Tổng quan luận án
Luận án tiến sĩ luật học của nghiên cứu sinh Nguyễn Thị Thu Hương, được thực hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS.TS Trần Văn Độ tại Trường Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh (năm 2012), thuộc chuyên ngành Luật hình sự (Mã số: 62.01). Đề tài tập trung giải quyết các vấn đề lý luận và thực tiễn về "Tội phạm hóa, phi tội phạm hóa; hình sự hóa, phi hình sự hóa những hành vi xâm phạm trật tự quản lý kinh tế tại Việt Nam trong giai đoạn hiện nay".
Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu
Bảo vệ trật tự quản lý kinh tế bằng pháp luật hình sự là nhiệm vụ trọng yếu bảo đảm sự ổn định và phát triển của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, đặc biệt sau khi Việt Nam gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO). Theo các báo cáo tổng kết của Cơ quan Công an, Viện kiểm sát và Tòa án, tình hình tội phạm xâm phạm trật tự quản lý kinh tế diễn biến phức tạp, thủ đoạn ngày càng tinh vi ở nhiều ngành trọng điểm. Thực tiễn áp dụng pháp luật bộc lộ nhiều bất cập:
- Cơ chế quản lý còn sơ hở; công tác đấu tranh xử lý đạt hiệu quả chưa cao;
- Các cơ quan tiến hành tố tụng còn lúng túng, mâu thuẫn trong định tội danh, xác định ranh giới giữa tội phạm và vi phạm phi hình sự, cũng như quyết định hình phạt;
- Xuất hiện những hành vi vi phạm mới có tính nguy hiểm cao cho xã hội nhưng chưa được Bộ luật Hình sự (BLHS) quy định là tội phạm;
- Một số hành vi quy định trong luật không còn tính nguy hiểm đáng kể nhưng chưa được phi tội phạm hóa;
- Hệ thống chế tài ở một số điều luật còn mâu thuẫn với Phần chung hoặc chưa tương xứng với tính chất nguy hiểm của hành vi.
Khoảng trống nghiên cứu được tác giả xác định là: Tại Việt Nam chưa có công trình khoa học nào nghiên cứu chuyên sâu, có hệ thống và toàn diện về vấn đề tội phạm hóa (TPH), phi tội phạm hóa (PTPH); hình sự hóa (HSH), phi hình sự hóa (PHSH) đối với các hành vi xâm phạm trật tự quản lý kinh tế (XPTTQLKT).
Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu
Mục tiêu nghiên cứu tổng quát là làm rõ lý luận cơ bản về TPH, PTPH, HSH, PHSH; phân tích thực trạng các quá trình này đối với hành vi XPTTQLKT trong pháp luật và thực tiễn áp dụng; từ đó đề xuất phương hướng TPH, PTPH, HSH, PHSH nhằm hoàn thiện quy định của BLHS.
Luận án xác định 5 nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể:
- Nghiên cứu lý luận cơ bản về chính sách hình sự, trọng tâm là các biện pháp TPH, PTPH, HSH, PHSH.
- Phân tích thực trạng TPH, PTPH, HSH, PHSH những hành vi XPTTQLKT trong pháp luật hình sự Việt Nam, trọng tâm là BLHS hiện hành.
- Đánh giá kết quả TPH, PTPH, HSH, PHSH thông qua thực tiễn áp dụng pháp luật hình sự thời gian qua.
- Chỉ ra những vướng mắc, bất cập trong quy định và thực tiễn áp dụng pháp luật hình sự đối với hành vi XPTTQLKT.
- Làm rõ quan điểm của Đảng, Nhà nước về phát triển kinh tế trong điều kiện hội nhập quốc tế, xác định yêu cầu và đề xuất phương hướng TPH, PTPH, HSH, PHSH thời gian tới.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Lý luận và thực tiễn TPH, PTPH; HSH, PHSH những hành vi XPTTQLKT trong pháp luật hình sự Việt Nam.
- Phạm vi nội dung: Nghiên cứu dưới góc độ chuyên ngành Luật hình sự về lý luận, lịch sử lập pháp hình sự (từ BLHS năm 1985 trở về trước đối với các tội phạm kinh tế; từ BLHS năm 1999 và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2009 đối với các tội XPTTQLKT), thực tiễn áp dụng và phương hướng hoàn thiện.
- Phạm vi thời gian: Khảo sát thực tiễn áp dụng pháp luật trong giai đoạn từ năm 2000 đến năm 2010.
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Tác giả phân loại và điểm luận các công trình nghiên cứu trước đây theo ba nhóm:
+---------------------------------------------------------------------------------------+
| NHÓM 1: TÀI LIỆU CHUYÊN KHẢO, THAM KHẢO, GIÁO TRÌNH, BÌNH LUẬN KHOA HỌC |
| - Quốc tế: Ghersengiôn A.A (1970), Kôvalev M.I & Vôrônhin Iu.A (1980), Babaev M.M |
| (1983), Kuđriavtxev (1978), Traađaev X.G (1991), Franz Von Listz (2008), |
| L. Kruglikov (2005), Na-u-mốp A.V (2004), A. Iakôvlép, Nhe-đốt-kô IU.V (2005), |
| Trung tâm nghiên cứu kinh tế và pháp luật Liên bang Nga (2009). |
| - Trong nước: Đào Trí Úc (1995), Hồ Trọng Ngũ (2002), Lê Văn Cảm (2005), |
| Phạm Văn Lợi (2007), Bộ Tư pháp (1998, 2002), Trần Văn Độ (1997), |
| Viện Nghiên cứu Khoa học Pháp lý (2008), Đinh Văn Quế, Nguyễn Xuân Yêm và |
| Nguyễn Hòa Bình (2003); các giáo trình của Trường ĐH Luật Hà Nội (2010), |
| Trường ĐH Huế (2003), Khoa Luật ĐHQG Hà Nội, Học viện Cảnh sát nhân dân. |
+---------------------------------------------------------------------------------------+
| NHÓM 2: CÁC LUẬN ÁN TIẾN SĨ |
| - Bùi Minh Thanh (2003): Nghiên cứu vi phạm pháp luật kinh tế dưới góc độ Lý luận |
| chung về Nhà nước và pháp luật. |
| - Phạm Thư (2004): Nghiên cứu lý luận chính sách hình sự ở mức độ khái quát. |
| - Mai Thế Bày (2006): Nghiên cứu đấu tranh phòng chống tội XPTTQLKT theo góc độ |
| tội phạm học. |
| - Nguyễn Văn Nam (2007): Nghiên cứu trách nhiệm hình sự các tội XPTTQLKT và thực tiễn |
| xét xử giai đoạn 2000-2005. |
+---------------------------------------------------------------------------------------+
| NHÓM 3: BÀI VIẾT TRÊN TẠP CHÍ CHUYÊN NGÀNH |
| - Các công trình của Phạm Hồng Hải (1996), Trần Văn Độ (2004, 2011), Mai Bộ (2004, |
| 2006), Đinh Văn Quế (2004, 2009), Dương Tuyết Miên (2004), Hồ Trọng Ngũ (2004), |
| Trần Đại Thắng (2006), Mai Thế Bày (2007), Nguyễn Văn Trượng (2008, 2009). |
+---------------------------------------------------------------------------------------+
Vị trí và khoảng trống luận án lựa chọn giải quyết
Các công trình trên chủ yếu tiếp cận chính sách hình sự chung, nghiên cứu từng tội phạm cụ thể, phân tích dưới góc độ tội phạm học hoặc lý luận nhà nước và pháp luật. Chưa có công trình nào giải quyết trực tiếp và đồng bộ mối quan hệ giữa chính sách hình sự với bốn quá trình TPH, PTPH, HSH, PHSH trong nhóm tội phạm XPTTQLKT. Luận án đặt vị trí nghiên cứu chuyên sâu về mặt lý luận lập pháp và thực tiễn áp dụng nhằm định hướng hoàn thiện chương các tội XPTTQLKT trong BLHS.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Cơ sở lý thuyết và khung phân tích
- Hệ tư tưởng và văn kiện chỉ đạo: Chủ nghĩa Mác - Lênin, Tư tưởng Hồ Chí Minh về Nhà nước và Pháp luật; Nghị quyết số 08 của Bộ Chính trị và Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02/06/2005 của Bộ Chính trị về Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020.
- Khung lý thuyết chính sách hình sự: Tiếp cận theo nghĩa rộng (tổng thể quan điểm, chiến lược về phòng chống tội phạm) và nghĩa hẹp (chính sách pháp luật hình sự về tội phạm và hình phạt).
- Lý thuyết về TPH, PTPH, HSH, PHSH: Phân định TPH/PTPH (xác định ranh giới hành vi phạm tội) và HSH/PHSH (xác định và điều chỉnh chế tài hình phạt); xác định mối quan hệ nhân quả giữa tội phạm và hình phạt.
Phương pháp nghiên cứu
Luận án sử dụng phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử kết hợp các phương pháp nghiên cứu định tính và thống kê mô tả thực tiễn:
- Phương pháp phân tích và tổng hợp: Làm rõ các khái niệm, thuộc tính pháp lý và quan điểm lý luận về chính sách hình sự, TPH, PTPH, HSH, PHSH.
- Phương pháp lịch sử: Khảo sát sự phát triển của các quy định pháp luật hình sự về tội phạm kinh tế qua các giai đoạn (trước BLHS năm 1985, BLHS năm 1985, BLHS năm 1999 và Luật sửa đổi năm 2009).
- Phương pháp so sánh luật học: Đối chiếu quy định của pháp luật hình sự Việt Nam với một số nước và các cam kết quốc tế.
- Phương pháp thống kê, khảo sát thực tiễn: Thu thập, xử lý số liệu xét xử thực tế.
Nguồn dữ liệu và tư liệu
- Văn bản pháp luật: Các văn bản lập pháp hình sự của Việt Nam từ sau Cách mạng Tháng Tám đến năm 2009;
- Dữ liệu thực tiễn: Báo cáo tổng kết, số liệu thống kê án hình sự về tội XPTTQLKT do Cơ quan Công an (BCA), Viện Kiểm sát nhân dân tối cao (VKSNDTC) và Tòa án nhân dân tối cao (TANDTC) cung cấp trong giai đoạn 2000 - 2010.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Lý luận cơ bản về tội phạm hóa, phi tội phạm hóa; hình sự hóa, phi hình sự hóa hành vi xâm phạm trật tự quản lý kinh tế
Chương 1 tập trung xây dựng cơ sở lý luận về các khái niệm cốt lõi:
| Khái niệm |
Bản chất lý luận trong lập pháp |
Nội dung thể hiện chủ yếu |
| Tội phạm hóa (TPH) |
Quy định hành vi nguy hiểm đáng kể cho xã hội là tội phạm trong BLHS. |
- Bổ sung tội phạm mới hoàn toàn. - Bổ sung hành vi phạm tội mới vào cấu thành hiện có. - Hạ thấp điều kiện cấu thành hoặc mở rộng diện chủ thể. |
| Phi tội phạm hóa (PTPH) |
Đưa một hành vi ra khỏi danh mục tội phạm trong BLHS. |
- Loại bỏ hoàn toàn một tội danh do hành vi không còn tính nguy hiểm đáng kể cho xã hội. - Thu hẹp cấu thành tội phạm, nâng mức định lượng thiệt hại. |
| Hình sự hóa (HSH) |
Thiết lập hoặc tăng cường mức độ trừng trị bằng chế tài hình phạt. |
- Quy định hình phạt cho hành vi mới được TPH. - Tăng mức hình phạt tối thiểu/tối đa trong chế tài. - Mở rộng phạm vi trấn áp hình sự trong Phần chung. |
| Phi hình sự hóa (PHSH) |
Thu hẹp phạm vi tác động hoặc giảm nhẹ mức độ nghiêm khắc của hình phạt. |
- Bãi bỏ hình phạt đối với hành vi đã PTPH. - Giảm khung hình phạt, thay thế hình phạt nặng bằng hình phạt nhẹ hơn. - Bổ sung các loại hình phạt phi tù giam (phạt tiền, trục xuất...) tạo sự đa dạng cho chế tài. |
Chương này làm rõ mối quan hệ bản chất:
- HSH là hậu quả pháp lý của TPH; PHSH là kết quả tất yếu của PTPH.
- TPH và HSH thuộc thẩm quyền độc quyền của Quốc hội (kể từ BLHS năm 1985 bãi bỏ nguyên tắc tương tự).
Tác giả phân biệt ranh giới giữa khái niệm lập pháp và thực tiễn:
- Trong lập pháp: HSH, PHSH là những quá trình khoa học tích cực, thể hiện chủ trương của Nhà nước.
- Trong thực tiễn áp dụng: Khái niệm "hình sự hóa", "phi hình sự hóa" thường bị dùng sai để chỉ hiện tượng tiêu cực, oan sai (áp dụng sai quy phạm hình sự để xử lý tranh chấp dân sự/kinh tế hoặc ngược lại dùng chế tài hành chính để bỏ lọt tội phạm). Luận án đề nghị gọi đúng bản chất là "thực trạng xử lý các vi phạm pháp luật dân sự, kinh tế bằng biện pháp hình sự".
Yếu tố quyết định phạm vi, mức độ TPH, PTPH, HSH, PHSH được xác định dựa trên: tính nguy hiểm cho xã hội của hành vi (định tính tính chất quan hệ bị xâm hại và định lượng mức độ thiệt hại), sự phát triển của điều kiện kinh tế - xã hội và yêu cầu đấu tranh phòng chống tội phạm trong từng thời kỳ.
Chương 2: Thực trạng tội phạm hóa, phi tội phạm hóa; hình sự hóa, phi hình sự hóa hành vi xâm phạm trật tự quản lý kinh tế
Chương 2 đánh giá thực trạng lập pháp và áp dụng pháp luật:
- Về lập pháp: Phân tích sự chuyển biến từ cơ chế kế hoạch hóa tập trung (BLHS năm 1985) sang cơ chế kinh tế thị trường định hướng XHCN (BLHS năm 1999 và sửa đổi năm 2009). Lập pháp đã từng bước bãi bỏ các tội danh không còn phù hợp với quyền tự do kinh doanh, đồng thời bổ sung các nhóm tội danh mới trong các lĩnh vực: thuế, tài chính, chứng khoán, sở hữu trí tuệ, môi trường, thương mại điện tử.
- Về thực tiễn áp dụng (2000 - 2010): Phân tích các số liệu khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử đối với nhóm tội XPTTQLKT. Kết quả cho thấy số lượng vụ án không gia tăng đột biến nhưng tính chất thiệt hại nghiêm trọng.
- Bất cập tồn tại:
- Thiếu tính đồng bộ giữa các quy định của BLHS với các luật chuyên ngành kinh tế, dẫn đến việc khó định tội danh.
- Ranh giới định lượng giữa tội phạm và vi phạm hành chính ở một số điều luật chưa rõ ràng hoặc mức phạt tiền chưa theo kịp biến động giá cả thị trường.
- Cơ cấu hình phạt áp dụng cho các tội XPTTQLKT còn nặng về hình phạt tù giam, chưa phát huy hiệu quả các chế tài mang tính kinh tế (phạt tiền, tịch thu tài sản).
- Thực tiễn còn tồn tại hiện tượng xử lý hình sự đối với các tranh chấp hợp đồng kinh tế, dân sự thuần túy hoặc ngược lại, xử lý hành chính đối với hành vi cấu thành tội phạm.
Chương 3: Quan điểm và phương hướng tội phạm hóa, phi tội phạm hóa; hình sự hóa, phi hình sự hóa hành vi xâm phạm trật tự quản lý kinh tế
Chương 3 xây dựng các định hướng hoàn thiện:
- Quan điểm chỉ đạo: Bám sát đường lối phát triển kinh tế thị trường định hướng XHCN, chủ động hội nhập quốc tế, bảo đảm quyền tự do kinh doanh và cải cách tư pháp theo tinh thần Nghị quyết số 49-NQ/TW.
- Phương hướng TPH: Cần nghiên cứu quy định là tội phạm đối với các hành vi xâm phạm mới nảy sinh trong lĩnh vực tài chính, tín dụng, ngân hàng, thị trường chứng khoán, thương mại điện tử và sở hữu trí tuệ có mức độ nguy hiểm cao cho xã hội mà các biện pháp phi hình sự không đủ sức ngăn chặn.
- Phương hướng PTPH: Tiếp tục rà soát loại bỏ các tội danh hoặc điều kiện định tội mang tính can thiệp hành chính vào quan hệ thị trường; chuyển giao sang các chế tài dân sự, kinh tế hoặc xử lý vi phạm hành chính đối với những hành vi không còn tính nguy hại đáng kể.
- Phương hướng HSH và PHSH:
- Mở rộng phạm vi áp dụng hình phạt tiền với tư cách là hình phạt chính và hình phạt bổ sung đối với tội phạm kinh tế;
- Giảm bớt việc áp dụng hình phạt tù, hạ mức tối đa của khung hình phạt đối với một số tội danh ít nghiêm trọng;
- Khắc phục các mâu thuẫn giữa quy định Phần chung và Phần các tội phạm;
- Nghiên cứu cơ sở thực tiễn để từng bước quy định trách nhiệm hình sự của pháp nhân đối với các vi phạm kinh tế nghiêm trọng.
Kết quả và những đóng góp mới
Đóng góp mới về mặt lý luận
- Là công trình nghiên cứu toàn diện, có hệ thống đầu tiên ở cấp độ luận án tiến sĩ về TPH, PTPH, HSH, PHSH nhóm hành vi XPTTQLKT trong khoa học Luật hình sự Việt Nam.
- Làm rõ bản chất lý luận của chính sách hình sự và xác định TPH, PTPH, HSH, PHSH là các biện pháp lập pháp hàng đầu, mang tính quyết định để thực hiện chính sách hình sự.
- Phân định rõ ranh giới khoa học giữa HSH, PHSH trong hoạt động xây dựng pháp luật của Quốc hội với hiện tượng áp dụng sai pháp luật ("hình sự hóa/phi hình sự hóa" sai trái) trong thực tiễn tố tụng.
Đóng góp mới về mặt thực tiễn và giải pháp
- Đánh giá có căn cứ khoa học về lịch sử lập pháp và thực tiễn xét xử các tội XPTTQLKT tại Việt Nam giai đoạn 2000 - 2010.
- Đề xuất hệ thống các tiêu chí định tính và định lượng phục vụ việc TPH, PTPH đối với hành vi kinh tế trong giai đoạn hội nhập WTO.
- Đề xuất định hướng sửa đổi cụ thể chương các tội XPTTQLKT trong BLHS: mở rộng hình phạt tiền, giảm áp dụng hình phạt tù, điều chỉnh các tình tiết định tội, định khung bảo đảm tương thích với luật chuyên ngành và chuẩn mực quốc tế.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
- Hạn chế: Luận án giới hạn phạm vi khảo sát thực tiễn áp dụng pháp luật trong mốc thời gian từ năm 2000 đến năm 2010; phạm vi nghiên cứu chuyên sâu dưới góc độ Luật hình sự thực định mà không mở rộng phân tích chuyên sâu về tội phạm học hoặc quy trình tố tụng hình sự.
- Hướng nghiên cứu tiếp: Tiếp tục theo dõi thực tiễn áp dụng sau các đợt sửa đổi toàn diện BLHS; nghiên cứu cơ chế xử lý trách nhiệm hình sự của pháp nhân thương mại trong lĩnh vực kinh tế; nghiên cứu hoàn thiện các biện pháp phối hợp liên ngành nhằm phòng ngừa tội phạm kinh tế.
Giá trị tham khảo
- Đối với cơ quan lập pháp: Cung cấp luận cứ khoa học và cơ sở thực tiễn trực tiếp phục vụ việc sửa đổi, bổ sung BLHS đối với nhóm tội phạm xâm phạm trật tự quản lý kinh tế.
- Đối với cơ quan tiến hành tố tụng: Giúp điều tra viên, kiểm sát viên, thẩm phán phân định chính xác ranh giới giữa tội phạm kinh tế và vi phạm hợp đồng dân sự/kinh tế, hạn chế tình trạng oan sai hoặc bỏ lọt tội phạm.
- Đối với nghiên cứu và giảng dạy: Làm tài liệu tham khảo chuyên sâu cho giảng viên, nghiên cứu sinh, học viên cao học và sinh viên ngành Luật trong các học phần Luật hình sự Việt Nam và Chính sách hình sự.
Câu hỏi thường gặp
1. Mục tiêu cốt lõi của luận án là gì?
Luận án làm rõ lý luận cơ bản về bốn biện pháp lập pháp (tội phạm hóa, phi tội phạm hóa, hình sự hóa, phi hình sự hóa), phân tích thực trạng lập pháp và áp dụng pháp luật đối với các tội XPTTQLKT giai đoạn 2000 - 2010, từ đó đề xuất phương hướng hoàn thiện BLHS.
2. Luận án phân biệt hình sự hóa trong lập pháp và "hình sự hóa" trong thực tiễn như thế nào?
HSH trong lập pháp là hoạt động hợp pháp, tích cực thuộc thẩm quyền của Quốc hội nhằm quy định hoặc tăng nặng chế tài hình phạt. Ngược lại, "HSH" trong thực tiễn áp dụng là hiện tượng tiêu cực, sai trái của cơ quan tố tụng khi áp dụng pháp luật hình sự để giải quyết tranh chấp dân sự, kinh tế thuần túy.
3. Theo tác giả, việc bổ sung thêm loại hình phạt nhẹ hơn vào chế tài điều luật là HSH hay PHSH?
Đó là biểu hiện của phi hình sự hóa (PHSH), vì việc bổ sung hình phạt nhẹ hơn giúp giảm tính nghiêm khắc của chế tài, mở rộng quyền lựa chọn cho thẩm phán để cá thể hóa hình phạt và hạn chế áp dụng hình phạt tù.
4. Dữ liệu thực tiễn của luận án được thu thập từ những nguồn nào?
Dữ liệu được thu thập từ báo cáo tổng kết và thống kê xét xử của Cơ quan Công an (BCA), Viện Kiểm sát nhân dân tối cao (VKSNDTC) và Tòa án nhân dân tối cao (TANDTC) trong giai đoạn 2000 - 2010.
5. Nghị quyết nào của Đảng là cơ sở chính trị trọng tâm cho định hướng cải cách trong luận án?
Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02/06/2005 của Bộ Chính trị về Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020 và Nghị quyết số 08 của Bộ Chính trị.
Kết luận
Luận án tiến sĩ của Nguyễn Thị Thu Hương đã giải quyết toàn diện các vấn đề lý luận và thực tiễn về TPH, PTPH, HSH, PHSH đối với nhóm hành vi xâm phạm trật tự quản lý kinh tế tại Việt Nam. Thông qua việc phân tích thực trạng lập pháp và số liệu áp dụng pháp luật giai đoạn 2000 - 2010, công trình đã chỉ rõ những bất cập trong cấu thành tội phạm và hệ thống chế tài hiện hành. Các phương hướng đề xuất của luận án bám sát định hướng cải cách tư pháp và hội nhập kinh tế quốc tế, tạo cơ sở khoa học giá trị cho việc hoàn thiện Bộ luật Hình sự Việt Nam.