy khí phách, tiêu biểu là bài thơ của Thiền sư Không Lộ: "Có khi xông thẳng lên đầu núi / Một tiếng kêu vang, lạnh cả trời".

Thứ hai, triết lý về mối quan hệ giữa con người với con người:

  • Tinh thần nhân bản và lòng khoan dung, tha thứ: Không chỉ xót thương đồng loại nghèo khổ, tấm lòng nhân bản thời đại này còn đạt đến tầm mức cao thượng khi bao dung với cả tù binh, kẻ thù bại trận. Bài thơ Ai phù lỗ của Huyền Quang thấu hiểu nỗi đau xa xứ, nhớ nhà của người tù binh giặc: "Chích máu thành thư muốn gởi lời / Lẻ loi nhạn lạnh, ải mù khơi / Đêm nay mấy kẻ sầu trăng nhỉ? / Xa cách, nhưng lòng chỉ một thôi".
  • Tấm lòng thương dân, lo cho dân của người trị vì: Vua Lý Thái Tông đích thân cày ruộng tịch điền năm 1038 để làm gương cho thiên hạ, năm 1044 hạ chiếu giảm một nửa tiền thuế khi được mùa; vua Lý Thánh Tông thương dân lầm lỗi mà phạm pháp nên khoan giảm hình phạt, mùa đông năm 1055 trong cung rét mướt đã nghĩ tới tù nhân đang chịu đói lạnh mà cấp phát chăn chiếu cùng mỗi ngày hai bữa cơm; Trần Nhân Tông quan niệm làm đấng trượng phu phải giúp ích cho đời ("Sinh vô bổ thế trượng phu tàm"); Trần Nguyên Đán trăn trở day dứt bạc đầu trước cảnh dân chịu hạn hán mất mùa trong bài Nhâm Dần lục nguyệt tác; Nguyễn Phi Khanh phẫn nộ trước cảnh quan lại tham nhũng bóc lột khiến đời sống dân chúng kiệt quệ.
  • Tư tưởng lấy dân làm gốc và khối đại đoàn kết toàn dân: Thiền sư Đỗ Pháp Thuận trả lời vua Lê Đại Hành năm 981 trong bài Quốc tộ đã ví "Vận nước như mây quấn", khẳng định nền thái bình chỉ đạt được khi toàn dân gắn kết bền chặt như dây mây, và người đứng đầu đất nước thực thi đường lối "vô vi trên điện các" – lấy lòng dân làm lòng mình, không sách nhiễu sức dân.
  • Triết lý yêu nước, tinh thần độc lập tự cường và trung quân ái quốc: Yêu nước gắn chặt với ý thức bảo vệ chủ quyền lãnh thổ thiêng liêng, căm thù quân xâm lược tột cùng. Điều này thể hiện tập trung trong bài thơ thần Nam quốc sơn hà của Lý Thường Kiệt ("Núi sông Nam Việt vua Nam ở / Vằng vặc sách trời chia xứ sở") và đoạn văn tràn đầy huyết lệ trong Hịch tướng sĩ của Trần Quốc Tuấn ("Ta thường tới bữa quên ăn, nửa đêm vỗ gối, ruột đau như cắt, nước mắt đầm đìa..."). Trong hòa bình, tinh thần ấy chuyển hóa thành ý thức trách nhiệm cống hiến của nam nhi (Thuật hoài của Phạm Ngũ Lão), niềm tin trường tồn non sông nghìn thu (Tụng giá hoàn kinh sư của Trần Quang Khải), tinh thần "vị tha vô ngã" phụng sự dân tộc của Thiền sư Vạn Hạnh, và niềm tự hào về truyền thống đánh giặc trên dòng sông lịch sử trong Bạch Đằng giang phú của Trương Hán Siêu.

Chương 3: Ý nghĩa và bài học vận dụng triết lý nhân sinh trong thơ văn Lý – Trần ở giai đoạn hiện nay

Mặc dù trích đoạn văn bản trong tư liệu tập trung chi tiết vào Chương 1 và Chương 2, kết cấu mục lục của luận án cho thấy Chương 3 được thiết kế nhằm khái quát giá trị và đề xuất giải pháp thực tiễn:

  • Về ý nghĩa: Triết lý nhân sinh thời Lý – Trần đã định hình các giá trị nền tảng của bản sắc văn hóa Việt Nam, chứng minh sức mạnh của một nền văn hóa độc lập tự chủ có khả năng dung hợp hài hòa Nho – Phật – Đạo để phục vụ lợi ích dân tộc.
  • Về bài học vận dụng: Luận án rút ra các bài học về củng cố khối đại đoàn kết toàn dân; bài học "khoan thư sức dân để làm kế sâu rễ bền gốc" của các bậc tiền nhân; bài học về việc xây dựng lối sống hài hòa giữa con người với tự nhiên; và bài học về tinh thần nhân bản, vị tha trong việc xây dựng con người mới và chuẩn mực đạo đức xã hội hiện nay.

Kết quả và những đóng góp mới

Về mặt lý luận:

  • Công trình đã hệ thống hóa và làm sáng tỏ nội dung, đặc điểm của triết lý nhân sinh trong thơ văn Lý – Trần dưới góc độ của khoa học triết học, khắc phục cách tiếp cận đơn lẻ trước đây vốn chỉ xem các tác phẩm này là hiện tượng văn học đơn thuần.
  • Luận án đã khái quát được hai trục quan hệ cơ bản cấu thành nhân sinh quan thời kỳ này: mối quan hệ hòa đồng, thuận theo quy luật giữa con người với tự nhiên, và mối quan hệ vị tha, nhân bản, yêu nước, thương dân, đoàn kết giữa con người với con người.
  • Luận giải sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa tinh thần dân tộc tự cường với các yếu tố tích cực của tam giáo (tinh thần vô ngã vị tha của Phật giáo, tinh thần nhập thế hành đạo của Nho giáo, tính khoáng đạt vô vi của Đạo giáo).

Về mặt thực tiễn và kiến nghị:

  • Luận án cung cấp nguồn tài liệu tham khảo cho công tác nghiên cứu và giảng dạy các chuyên đề về Triết học Việt Nam, Lịch sử tư tưởng Việt Nam, Văn học trung đại và Việt Nam học.
  • Đề xuất việc kế thừa bài học lịch sử về chính sách "khoan thư sức dân", chăm lo đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân, lấy sự đồng thuận xã hội làm gốc rễ cho sự ổn định chính trị.
  • Kiến nghị vận dụng tinh thần đại đoàn kết dân tộc thời Lý – Trần vào công cuộc xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân hiện nay nhằm bảo vệ vững chắc độc lập chủ quyền và giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc trong thời kỳ hội nhập quốc tế.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Về mặt hạn chế:

  • Căn cứ vào phạm vi nghiên cứu do tác giả tự xác định, luận án mới chỉ tập trung làm sáng tỏ hai khía cạnh triết lý nhân sinh nổi bật nhất (quan hệ con người – tự nhiên và con người – con người). Các khía cạnh khác của nhân sinh quan như quan hệ của con người với chính bản thân mình (nhận thức tự ngã, tu dưỡng tâm linh nội tại) chưa được phân tích thành một cấu phần độc lập.
  • Khảo sát tư liệu văn bản chủ yếu tập trung vào các tác phẩm thơ văn kinh điển đã được tuyển chọn trong bộ Thơ văn Lý – Trần của Viện Văn học, chưa mở rộng ra toàn bộ hệ thống văn bia, bi ký, thư tịch Hán Nôm còn lưu lại rải rác ở các di tích địa phương.

Về hướng nghiên cứu tiếp:

  • Mở rộng phạm vi nghiên cứu sang các mối quan hệ triết lý nhân sinh nội tâm, bản thể luận và nhận thức luận trong thơ văn trung đại.
  • Mở rộng nguồn dữ liệu thực chứng từ văn bia thời Lý – Trần để kiểm chứng và làm sâu sắc hơn các quan điểm nhân sinh của tầng lớp thứ dân.
  • Thực hiện các nghiên cứu so sánh tiến trình vận động của triết lý nhân sinh từ thời Lý – Trần sang thời Lê sơ và các giai đoạn phong kiến muộn hơn.

Giá trị tham khảo

Luận án là tài liệu tham khảo hữu ích đối với các nhóm đối tượng cụ thể:

  • Giảng viên, nghiên cứu sinh và học viên cao học chuyên ngành Triết học, Triết học Việt Nam, Lịch sử triết học: Công trình cung cấp phương pháp tiếp cận triết học đối với các tác phẩm văn học cổ, chuyển hóa các hình tượng văn chương thành các phạm trù và luận điểm triết lý nhân sinh.
  • Các nhà nghiên cứu văn học trung đại và Việt Nam học: Hệ thống tư liệu phân tích chi tiết về bối cảnh kinh tế, chính trị, luật pháp, thủy lợi và các bảng biểu đối chiếu thời Lý – Trần ở Chương 1 là nguồn dữ liệu lịch sử chuẩn xác hỗ trợ việc giải mã tác phẩm văn học.
  • Những người làm công tác văn hóa, giáo dục và hoạch định chính sách: Luận án cung cấp các luận cứ lịch sử sâu sắc về truyền thống lấy dân làm gốc, tư tưởng khoan dung nhân bản, tinh thần tự lực tự cường và nghệ thuật dung hợp tư tưởng văn hóa ngoại sinh để bồi đắp nội lực dân tộc.

Câu hỏi thường gặp

1. Khái niệm "triết lý nhân sinh trong thơ văn" được luận án định nghĩa như thế nào?
Theo luận án, triết lý nhân sinh là hệ thống các quan điểm, quan niệm cơ bản, đóng vai trò nền tảng chỉ đạo cách ứng xử, suy nghĩ và hành động của con người trong quan hệ với bản thân, với tự nhiên và với xã hội. Khi thể hiện qua thơ văn, triết lý nhân sinh là những quan niệm về cuộc sống, tâm tư, tình cảm, ước mơ và lẽ sống của con người được đúc kết qua thực tiễn đấu tranh bảo vệ nền độc lập dân tộc và dựng nước, góp phần định hướng hành vi xã hội.

2. Triết lý về mối quan hệ giữa con người với tự nhiên trong thơ văn Lý – Trần có những luận điểm cốt lõi nào?
Luận án chỉ ra ba luận điểm chính: (1) Quan niệm con người là một phần tử của vũ trụ, gắn bó hòa đồng với tự nhiên theo nguyên lý "thiên nhân hợp nhất", "vạn vật nhất thể"; (2) Nguyên tắc sống "tùy duyên", thuận theo quy luật khách quan của tự nhiên và xã hội do Tuệ Trung Thượng sĩ khởi xướng; (3) Nhận thức sâu sắc về tính chất biến dịch vô thường của tự nhiên và đời người, từ đó hình thành thái độ sống an nhiên, bình thản trước biến cố thịnh suy như trong bài kệ của Thiền sư Vạn Hạnh.

3. Tinh thần thương dân và trách nhiệm của người trị vì được minh chứng qua các dữ kiện cụ thể nào trong văn bản?
Văn bản đưa ra các minh chứng thực tế: Vua Lý Thái Tông đích thân làm lễ cày ruộng tịch điền năm 1038 để nêu gương cho muôn dân, hạ chiếu giảm một nửa tiền thuế cho thiên hạ vào năm 1044; Vua Lý Thánh Tông ra lệnh cấp phát chăn chiếu và ngày hai bữa cơm cho tù nhân trong mùa đông giá rét năm 1055, đồng thời chủ trương khoan giảm hình phạt; vua Trần Nhân Tông xem việc sống không giúp ích cho đời là điều hổ thẹn của đấng trượng phu; Trần Nguyên Đán bạc đầu lo âu khi dân gặp nạn hạn hán mất mùa; và Thiền sư Đỗ Pháp Thuận nêu cao tư tưởng "vô vi trên điện các" để đất nước dứt đao binh.

4. Đâu là các cứ liệu lịch sử cụ thể về kinh tế - thủ công nghiệp được luận án nêu ra để làm rõ nền tảng ra đời của thơ văn Lý – Trần?
Luận án nêu các dữ kiện xác thực: việc tổ chức cày tịch điền ở Bố Hải Khẩu (Thái Bình), Ứng Phong (Nam Định), Lý Nhân (Hà Nam); lệnh cấm tự ý mổ trâu bò năm 1137; quy định lập thái ấp và chiêu tập dân nghèo khai khẩn điền trang năm 1266; công trình đắp đê Cơ Xá năm 1108 và thành lập cơ quan hà đê năm 1248; sự kiện vua Lý Thái Tông dạy cung nữ dệt gấm năm 1040; việc nhà nước xuất kho 310 lạng vàng đúc chuông Hưng Thiên (1014), dùng 1680 lạng bạc đúc chuông Đại Giác (1010), dùng 12.000 cân đồng đúc chuông Báo Thiên (1056) và đúc các pho tượng Phật bằng vàng năm 1057.

5. Luận án phân tích vai trò của tư tưởng Tam giáo đồng nguyên đối với triết lý nhân sinh thời kỳ này như thế nào?
Theo luận án, Nho, Phật và Đạo cùng tồn tại và phát huy sức mạnh tổng hợp. Tầng lớp trí thức thời Lý – Trần am hiểu cả ba trường phái. Phật giáo giữ vị trí ưu thế trong đời sống tâm linh và giải quyết vấn đề đạo đức nhân sinh; Nho giáo từng bước phát triển để củng cố thể chế chính trị và trật tự pháp luật; Đạo giáo mang lại chất phiêu diêu khoáng đạt. Cả ba hệ tư tưởng đều được bản địa hóa và biến đổi để thích ứng với nhu cầu thực tiễn của Đại Việt: tư tưởng Phật giáo chuyển từ xuất thế sang nhập thế tích cực gắn với trung quân ái quốc; tư tưởng "thiên mệnh" của Nho giáo không chỉ phục vụ nhà vua mà trở thành ngọn cờ bảo vệ quyền độc lập của toàn thể dân tộc.

Kết luận

Luận án "Triết lý nhân sinh trong thơ văn Lý – Trần" của tác giả Nguyễn Thị Lan Vi là một công trình nghiên cứu định tính thuộc chuyên ngành Triết học, làm sáng tỏ một cách có hệ thống thế giới quan và nhân sinh quan của người Việt thời trung đại thông qua các tác phẩm văn học thành văn. Bằng việc phân tích sâu sắc các dữ kiện kinh tế, chính trị, pháp luật và văn hóa của hai triều đại Lý – Trần, tác giả đã chứng minh mối liên hệ biện chứng giữa hiện thực xã hội và tư tưởng triết lý được phản chiếu trong thơ ca. Hai trục nội dung trung tâm gồm ứng xử thuận hòa với tự nhiên và tinh thần vị tha, nhân bản, yêu nước, thương dân giữa con người với con người đã phản ánh trọn vẹn bản sắc văn hóa thời đại phục hưng Đại Việt. Các kết quả nghiên cứu không chỉ góp phần lấp đầy khoảng trống học thuật trong việc nghiên cứu lịch sử tư tưởng Việt Nam mà còn để lại nhiều bài học lịch sử có giá trị đối với công cuộc xây dựng và củng cố khối đại đoàn kết dân tộc hiện nay.