CHƯƠNG 1 LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ TỘI PHẠM HÓA, PHI TỘI PHẠM HÓA; HÌNH SỰ HÓA, PHI HÌNH SỰ HÓA HÀNH VI XÂM PHẠM TRẬT TỰ QUẢN LÝ KINH TẾ 1.1 Tội phạm hoá, phi tội phạm hoá; hình sự hoá, phi hình sự hoá - những biện pháp để thực hiện chính sách hình sự 1.1 Nhận thức về chính sách hình sự Trong hầu hết các ngôn ngữ, chính sách luôn đồng nghĩa với chính trị. Xét dưới góc độ ngôn ngữ, chính trị và chính sách là những từ có nghĩa rất gần nhau, đều có chung một gốc “chính” để chỉ sự đúng đắn, sáng suốt. Chính sách nói chung được hiểu là sách lược để thực hiện mục đích chính trị, đường lối chính trị là sách lược chính trị. Chính sách trước hết là chính trị.
Chính sách bao giờ cũng mang tính mục tiêu chiến lược, sách lược của những người, những lực lượng đề xướng, phản ánh tập trung quyền lợi giai cấp, đồng thời phản ánh điều kiện, hoàn cảnh lịch sử cụ thể khi đề ra nó. Trong Tiếng Việt, chính trị và chính sách là hai khái niệm tuy rất gần nhau nhưng không phải lúc nào cũng đồng nghĩa với nhau. Theo Đại từ điển Tiếng Việt, chính trị là “những vấn đề về điều hành bộ máy nhà nước hoặc những hoạt động của giai cấp, chính đảng nhằm giành hoặc duy trì quyền điều hành Nhà nước…” [116, tr. Còn theo Từ điển Luật học, “chính trị là toàn bộ những hoạt động liên quan đến các mối quan hệ giữa các giai cấp, giữa các dân tộc, các tầng lớp xã hội mà cốt lõi của nó là vấn đề giành chính quyền, duy trì và sử dụng quyền lực nhà nước, sự tham gia vào công việc của Nhà nước; sự xác định hình thức tổ chức, nhiệm vụ, nội dung hoạt động của Nhà nước.
Chính trị liên quan đến quyền lợi của giai cấp và Nhà nước…Trong điều kiện xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam, chính trị trước hết là bảo đảm vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản, hiệu lực quản lý của Nhà nước, quyền làm chủ của nhân dân lao động trên tất cả mọi lĩnh vực của đời sống xã hội” [26, tr. Còn chính sách là “chủ trương và các biện 14 pháp của một đảng phái, một chính phủ trong các lĩnh vực chính trị - xã hội…” [116, tr. Kể từ khi giành được chính quyền, Đảng và Nhà nước ta luôn coi pháp luật là một công cụ sắc bén trong xây dựng và bảo vệ đất nước, bảo vệ và củng cố các quan hệ xã hội. Toàn bộ công tác xây dựng pháp luật, áp dụng và thi hành pháp luật cũng như giáo dục, tuyên truyền pháp luật đều được tiến hành trên cơ sở đường lối, chính sách của Đảng.
Đường lối đó thể hiện ý chí của giai cấp công nhân và nhân dân lao động. Nhiệm vụ xây dựng, hoàn thiện và tổ chức thực hiện pháp luật trong quá trình xây dựng Nhà nước pháp quyền ở nước ta hiện nay được tiến hành trước hết trên nền tảng chính sách pháp luật phù hợp. Vì vậy, chính sách pháp luật được hiểu là tổng thể các đường hướng, các hình thức, nhiệm vụ, nội dung và mục đích hoạt động của Nhà nước trong việc xây dựng, hoàn thiện và sử dụng pháp luật để điều chỉnh các quan hệ xã hội. Nói cách khác, đó là tổng thể những quan niệm, quan điểm của Đảng cầm quyền về việc xây dựng, hoàn thiện và tổ chức thực hiện pháp luật trong thực tiễn để điều chỉnh có hiệu quả các quan hệ xã hội.
Các quan hệ xã hội mà pháp luật điều chỉnh tồn tại trên từng lĩnh vực cụ thể và tương ứng với mỗi lĩnh vực là một chính sách pháp luật phù hợp như chính sách pháp luật trên lĩnh vực dân sự; chính sách pháp luật trên lĩnh vực hành chính nhà nước; chính sách pháp luật trên lĩnh vực kinh tế tài chính, tín dụng, ngân hàng, chứng khoán; chính sách pháp luật trên lĩnh vực đấu tranh phòng ngừa và chống tội phạm. Trong từng giai đoạn phát triển của đất nước, với tư cách là một bộ phận hợp thành không thể thiếu của chính sách phát triển kinh tế - xã hội nói chung, chính sách pháp luật có nội hàm là tổng hợp những nguyên tắc, đường hướng cơ bản về xây dựng, hoàn thiện và sử dụng pháp luật, được hoạch định nhằm tạo lập cơ sở đúng đắn cho việc xây dựng và sử dụng một cách có hiệu quả các khả năng điều chỉnh của pháp luật, xác định một cách khoa học mô hình tổ chức và hoạt động của các cơ quan pháp luật, xây dựng ý thức pháp luật cho cộng đồng. Vì vậy, Đảng và Nhà nước ta luôn quan tâm đến việc hoạch định chính sách pháp luật, xây dựng và hoàn thiện các chế định, các 15 thiết chế tổ chức pháp lý. Hệ thống pháp luật không ngừng được hoàn thiện, ngày càng trở thành công cụ quan trọng để Nhà nước quản lý xã hội.
Lý luận về chính sách hình sự là lý luận về sự kết hợp những nhân tố chính trị vào trong các biện pháp pháp luật để đảm bảo tính hệ thống, sự nhất quán của cơ chế bảo vệ và điều chỉnh bằng pháp luật các mối quan hệ xã hội trong lĩnh vực đấu tranh phòng chống tội phạm, bảo đảm phù hợp với bản chất và mục đích của Nhà nước. Khái niệm chính sách hình sự đã được sử dụng từ rất lâu, vào khoảng năm 1800 [119, tr. Đây là vấn đề luôn được các Đảng cầm quyền, các Nhà nước với chế độ chính trị, xã hội khác nhau quan tâm. Đảng cầm quyền khi đề ra các chính sách, đường lối của mình trước hết phải xuất phát từ lợi ích của giai cấp mà Đảng đó là hạt nhân lãnh đạo.
Mặc dù đã có nhiều công trình nghiên cứu, nhưng từ trước đến nay về lý luận vẫn chưa có nhận thức chung thống nhất về khái niệm chính sách hình sự cũng như chưa có tiếng nói chung về nội hàm của nó. Ở Liên Xô trước đây đã có nhiều công trình nghiên cứu chính sách hình sự dưới các góc độ như: chính trị học, xã hội học pháp luật, LHS, tội phạm học… Ngày 26/3/1928, Ban Chấp hành trung ương Đảng Cộng sản Liên Xô đã ban hành Nghị quyết “Về chính sách hình sự và thực trạng của nó trong thi hành án hình sự” [103, tr. Mặc dù nghị quyết không đưa ra khái niệm và nội hàm của chính sách hình sự nhưng bước đầu đã đề ra những định hướng cơ bản liên quan đến việc thực hiện chính sách hình sự trong thi hành án hình sự, đặt nền tảng quan trọng cho việc nghiên cứu vấn đề. Tuy nhiên, trong một khoảng thời gian dài, vấn đề chính sách hình sự không được quan tâm nghiên cứu.
Mãi tới thập kỷ 60, nhiều công trình nghiên cứu về chính sách hình sự của giới khoa học pháp lý hình sự và tội phạm học Xô Viết mới xuất hiện rộng rãi. Quan điểm về chính sách hình sự được thể hiện ở các góc độ khác nhau. Có quan điểm cho rằng: Chính sách hình sự bao gồm không chỉ những biện pháp chuyên ngành (pháp lý hình sự, tố tụng hình sự, tội phạm học, thi hành án hình sự, điều tra hình sự) mà còn là những biện pháp mang tính xã hội (về kinh tế, tư tưởng, y học…) [118, tr. 179]; Hoặc coi chính sách hình sự là phương hướng hoạt động của Đảng và Nhà nước trong việc thực hiện các 16 biện pháp chính trị - xã hội, kinh tế và soạn thảo các phương pháp tối ưu về mặt pháp luật hình sự nhằm mục đích xóa bỏ tình trạng phạm tội [dẫn theo 30, tr.
32]; chính sách trong lĩnh vực đấu tranh chống tội phạm không chỉ là chính sách pháp luật hình sự mà còn bao gồm cả chính sách xét xử, chính sách phòng ngừa xã hội các vi phạm pháp luật và chính sách cải tạo lao động [122, tr. Dưới góc độ xã hội học, tội phạm học có quan điểm nhận định chính sách phòng ngừa tội phạm là một dạng của chính sách xã hội trong việc xóa bỏ tình trạng phạm tội, tồn tại độc lập bên cạnh chính sách hình sự. Các phương pháp, phương tiện của chính sách hình sự và chính sách phòng ngừa tội phạm ở trong sự xung đột nhất định, vì chính sách hình sự đấu tranh với cái ác và trừng phạt cái ác, còn chính sách phòng ngừa tội phạm theo đuổi xu thế hướng thiện [120, tr.12]; hay: chính sách hình sự là sự tác động một cách có chiến lược và định hướng đến tội phạm, dựa trên việc nhận thức tình hình và khuynh hướng thực tế của tội phạm, lấy các biện pháp pháp lý làm cơ sở và với mục đích tối thiểu hóa mức độ tội phạm đến mức có thể [125, tr. 110]…Hiện nay, theo quan điểm của đa số các nhà nghiên cứu lý luận pháp lý hình sự của Nga cho rằng: “chính sách hình sự - chiến lược và sách lược đấu tranh chống tội phạm do Nhà nước ban hành và bảo đảm thực hiện, gồm có các biện pháp pháp lý hình sự cũng như các biện pháp tố tụng hình sự, tội phạm học và những biện pháp khác nhằm hạn chế tội phạm, giảm thiệt hại do tội phạm gây ra” [121].
Như vậy chính sách hình sự được hiểu là quan điểm, tư tưởng chiến lược của Nhà nước trong đấu tranh chống tội phạm nhằm mục đích cuối cùng là ngăn ngừa, đấu tranh, xử lý tội phạm có hiệu quả. Chính sách hình sự bao gồm các biện pháp pháp lý hình sự, tố tụng hình sự và các biện pháp khác. Tại Cộng hòa Liên bang Đức, khoa học pháp lý hình sự và tội phạm học là những ngành khoa học phát triển rất mạnh mẽ từ thập niên 60. Vấn đề chính sách hình sự nói chung, chính sách về tội phạm và chính sách về trách nhiệm hình sự được các nhà khoa học Đức dành sự quan tâm đặc biệt.
Một số nhà khoa học cho rằng, chính sách hình sự đồng nghĩa với chính sách phòng, chống tội phạm hoặc chính sách về tội phạm, coi chính sách hình sự là chính 17 sách về PLHS [119, tr. Quan niệm như vậy về chính sách hình sự không được thừa nhận một cách rộng rãi, bởi chính sách hình sự không thể được hiện thực hóa chỉ trên cơ sở của LHS mà để cấu thành nó, ngoài chính sách về PLHS còn có chính sách về pháp luật tố tụng hình sự, chính sách về các thiết chế của tư pháp hình sự… đều là các bộ phận cấu thành của chính sách hình sự. Tại Việt Nam, vấn đề chính sách hình sự từ lâu đã thu hút được sự quan tâm của Đảng, Nhà nước, các nhà khoa học và các nhà hoạt động thực tiễn.