Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu, cơ sở lý thuyết, khái quát về địa bàn và tộc người nghiên cứu Chương 2: Một số quan niệm, nguyên tắc và hình thức hôn nhân của người Dao Đỏ Chương 3: Phong tục, tập quán và nghi lễ hôn nhân Chương 4: Những yếu tố tác động đến biến đổi hôn nhân, xu hướng biến đổi, giá trị và một số vấn đề đặt ra 9 h Chƣơng 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU, CƠ SỞ LÝ THUYẾT, KHÁI QUÁT VỀ ĐỊA BÀN VÀ TỘC NGƢỜI NGHIÊN CỨU 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu 1. Những công trình nghiên cứu kinh điển về hôn nhân Hôn nhân và gia đình là một trong những lĩnh vực đã đƣợc các nhà triết gia Hy Lạp quan tâm từ thời cổ đại, tuy nhiên vẫn không có nhiều công trình thời ấy đƣợc công bố. Trong số các công trình đó, cuốn sách “Mẫu quyền” của Bacofell (1861) đã đề cập đến vấn đề hôn nhân của con ngƣời và khẳng định rằng xã hội đầu tiên của loài ngƣời là mẫu hệ, vì thế giai đoạn này con ngƣời sống trong tình trạng quần hôn, con cái sinh ra chỉ biết về mẹ mà không biết chính xác bố của mình.
Điều này khẳng định, thiết chế xã hội đầu tiên của loài ngƣời là mẫu quyền. Bên cạnh đó, cuốn sách “Nghiên cứu lịch sử cổ đại - hôn nhân nguyên thủy” của tác giả M. Lennan (1866) có nhấn mạnh đến vấn đề ngoại hôn tộc ngƣời, trong đó nam nữ cùng chung huyết thống không đƣợc kết hôn với nhau mà theo quy định chỉ đƣợc kết hôn với ngƣời khác nhóm. Hiện nay, khi đề cập đến cơ sở lí luận chung về hôn nhân và gia đình, nhiều nghiên cứu đã nhắc đến L.
Morgan với cuốn sách “Xã hội cổ đại” [48] của ông xuất bản năm 1882 đƣợc coi là một trong số các công trình nghiên cứu khá chi tiết về các loại hình hôn nhân và gia đình trong thời kì công xã nguyên thủy. Trong công trình này, L. Morgan đã liệt kê các hình thái hôn nhân và gia đình của loài ngƣời trải qua đến thời điểm ông nghiên cứu là: gia đình huyết tộc, gia đình punalua, gia đình một vợ một chồng, gia đình đối ngẫu, gia đình phụ quyền, và cho rằng, đây là các loại hình gia đình phổ biến của thời kì công xã nguyên thủy. Đồng thời Morgan cũng chỉ ra một số hình thái hôn nhân: hôn nhân tập thể, hôn nhân theo nhóm, hay quần hôn và hôn nhân cá thể, giữa hai hình thái hôn nhân đó có một hình thái quá độ là hôn nhân đối ngẫu.
Ăngghen (1884) với cuốn sách nổi tiếng “Nguồn gốc của gia đình, của chế độ tư hữu và Nhà nước” đã đề cập đến những đặc trƣng của xã hội, giải thích sự phát triển các mối quan hệ trong gia đình, các thiết chế hôn nhân và sự tiến hóa của gia đình trong lịch sử nhân loại, nhƣng theo một số nhà nghiên cứu về hôn nhân và gia đình thì trong nhiều nhận định của Ph. Ăngghen đã có sự kế thừa từ quản điểm của L.Ăngghen, có ba hình thức hôn nhân chính và mỗi hình thức hôn 10 h nhân tƣơng ứng với ba giai đoạn phát triển chính của nhân loại. Cụ thể nhƣ ở thời đại mông muội có chế độ quần hôn; ở thời đại dã man có chế độ hôn nhân cặp đôi; ở thời đại văn minh có chế độ một vợ một chồng đƣợc bổ sung bằng tệ ngoại tình và nạn mại dâm [24, tr. Song, cũng cần phải nói rằng, hai công trình của L.
Morgan và Ph. Ăngghen chỉ phù hợp trong trƣờng hợp nghiên cứu với một gia đình lịch sử cụ thể. Hiện nay quan điểm của hai ông đang đặt ra nhiều vấn đề tranh cãi trong giới khoa học khi nghiên cứu về hôn nhân. Sau công trình nổi tiếng của Ph.
Ăngghen, còn có nhiều học giả ở các nƣớc Tây Âu, Châu Mỹ và Châu Á. tiếp tục đi sâu nghiên cứu các quan điểm, lý thuyết, cách tiếp cận trong nghiên cứu về hôn nhân và gia đình, hoặc là các hình thái hôn nhân của từng tộc ngƣời ở phạm vi địa phƣơng hay quốc gia cụ thể. Các tác giả đó cũng đã tiếp cận và đạt đƣợc những thành tựu đáng kể về lý thuyết, phƣơng pháp luận nghiên cứu liên quan đến lĩnh vực hôn nhân và gia đình nói chung. Trong đó phải kể đến tác giả Grant Evans với cuốn sách mang tên “Bức khảm văn hóa châu Á” [29].
Đây là một trong những cuốn sách đƣợc các nhà nghiên cứu Dân tộc học/Nhân học ở trong và ngoài nƣớc biết đến từ nhiều năm nay, bởi vì nội dung của công trình ấy đã trực tiếp đề cập đến bức tranh văn hóa của các dân tộc ở châu Á nói chung, cũng nhƣ sự hình thành các loại gia đình ở châu lục này nói riêng. Đặc biệt, trong công trình, tác giả Grant Evans cũng đã chỉ ra một số quan điểm cơ bản về các hình thái và chức năng của gia đình và tập trung nhấn mạnh: “hình thái và chức năng của gia đình đƣợc xác định bởi các tiêu chí và giá trị của mỗi một xã hội, chứ không phải bởi sinh học, trong một số trƣờng hợp ngay cả những thành viên gia đình đã đƣợc xác định về mặt văn hóa cũng không cùng cƣ ngụ với nhau” [29, tr. Hơn nữa, nội dung công trình của Grant Evans còn đề cập đến mô hình gia đình hạt nhân, và xem đây đƣợc xem là hình thức gia đình mang tính phổ biến trong xã hội ngày nay. Nhìn chung, cuốn sách “Bức khảm văn hoá châu Á” đối với luận án của NCS có giá trị tham khảo quan trọng để có thể làm rõ một số yếu tố văn hóa, sự khác biệt về văn hóa trong hôn nhân của ngƣời Dao Đỏ ở tỉnh Cao Bằng.
Người Dao qua tài liệu của tác giả nước ngoài và trong nước 1. Nghiên cứu về người Dao và hôn nhân của người Dao ở Việt Nam của các tác giả nước ngoài Luận bàn về các tộc ngƣời thiểu số nói chung, về ngƣời Dao ở Việt Nam nói riêng đã sớm thu hút đƣợc sự quan tâm nghiên cứu của nhiều học giả nƣớc ngoài, đặc biệt là các học giả ngƣời Pháp. Nhằm phục vụ cho việc cai trị của thực dân Pháp đối với các nƣớc thuộc địa ở Đông Nam Á trong đó có Việt Nam, một số cha cố và sĩ 11 h quan Pháp đã có những cuộc công cán, tìm hiểu, ghi chép về ngƣời Dao, nhất là vào nửa cuối thế kỉ XIX, đầu thế kỉ XX. Trong số nhiều công trình sách, tài liệu ghi chép về ngƣời Dao của các sĩ quan Pháp thì có khá nhiều công trình đã đề cập đến lĩnh vực hôn nhân, gia đình của ngƣời Dao ở Việt Nam.
Các công trình thời kì này đƣợc các tác giả ngƣời Pháp đăng tải trên các tạp chí nhƣ “Dân tộc học Đông Dƣơng”, “Tạp chí Đông Dƣơng”, “Tạp chí Viện Viễn Đông Bác Cổ” (BEFEO). Chẳng hạn nhƣ tác giả Auguste Bonifacy đã có nhiều bài viết về ngƣời Dao đƣợc công bố nhƣ: “Một cuộc công cán ở vùng người Mán từ tháng 10 năm 1901 đến cuối tháng giêng năm 1902” [6]; “Giản chỉ về người Mán Quần Cộc, 1904” [5], “Giản chỉ về Mán Quần Trắng, 1905" [6]; “Giản chí về người Mán Cao Lan, 1908” [4]. Các công trình khoa học nêu trên của Bonifacy đƣơc đánh giá là những nghiên cứu cơ bản, đã khái quát những nét truyền thống của ngƣời Dao ở Việt Nam trên một số thành tố về nhà cửa, trang phục, hoạt động lao động sản xuất; kết cấu tổ chức xã hội, cộng đồng cùng các nghi lễ, văn học, nghệ thuật, đời sống tín ngƣỡng, tôn giáo. Bên cạnh đó, tác giả có đề cập tới cơ cấu gia đình và tục nhận con nuôi trong các gia đình ngƣời Dao nhƣng vẫn còn sơ lƣợc.
Bonifacy là một sĩ quan thực dân Pháp, giỏi chữ Dao, say mê với nghiên cứu dân tộc học nên trong các tác phẩm về ngƣời Dao, ông đã thống kê các tên gọi của từng nhóm tộc ngƣời Dao (cả tên tự gọi và tên các dân tộc khác gọi). Ông cũng phân loại các ngành Dao thành 2 nhóm ngôn ngữ mà từ “ngƣời” gọi là Mun” (Mán quần trắng, Mán Lam Điền) và từ “ngƣời” gọi là “Miên” (nhƣ nhóm Mán Tiền, Mán Đại Bản). Ông đọc đƣợc các sách ghi chép của ngƣời Dao nên những công trình nghiên cứu của ông về tôn giáo tín ngƣỡng, văn học dân gian rất phong phú tƣ liệu, đến nay nhiều công trình của ông vẫn còn giá trị. Trong cuốn sách viết về tỉnh Thanh Hóa “La Province de Thanh - Hoa” của tác giả H.
Le Breton cũng giới thiệu một số nét khái quát về địa bàn cƣ trú và phong tục tập quán của ngƣời Dao ở vùng Quan Hóa [104]. Trong khi đó, “Les Races Haut- Tonkin de Phong-Tho and Lang-Son” [103] là công trình viết về văn hóa truyền thống của ngƣời Dao ở Việt Nam của tác giả ngƣời Pháp Maurice Abadie, đƣợc xuất bản năm 1924. Nội dung cuốn sách đề cập đến những giá trị văn hóa trong phong tục về hôn nhân cùng các nghi lễ cƣới xin của ngƣời Dao Quần Trắng và ngƣời Dao Họ, là một trong số 7 nhóm Dao ở Việt Nam. Một tác giả ngƣời Pháp khác là Jacques Lemoine cũng rất quan tâm đến đời sống văn hóa của ngƣời Dao ở Việt Nam, trong đó phải kể đến công trình nghiên cứu: “Khái quát về di sản văn hóa Dao và hiện đại hóa ở Việt Nam”.
Trong công trình này, 12 h Jacques Lemoine đã đề cập tới đặc điểm tín ngƣỡng tôn giáo của ngƣời Dao ở hai phƣơng ngữ Miền và Mùn, đồng thời, ông cũng đƣa ra nhận định: “Sự đa dạng của các nhóm cùng bản sắc riêng của mỗi nhóm là đặc điểm chính của ngƣời Dao ở Việt Nam. Ngày nay, khi xem xét những nét đặc trƣng của ngƣời Dao, chúng ta có thể thấy rằng, ngoài ngôn ngữ và tên gọi họ đặt cho mình và những nhóm khác còn có thể chú ý đến những đặc điểm về nhà ở, trang phục, tập quán và tôn giáo riêng” [44, tr. Năm 1985, Jacques Lemoine tiếp tục xuất bản cuốn sách “ The Yao ceremonial paintings” [105]. Tuy không nghiên cứu trực tiếp đến ngƣời Dao ở Việt Nam, song nội dung của cuốn sách này đã đề cập đến sự ảnh hƣởng của Đạo giáo trong đời sống tín ngƣỡng tôn giáo của tộc ngƣời Dao trên Thế giới nói chung, trong đó có cộng đồng ngƣời Dao ở Việt Nam nói riêng.
Cộng đồng ngƣời Dao cũng là một trong số các tộc ngƣời thiểu số ở Việt Nam luôn đƣợc sự chú ý, quan tâm của các nhà dân tộc học Xô Viết, chẳng hạn nhƣ A.