Tổng quan luận án

Luận án tiến sĩ Nhân học với đề tài "Thực trạng hôn nhân của người Dao Đỏ ở tỉnh Cao Bằng" do nghiên cứu sinh Ngô Thị Phương Thảo thực hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS. Nguyễn Thị Song Hà, được bảo vệ tại Học viện Khoa học xã hội - Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam năm 2023 (Mã số chuyên ngành: 9 31 03 02).

Về tính cấp thiết, tác giả xuất phát từ quan điểm chỉ đạo của Đảng và Nhà nước về văn hóa qua các thời kỳ, từ bản Đề cương về văn hóa Việt Nam (tháng 2/1943) khẳng định văn hóa là lĩnh vực vận động, tiếp nối liên tục từ quá khứ đến hiện tại và tương lai, cho đến Nghị quyết Hội nghị lần thứ 5 Ban Chấp hành Trung ương khóa VIII (năm 1998) và phát biểu chỉ đạo của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng tại Hội nghị Văn hóa toàn quốc ngày 24/11/2021 xác định con người giữ vị trí trung tâm trong chiến lược phát triển văn hóa. Hôn nhân được xem là thành tố đầu tiên thiết lập nên gia đình, là tế bào của xã hội, nơi chứa đựng các giá trị nhân sinh quan và thế giới quan tộc người. Tỉnh Cao Bằng là địa bàn miền núi, vùng cao biên giới Đông Bắc, có đường biên giới dài trên 333 km tiếp giáp Trung Quốc, nơi hội tụ 28 dân tộc cùng sinh sống hòa đồng. Trong đó, cộng đồng người Dao có ba nhóm chính gồm Dao Đỏ, Dao Tiền và Dao Tuyển; riêng nhóm Dao Đỏ cư trú tập trung chủ yếu tại hai huyện Hà Quảng và Nguyên Bình. Khoảng trống nghiên cứu được tác giả xác định là: Mặc dù người Dao Đỏ tại Cao Bằng còn bảo lưu nhiều giá trị văn hóa đặc trưng qua phong tục tập quán và nghi lễ hôn nhân, song vẫn còn tồn tại các tập tục chưa phù hợp với luật pháp hiện hành; đồng thời còn thiếu vắng các công trình khoa học nghiên cứu chuyên sâu, có hệ thống về đời sống hôn nhân của người Dao Đỏ đặt trong bối cảnh phát triển vùng biên, chịu sự chi phối của kinh tế thị trường, đô thị hóa và cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư.

Mục đích nghiên cứu của luận án gồm ba nội dung:

  • Làm rõ thực trạng hôn nhân của người Dao Đỏ ở tỉnh Cao Bằng và sự biến đổi trong hôn nhân của nhóm Dao này tại địa bàn nghiên cứu.
  • Chỉ ra những yếu tố tác động đến sự biến đổi hôn nhân của người Dao Đỏ, trên cơ sở đó dự báo xu hướng biến đổi trong hôn nhân của người Dao nói chung, người Dao Đỏ ở tỉnh Cao Bằng nói riêng.
  • Từ kết quả nghiên cứu của luận án, đề xuất một số kiến nghị, giải pháp bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa hôn nhân của người Dao Đỏ ở tỉnh Cao Bằng trong bối cảnh đổi mới, hội nhập kinh tế thị trường và toàn cầu hóa hiện nay.

Nhiệm vụ nghiên cứu của luận án được xác định cụ thể:

  1. Tổng quan những công trình nghiên cứu đã công bố có liên quan đến đề tài luận án, trong đó tập trung về văn hóa hôn nhân của người Dao Đỏ để thấy được những khoảng trống trong các nghiên cứu và định hướng đóng góp mới cho luận án.
  2. Tập trung làm rõ một số vấn đề lý luận và thực tiễn, gồm các khái niệm cơ bản, lý thuyết nghiên cứu làm cơ sở để phân tích, đánh giá các nội dung.
  3. Nêu khái quát những đặc điểm điều kiện địa lý - tự nhiên, xã hội tại địa bàn nghiên cứu có tác động, ảnh hưởng đến đời sống hôn nhân của người Dao Đỏ.
  4. Phân tích, đánh giá một số quan niệm, nguyên tắc, phong tục, tập quán, nghi lễ hôn nhân hiện nay của người Dao Đỏ ở tỉnh Cao Bằng, qua đó thấy được giá trị văn hóa được biểu hiện qua hôn nhân vẫn được duy trì, thực hành; những giá trị văn hóa đặc trưng cần được bảo tồn và phát huy.
  5. Phân tích những yếu tố tác động và dự báo xu hướng biến đổi hôn nhân của người Dao Đỏ ở tỉnh Cao Bằng trong bối cảnh đổi mới, toàn cầu hóa và quan hệ tộc người liên/xuyên biên giới đang diễn ra mạnh mẽ, sâu rộng như hiện nay.
  6. Xác định những vấn đề đặt ra trên lĩnh vực hôn nhân của người Dao Đỏ ở Cao Bằng, từ đó đề xuất một số kiến nghị, giải pháp nhằm phát huy các giá trị văn hóa hôn nhân của người Dao Đỏ và người Dao nói chung trong quá trình xây dựng đời sống văn hóa mới hiện nay tại địa phương, thực hiện Chiến lược công tác dân tộc, Luật Hôn nhân và Gia đình, Chính sách kế hoạch hóa gia đình, Chiến lược phát triển gia đình Việt Nam.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

  • Đối tượng nghiên cứu: Thực trạng hôn nhân của người Dao Đỏ ở tỉnh Cao Bằng hiện nay.
  • Phạm vi nội dung: Tập trung vào các quan niệm về hôn nhân, nguyên tắc và hình thức kết hôn, phong tục, tập quán trong thực hành nghi lễ hôn nhân, cư trú sau hôn nhân, các yếu tố tác động đến biến đổi hôn nhân và các vấn đề đặt ra trong phát triển kinh tế - xã hội, xây dựng nông thôn mới. Luận án tiến hành so sánh thực trạng hiện nay với hôn nhân truyền thống trước đây.
  • Phạm vi không gian: Khảo sát tại huyện Hà Quảng và huyện Nguyên Bình thuộc tỉnh Cao Bằng. Điểm nghiên cứu cụ thể gồm: xã Cần Nông (các xóm Tềnh Quốc, Lũng Quẩy, Phác Lùng, Phiêng Pán) và xã Lương Thông (xóm Lũng Tỳ) thuộc huyện Hà Quảng; xã Vũ Minh (các xóm Lũng Pán, Lũng Vài, Lũng Chang, Lũng Ỉn) thuộc huyện Nguyên Bình (đã cập nhật việc sắp xếp đơn vị hành chính theo Nghị quyết 864/NQ-UBTVQH14 ngày 10/1/2020).
  • Phạm vi thời gian: Tập trung nghiên cứu thực trạng trong giai đoạn 7 năm (2015 - 2022); đồng thời mở rộng tìm hiểu tiến trình biến đổi từ mốc Đổi mới đất nước năm 1986 và thời điểm bình thường hóa quan hệ Việt Nam - Trung Quốc năm 1992 đến nay.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Tác giả đã hệ thống hóa các hướng nghiên cứu liên quan đến đề tài qua nhiều nhóm tư liệu:

Các công trình nghiên cứu kinh điển về hôn nhân và gia đình:

  • Bacofell (1861) với tác phẩm "Mẫu quyền" khẳng định hình thái xã hội ban đầu của loài người là mẫu hệ với chế độ quần hôn.
  • M. Lennan (1866) với "Nghiên cứu lịch sử cổ đại - hôn nhân nguyên thủy" nhấn mạnh quy tắc ngoại hôn tộc người.
  • L. Morgan (1882) với "Xã hội cổ đại" phân loại các hình thái gia đình (gia đình huyết tộc, punalua, đối ngẫu, phụ quyền, một vợ một chồng) và các hình thái hôn nhân tương ứng.
  • Ph. Ăngghen (1884) với "Nguồn gốc của gia đình, của chế độ tư hữu và Nhà nước" luận giải sự phát triển của các thiết chế hôn nhân qua ba thời đại: mông muội (quần hôn), dã man (hôn nhân cặp đôi), văn minh (một vợ một chồng).
  • Grant Evans với "Bức khảm văn hóa châu Á" nhấn mạnh hình thái và chức năng gia đình được quy định bởi tiêu chí, giá trị văn hóa xã hội chứ không thuần túy là yếu tố sinh học, đồng thời phân tích xu thế của mô hình gia đình hạt nhân.

Tài liệu của các tác giả nước ngoài về người Dao:

  • Các học giả người Pháp cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX: Auguste Bonifacy với các khảo cứu từ năm 1901 đến 1908 về người Mán Quần Cộc, Mán Quần Trắng, Mán Cao Lan, phân loại các ngành Dao theo hai nhóm ngôn ngữ "Mun" và "Miên", ghi chép về cơ cấu gia đình và tục nhận con nuôi; H. Le Breton (1924) viết về người Dao vùng Quan Hóa (Thanh Hóa); Maurice Abadie (1924) với công trình "Les Races Haut-Tonkin de Phong-Tho and Lang-Son" mô tả hôn nhân của người Dao Quần Trắng và Dao Họ; Jacques Lemoine với các nghiên cứu về di sản văn hóa Dao và cuốn "The Yao ceremonial paintings" (1985) chỉ ra ảnh hưởng của Đạo giáo đối với đời sống tín ngưỡng của tộc người Dao.
  • Học giả Liên Xô: A.I. Mukhlinov (1971) với công trình "Chủng tộc, Dân tộc, Văn hóa" bằng tiếng Nga ghi nhận một số tập quán của người Dao Đỏ, Dao Thanh Y và Dao Quần Trắng ở Việt Nam.
  • Học giả Trung Quốc: Trương Hữu Tuấn (1998) phân tích các luồng di cư của người Dao từ Trung Quốc sang Việt Nam; Ngọc Thời Giai (2008) phục dựng tiến trình di cư của người Dao xuống biên giới Tây Nam Trung Quốc và các nước Đông Nam Á thời Minh - Thanh.

Tài liệu của các tác giả trong nước:

  • Thư tịch cổ và địa chí thời phong kiến: Lê Quý Đôn trong "Kiến văn tiểu lục"; Quốc sử quán triều Nguyễn trong "Đại Nam nhất thống chí"; Hoàng Bình Chính (1778) trong "Hưng hóa xứ phong thổ lục"; Phạm Thận Duật (1856) trong "Hưng hóa ký lược" ghi chép sơ lược về địa bàn cư trú và tập quán người Mán Sừng Đỏ (Dao Đỏ), Mán Đạn Tiên (Dao Làn Tẻn).
  • Các công trình nghiên cứu hiện đại: Lã Văn Lô, Nguyễn Hữu Thấu, Mai Văn Tri, Ngọc Anh, Mạc Như Đường (1959); Bế Viết Đẳng, Nguyễn Khắc Tụng, Nông Trung, Nguyễn Nam Tiến (1971) với cuốn "Người Dao ở Việt Nam"; bộ sách "Các dân tộc thiểu số ở Việt Nam (Các tỉnh phía Bắc)" của Viện Dân tộc học; Ngô Văn Lệ, Nguyễn Văn Tiệp, Nguyễn Văn Diệu (1997); Nguyễn Quang Vinh (1999) nghiên cứu người Dao Quảng Ninh; Trần Hữu Sơn và nhóm tác giả (2001) với "Lễ cưới người Dao Tuyển"; Đỗ Đức Lợi cùng tập thể tác giả (2002) về tập tục chu kỳ đời người của nhóm ngôn ngữ Hmông - Dao; Phạm Quang Hoan, Hùng Đình Quý (1999) nghiên cứu người Dao ở Hà Giang; Đào Thị Vinh (2001) khảo sát phong tục hôn nhân người Dao Đỏ và Dao Quần Chẹt tại Mường Lát, Ngọc Lạc (Thanh Hóa); Lý Hành Sơn (2003, 2013) nghiên cứu chuyên sâu về chu kỳ đời người và văn hóa người Dao Tiền; Nịnh Văn Độ (2003) nghiên cứu văn hóa truyền thống người Dao ở Tuyên Quang; Lý Dương Liễu (2004) nghiên cứu người Dao ở Lạng Sơn; Nguyễn Khắc Tụng, Nguyễn Anh Cường (2004) khảo sát trang phục người Dao; Đỗ Quang Trụ, Nguyễn Liễn (2005); Nhà xuất bản Thông Tấn (2008) phân tích lễ cưới truyền thống người Dao Đỏ; Vương Xuân Tình, Trần Hồng Hạnh (2012) nghiên cứu biến đổi văn hóa vùng Đông Bắc; Phan Thị Phượng (2013) nghiên cứu trang phục cưới Dao Đỏ Lào Cai; Bùi Chí Thanh (2014) và Nguyễn Ngọc Thanh (1998, 2000) nghiên cứu nghi lễ chu kỳ đời người nhóm Dao Quần Chẹt; Chu Quang Cường (2015) ghi nhận biến đổi hôn nhân người Dao Họ ở Lào Cai; Đặng Thị Hoa (2016) chủ biên công trình "Hôn nhân xuyên biên giới với phát triển xã hội"; Nguyễn Thị Song Hà (2021) chủ biên sách về biến đổi văn hóa các dân tộc thiểu số; Nguyễn Thị Thu Hà (2015) với luận án tiến sĩ về nghi lễ chu kỳ đời người của người Dao Thanh Y tại Quảng Ninh; Bàn Quỳnh Giao (2017) nghiên cứu dân ca nghi lễ đám cưới người Dao Tuyển.

Khoảng trống nghiên cứu được luận án giải quyết: Phần lớn các công trình đã công bố chỉ dừng lại ở việc miêu tả diện mạo văn hóa chung, hoặc tập trung vào các nhóm Dao khác (Dao Tiền, Dao Tuyển, Dao Thanh Y, Dao Quần Chẹt) tại các địa bàn Lào Cai, Hà Giang, Tuyên Quang, Quảng Ninh, Thanh Hóa, Hòa Bình. Cho đến thời điểm tác giả triển khai đề tài, chưa có công trình độc lập nào nghiên cứu chuyên sâu, toàn diện và có hệ thống về thực trạng hôn nhân của người Dao Đỏ ở tỉnh Cao Bằng dưới góc độ Nhân học, đặt trong mối tương quan so sánh giữa truyền thống và hiện đại, cũng như phân tích các chiều cạnh quan hệ hôn nhân xuyên biên giới Việt Nam - Trung Quốc.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Luận án dựa trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử. Tác giả không nhìn nhận các phong tục, tập quán hôn nhân như những thành tố bất biến hay tồn tại biệt lập, mà xem xét chúng trong sự vận động, khả biến gắn với bối cảnh lịch sử, tự nhiên và xã hội cụ thể; đồng thời quán triệt các quan điểm, chính sách của Đảng và Nhà nước, tư tưởng Hồ Chí Minh về đại đoàn kết dân tộc, Luật Hôn nhân và Gia đình, chính sách dân tộc và xây dựng nông thôn mới.

Về phương pháp nghiên cứu cụ thể, luận án sử dụng phương pháp liên ngành khoa học xã hội (Nhân học, Sử học, Xã hội học, Văn hóa học) kết hợp với các kỹ thuật chuyên ngành:

  • Phương pháp tổng hợp và phân tích tài liệu thứ cấp: Khai thác văn kiện, nghị quyết, báo cáo định kỳ về kinh tế - xã hội của tỉnh Cao Bằng, huyện Hà Quảng, huyện Nguyên Bình, số liệu tổng điều tra dân số và nhà ở của Tổng cục Thống kê, cùng các công trình khoa học đã xuất bản liên quan đến dân tộc Dao.
  • Phương pháp điền dã dân tộc học (phương pháp chủ đạo):
    • Kỹ thuật quan sát và quan sát tham dự: Tiến hành ghi chép, chụp ảnh thực tế tại 03 đám cưới của người Dao Đỏ: đám cưới của Đặng Thị L và Đặng Văn S tại xóm Lũng Ỉn, xã Vũ Minh, huyện Nguyên Bình (năm 2021); đám cưới của Triệu Thị M và Triệu Văn K tại xóm Tềnh Quốc, xã Cần Nông, huyện Hà Quảng (năm 2021); đám cưới của Lý Thị P và Bàn Văn N tại xóm Lũng Chang, xã Vũ Minh, huyện Nguyên Bình (tháng 11/2022).
    • Kỹ thuật phỏng vấn sâu: Thực hiện 30 cuộc phỏng vấn sâu trực tiếp với thời lượng từ 40 phút đến 2 giờ đồng hồ mỗi cuộc (gồm 20 cuộc tại xã Cần Nông và Lương Thông thuộc huyện Hà Quảng, 10 cuộc tại xã Vũ Minh và Phan Thanh thuộc huyện Nguyên Bình) trong giai đoạn 2017 - 2022; giai đoạn 2020 - 2021 bổ sung phỏng vấn qua điện thoại do ảnh hưởng của dịch bệnh Covid-19. Nhóm người cung cấp tin gồm: thầy cúng, người cao tuổi am hiểu phong tục, các cặp vợ chồng trẻ, trưởng thôn, người có uy tín, cán bộ tư pháp xã và cán bộ Đồn Biên phòng Cần Yên.
    • Kỹ thuật thảo luận nhóm: Tổ chức gần 20 cuộc thảo luận nhóm (quy mô từ 3 đến 10 người/cuộc) với các nhóm đối tượng: nhóm nam, nhóm nữ, thanh niên, người già, thầy cúng, đại diện gia đình tổ chức lễ cưới và cán bộ thôn xóm.
    • Điều tra bằng bảng hỏi anket: Thiết kế bộ câu hỏi khảo sát cấu trúc, phát và thu về 300 phiếu hợp lệ tại các hộ gia đình người Dao Đỏ (150 phiếu tại huyện Hà Quảng và 150 phiếu tại huyện Nguyên Bình).
    • Kỹ thuật quay phim, chụp ảnh tư liệu thực địa.
  • Phương pháp chuyên gia: Phỏng vấn, trao đổi học thuật với các nhà nghiên cứu chuyên sâu về Dân tộc học/Nhân học, Văn hóa học, các chuyên gia là người Dao và cán bộ văn hóa am hiểu thực tế địa phương.
  • Phương pháp so sánh: Vận dụng so sánh lịch đại (đối chiếu hôn nhân trước Đổi mới và hiện nay) và so sánh đồng đại (giữa người Dao Đỏ với nhóm Dao Tiền cùng cư trú trên địa bàn).

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu, cơ sở lý thuyết, khái quát về địa bàn và tộc người nghiên cứu

Chương này dành cho việc tổng quan tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước, xác lập các khái niệm công cụ, lý thuyết tiếp cận, đồng thời khái quát bối cảnh địa bàn và tộc người nghiên cứu.

Tỉnh Cao Bằng có diện tích tự nhiên 6.703,42 km2, địa hình cao nguyên đá vôi xen kẽ núi đất, độ cao trung bình trên 200 m (vùng sát biên giới cao từ 600 m đến 1.300 m). Diện tích đất lâm nghiệp chiếm 533.384,7 ha (79,56%), tỷ lệ che phủ rừng trên 90%. Về dân số, theo số liệu Tổng cục Thống kê ngày 01/4/2019, dân số toàn tỉnh là 530.341 người với 28 dân tộc; dân tộc Dao có 54.908 người (văn bản ghi chiếm 1,49% dân số toàn tỉnh; các tộc người khác gồm Tày 40,83%, Nùng 29,81%, Hmông 11,65%, Kinh 5,12%, Lô Lô 0,54%).

Về lịch sử tộc người, người Dao Đỏ ở Cao Bằng có nguồn gốc thiên di từ vùng Quảng Đông, Quảng Tây (Trung Quốc) sang Việt Nam vào khoảng thời Minh (thế kỷ XIV - XVIII) theo cả đường bộ và đường biển (sách cúng cổ của người Dao ghi lại sự kiện 7 chiếc thuyền vượt biển). Người Dao tự gọi là "Kiềm Miền" hoặc "Yù Miền" (nghĩa là người ở rừng núi). Ngôn ngữ thuộc ngữ hệ Nam Á, nhóm ngôn ngữ Hmông - Dao. Tại Cao Bằng, người Dao gồm ba nhóm Dao Đỏ, Dao Tiền, Dao Tuyển; nhóm Dao Đỏ tập trung chủ yếu tại Nguyên Bình và Hà Quảng.

Huyện Nguyên Bình nằm ở phía Tây tỉnh Cao Bằng, diện tích tự nhiên 83,915 km2 (theo số liệu ghi trong văn bản luận án), đất nông nghiệp chiếm 7%, đất lâm nghiệp chiếm 76%. Dân số thời điểm 01/4/2019 là 10.654 nhân khẩu, gồm 09 dân tộc (Dao chiếm tỷ lệ cao nhất với 57,26%, Tày 23,96%, Nùng 7,91%, Hmông 7,62%). Xã Vũ Minh được thành lập theo Nghị quyết số 864/NQ-UBTVQH14 ngày 10/1/2020 trên cơ sở sáp nhập xã Thái Học (22,29 km2, 1.762 người), xã Minh Thanh (23,23 km2, 1.428 người) và một phần xã Bắc Hợp (7,20 km2, 405 người). Sau sắp xếp, xã Vũ Minh có diện tích 52,72 km2, dân số đến ngày 31/12/2021 là 3.789 người gồm 5 dân tộc, trong đó người Dao có 2.713 người (chiếm 71,6%) và 100% là người Dao Đỏ.

Huyện Hà Quảng nằm ở phía Bắc tỉnh Cao Bằng, diện tích tự nhiên sau khi sáp nhập huyện Thông Nông (tháng 1/2020) là 810,96 km2, có 8 xã biên giới với 74,871 km đường biên tiếp giáp huyện Nà Po và huyện Tịnh Tây (Quảng Tây, Trung Quốc). Dân số đến 31/12/2021 là 59.467 người gồm 5 dân tộc (Nùng, Tày, Hmông, Dao, Kinh). Tại xã Cần Nông, diện tích tự nhiên 2.673,21 ha, có 12 xóm với 3 dân tộc (Nùng, Hmông, Dao), tỷ lệ hộ nghèo năm 2021 chiếm tới 73,2% (230/310 hộ). Tại xã Lương Thông, người Dao Đỏ chiếm tỷ lệ đông nhất toàn xã với 57,66% dân số (tập trung ở các xóm Nà Tềnh, Ngườm Quốc, Phiêng Pán, Khau Dựa).

Chương 2: Một số quan niệm, nguyên tắc và hình thức hôn nhân của người Dao Đỏ

Chương 2 tập trung phân tích quan niệm, quy tắc xã hội và thực trạng pháp lý trong hôn nhân của người Dao Đỏ. Tác giả phân tích nhận thức về mục đích hôn nhân truyền thống là nhằm duy trì nòi giống, bổ sung lực lượng lao động và củng cố liên minh dòng họ. Tuổi kết hôn có sự biến đổi rõ rệt giữa các thế hệ:

Nhóm dữ liệu / Bảng thống kê Tên gọi và nội dung phản ánh trong luận án
Bảng 1 Tuổi kết hôn của người Dao chia theo giới tính
Bảng 2 Tỷ lệ tảo hôn dân tộc Dao so với một số tộc người cộng cư (2015; 2019)
Bảng 3 Tình trạng tảo hôn của người Dao Đỏ ở các điểm nghiên cứu
Bảng 4 Tình trạng hôn nhân cận huyết của người Dao Đỏ
Bảng 5 Nơi cư trú sau kết hôn của người Dao Đỏ hiện nay
Bảng 6 Số lượng người Dao Đỏ kết hôn với các tộc người khác tại hai huyện Nguyên Bình, Hà Quảng năm 2018 - 2020
Bảng 7 Số liệu người Dao Đỏ kết hôn với người đồng tộc bên kia biên giới (Trung Quốc) tại các xã được chọn nghiên cứu thuộc tỉnh Cao Bằng
Biểu đồ 1 Số lượng và tỷ lệ kết hôn năm 2015 theo tình trạng tảo hôn

Về nguyên tắc hôn nhân, người Dao Đỏ duy trì nghiêm ngặt luật ngoại hôn dòng họ (những người cùng mang một họ tuyệt đối không được kết hôn với nhau, dù ở khác làng bản hay khác thế hệ). Tình trạng kết hôn cận huyết thống hiện nay đã được xóa bỏ hoặc chỉ còn tỷ lệ rất nhỏ ở các xóm vùng sâu. Hiện tượng tảo hôn tuy đã giảm đáng kể so với trước năm 2015 nhưng vẫn tồn tại do ảnh hưởng của tập quán muốn có thêm lao động gia đình và tư tưởng kết hôn sớm để ổn định cuộc sống.

Về cư trú sau hôn nhân, hình thức cư trú bên chồng (phụ cư) chiếm vị trí tuyệt đối trong đời sống của người Dao Đỏ. Tục ở rể chỉ diễn ra trong những hoàn cảnh đặc biệt (gia đình nhà gái không có con trai nối dõi hoặc nhà trai quá nghèo không đủ sính lễ cưới). Việc đăng ký kết hôn tại chính quyền xã đã có nhiều chuyển biến tích cực nhờ sự tuyên truyền của cán bộ tư pháp và bộ đội biên phòng, tuy nhiên vẫn còn một bộ phận cặp vợ chồng trẻ tổ chức đám cưới theo phong tục trước rồi mới thực hiện thủ tục pháp lý sau khi sinh con.

Về các trường hợp hôn nhân khác, luận án ghi nhận sự xuất hiện ngày càng nhiều các cuộc hôn nhân dị tộc (kết hôn với người Tày, Nùng, Kinh, Hmông) phản ánh quá trình giao lưu văn hóa tại các xã vùng thấp như Vũ Minh (Nguyên Bình). Đặc biệt, hiện tượng hôn nhân xuyên biên giới giữa người Dao Đỏ ở Cao Bằng với người đồng tộc hoặc người dân bên kia biên giới Trung Quốc diễn ra tại các xã giáp biên của huyện Hà Quảng thông qua các mối quan hệ thân tộc lịch sử, chợ phiên vùng biên và quan hệ buôn bán, tạo ra những vấn đề phức tạp trong việc quản lý hộ tịch và quốc tịch.

Chương 3: Phong tục, tập quán và nghi lễ hôn nhân

Chương này khảo tả chi tiết toàn bộ chu trình thực hành hôn lễ của người Dao Đỏ, từ giai đoạn tìm hiểu đến các nghi lễ trước, trong và sau ngày cưới.

Nhóm dữ liệu / Bảng thống kê Tên gọi và nội dung phản ánh trong luận án
Bảng 8 Thời gian tìm hiểu của các cặp vợ chồng trước khi kết hôn
Bảng 9 Hoàn cảnh của đôi nam nữ trước hôn nhân
Biểu đồ 2 Sự lựa chọn đối tượng lý tưởng trong hôn nhân

Tập quán tìm hiểu bạn đời của thanh niên nam nữ Dao Đỏ diễn ra tự do trong các dịp lễ hội, hội xuân, chợ phiên hoặc khi đi làm nương, khác hẳn với sự sắp đặt tuyệt đối của cha mẹ thời kỳ trước. Tiêu chí chọn vợ thường đề cao sự chăm chỉ, chịu thương chịu khó, thạo nghề thêu thùa, may vá trang phục truyền thống; tiêu chí chọn chồng chú trọng sức khỏe, đức tính cần cù và khả năng gánh vác kinh tế gia đình.

Quy trình nghi lễ hôn nhân truyền thống của người Dao Đỏ diễn ra chặt chẽ qua các bước:

  1. Nghi lễ trước đám cưới:
    • Nghi lễ xin lá số tử vi (mình cho nìn keng): Nhà trai nhờ thầy cúng xem tuổi, đối chiếu can chi mệnh số của đôi nam nữ xem có hợp nhau không.
    • Nghi lễ thỏa thuận giữa hai gia đình nhà trai, nhà gái (mình kong xìn chà cao): Hai bên gia đình bàn bạc, thống nhất các lễ vật thách cưới, thời gian tổ chức.
    • Nghi lễ ăn hỏi và trao vật làm tin (mình quý-ế lẩy): Nhà trai mang lễ vật chính thức sang nhà gái và trao các vật phẩm đính ước.
    • Nghi lễ chọn và báo ngày cưới: Thầy cúng chọn giờ lành, ngày tốt, tháng tốt để tổ chức lễ cưới.
  2. Nghi lễ trong đám cưới:
    • Nghi thức cúng tổ tiên để báo cáo về việc tiếp nhận dâu mới hoặc tiễn con gái đi lấy chồng.
    • Đám cưới của người Dao Đỏ có đặc điểm riêng biệt là không tổ chức tiệc cưới lớn tại nhà gái. Nhà gái chỉ làm lễ tiễn cô dâu; toàn bộ nghi lễ chính và tiệc cưới trang trọng đều diễn ra tại nhà trai.
    • Tiệc cưới tại nhà trai kéo dài qua 4 bữa ăn truyền thống. Khi tan tiệc, nhà trai thực hiện phong tục biếu mỗi người khách trong đoàn nhà gái 01 chai rượu và 01 miếng thịt lợn mang về. Bố mẹ đẻ, ông bà, anh chị em ruột của cô dâu, cùng quan lang, thầy cúng và người thổi kèn được chia một phần thịt riêng theo quy định cổ truyền.
  3. Nghi lễ sau đám cưới:
    • Lễ lại mặt (duốn tả kèng tiu): Sau ngày cưới, đôi vợ chồng trẻ mang lễ vật về thăm lại cha mẹ đẻ của cô dâu.
    • Lễ quy tụ hôn nhân: Thực hiện các nghi thức gắn kết bền chặt đôi vợ chồng với tổ tiên và dòng tộc.
    • Các nghi lễ trong trường hợp đặc biệt: Quy định nghi thức đối với hôn nhân ở rể, tái giá hoặc cưới chạy tang.

Chương 4: Những yếu tố tác động đến biến đổi hôn nhân, xu hướng biến đổi, giá trị và một số vấn đề đặt ra

Chương 4 đúc kết các nhân tố tác động, nhận diện hệ giá trị văn hóa, dự báo xu hướng và đề xuất giải pháp chính sách.

Các yếu tố tác động đến sự biến đổi hôn nhân gồm:

  • Tác động từ đường lối Đổi mới kinh tế và hệ thống chính sách dân tộc của Đảng và Nhà nước, các chương trình hỗ trợ sản xuất (Chương trình 135, Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới).
  • Sự chuyển dịch kinh tế - xã hội địa phương, phát triển giao thông đường bộ kết nối các vùng sâu, sự hình thành các mô hình nông nghiệp hàng hóa (trồng thuốc lá, gừng trâu, lạc L14, dong riềng, chè).
  • Tác động trực tiếp của Luật Hôn nhân và Gia đình cùng phong trào Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa mới ở khu dân cư.
  • Quá trình hội nhập, giao lưu và tiếp biến văn hóa với các tộc người cộng cư (Tày, Nùng, Kinh).
  • Ảnh hưởng của hệ thống thông tin liên lạc, mạng xã hội, internet và công tác tuyên truyền của chính quyền cơ sở, lực lượng Bộ đội Biên phòng.
  • Sự chuyển biến trong nhận thức của các tầng lớp người Dao Đỏ, đặc biệt là thế hệ trẻ.

Các giá trị văn hóa tiêu biểu trong hôn nhân người Dao Đỏ:

  • Giá trị bảo tồn và phát huy các yếu tố văn hóa tộc người (thể hiện qua trang phục cưới truyền thống thêu tay cầu kỳ, dân ca đám cưới, nhạc cụ kèn pí lè).
  • Giá trị giáo dục đạo đức, chữ hiếu và tính nhân văn trong quan hệ vợ chồng, gia đình.
  • Giá trị bảo lưu các yếu tố tín ngưỡng, tôn giáo đặc trưng (ảnh hưởng của Đạo giáo và tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên, Bàn Cổ).
  • Giá trị củng cố và duy trì khối đoàn kết, tính cố kết cộng đồng và dòng họ.

Các xu hướng biến đổi chính:

  • Xu hướng giản tiện trong thực hành các nghi lễ cưới xin (giảm bớt thời gian tổ chức, rút gọn các bước lễ rườm rà, giảm mức thách cưới bằng bạc trắng và thịt lợn).
  • Xu hướng tiếp nhận các yếu tố văn hóa hôn nhân của các tộc người khác (mặc âu phục hiện đại, tổ chức tiệc cưới tại nhà văn hóa hoặc dùng loa đài hiện đại).
  • Xu hướng gia tăng tỷ lệ kết hôn khác tộc người và kết hôn ngoài phạm vi địa phương.
  • Xu hướng tiếp diễn các mối quan hệ hôn nhân xuyên biên giới Việt Nam - Trung Quốc tại các xã vành đai biên giới.
  • Xu hướng phục hồi có chọn lọc các giá trị văn hóa tiêu biểu truyền thống nhằm phục vụ phát triển du lịch văn hóa và bảo tồn bản sắc.

Vấn đề đặt ra và nhóm giải pháp kiến nghị: Luận án chỉ ra các vấn đề cấp thiết như nạn tảo hôn chưa được chấm dứt triệt để tại vùng sâu; tình trạng một số cặp đôi không đăng ký kết hôn theo pháp luật; những vướng mắc pháp lý trong hôn nhân xuyên biên giới không hôn thú. Tác giả kiến nghị chính quyền địa phương cần đẩy mạnh tuyên truyền pháp luật bằng tiếng mẹ đẻ, lồng ghép hương ước, quy ước thôn bản, tăng cường vai trò của người có uy tín và thầy cúng, đồng thời hỗ trợ phát triển sinh kế kinh tế để nâng cao đời sống vật chất cho đồng bào Dao Đỏ.

Kết quả và những đóng góp mới

Về mặt lý luận và khoa học:

  • Luận án là công trình khoa học chuyên ngành Nhân học đầu tiên nghiên cứu một cách toàn diện, hệ thống và chuyên sâu về thực trạng hôn nhân của người Dao Đỏ tại tỉnh Cao Bằng - một địa bàn biên giới trọng yếu vùng Đông Bắc.
  • Cung cấp nguồn tư liệu dân tộc học/nhân học mới, xác thực và phong phú về phong tục, tập quán, các bước thực hành nghi lễ hôn nhân cổ truyền và thực trạng biến đổi của nhóm Dao Đỏ dưới tác động của công cuộc đổi mới và hội nhập.
  • Làm sáng tỏ các giá trị văn hóa đặc trưng cũng như những hủ tục lạc hậu cần thay đổi trong hôn nhân của người Dao Đỏ, đóng góp cơ sở lý luận cho chuyên ngành Dân tộc học/Nhân học, Xã hội học gia đình và Văn hóa học.

Về mặt thực tiễn và chính sách:

  • Cung cấp các cứ liệu thực tế phục vụ trực tiếp cho các nhà hoạch định chính sách dân tộc, chính quyền tỉnh Cao Bằng và hai huyện Hà Quảng, Nguyên Bình trong việc triển khai thực thi Luật Hôn nhân và Gia đình, Đề án giảm thiểu tình trạng tảo hôn và hôn nhân cận huyết thống trong vùng đồng bào dân tộc thiểu số.
  • Đề xuất các giải pháp khả thi nhằm bảo tồn, phát huy bản sắc văn hóa tộc người Dao gắn liền với phong trào xây dựng đời sống văn hóa mới ở khu dân cư và chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới.
  • Là nguồn tài liệu tham khảo cho lực lượng Bộ đội Biên phòng và cơ quan tư pháp trong công tác quản lý dân cư và xử lý các vấn đề hôn nhân xuyên biên giới tại vùng giáp biên Việt Nam - Trung Quốc.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Về mặt giới hạn, do điều kiện dịch bệnh Covid-19 trong các năm 2020 - 2021, một số đợt khảo sát thực địa của nghiên cứu sinh phải chuyển đổi sang hình thức phỏng vấn sâu qua điện thoại. Phạm vi nghiên cứu của luận án chỉ tập trung vào nhóm Dao Đỏ tại hai huyện Hà Quảng và Nguyên Bình trong giai đoạn 2015 - 2022, do đó chưa bao quát hết thực trạng hôn nhân của toàn bộ ba nhóm Dao (Dao Đỏ, Dao Tiền, Dao Tuyển) trên tất cả các huyện khác của tỉnh Cao Bằng như Bảo Lâm, Bảo Lạc, Thạch An, Hòa An.

Hướng nghiên cứu tiếp theo cần mở rộng khảo sát so sánh chuyên sâu giữa tập quán hôn nhân của người Dao Đỏ với người Dao Tiền và Dao Tuyển trên toàn địa bàn tỉnh Cao Bằng; đồng thời đi sâu nghiên cứu định lượng về tác động kinh tế - xã hội dài hạn của các cuộc hôn nhân xuyên biên giới Việt - Trung đối với cơ cấu dân số và an ninh trật tự khu vực biên giới Đông Bắc.

Giá trị tham khảo

Luận án là tài liệu tham khảo cho nhiều nhóm đối tượng:

  • Giảng viên, học viên cao học và nghiên cứu sinh thuộc các chuyên ngành Dân tộc học/Nhân học, Văn hóa học, Xã hội học, Văn hóa gia đình và Chính sách công sử dụng làm tài liệu giảng dạy, học tập và nghiên cứu thực địa.
  • Cán bộ làm công tác dân tộc, cán bộ phụ trách tư pháp - hộ tịch, cán bộ văn hóa - xã hội tại các cơ quan quản lý nhà nước từ cấp tỉnh đến cơ sở ở tỉnh Cao Bằng và các tỉnh miền núi phía Bắc.
  • Cán bộ, chiến sĩ lực lượng Bộ đội Biên phòng đang công tác tại các đồn biên phòng tuyến biên giới Việt Nam - Trung Quốc tham khảo để nắm vững phong tục tập quán đồng bào, phục vụ công tác dân vận và quản lý hôn nhân xuyên biên giới.

Câu hỏi thường gặp

1. Người Dao Đỏ ở Cao Bằng có nguồn gốc lịch sử từ đâu và di cư sang Việt Nam vào thời gian nào?
Người Dao Đỏ ở hai huyện Nguyên Bình và Hà Quảng (tỉnh Cao Bằng) có nguồn gốc từ hai tỉnh Quảng Đông và Quảng Tây (Trung Quốc), di cư sang Việt Nam vào khoảng thời nhà Minh (thế kỷ XIV - XVIII) bằng cả đường bộ và đường thủy. Sách cúng cổ lưu giữ trong các gia đình người Dao Đỏ tại Cao Bằng ghi nhận chuyến vượt biển lịch sử gồm 7 chiếc thuyền di cư sang vùng Đông Bắc Việt Nam.

2. Tác giả luận án đã sử dụng quy mô mẫu khảo sát thực địa và các phương pháp thu thập dữ liệu cụ thể nào?
Nghiên cứu sinh đã triển khai phương pháp điền dã dân tộc học kết hợp điều tra định lượng xã hội học, bao gồm: trực tiếp quan sát tham dự 03 đám cưới cụ thể tại hai huyện; tiến hành 30 cuộc phỏng vấn sâu (20 cuộc tại Hà Quảng, 10 cuộc tại Nguyên Bình); tổ chức gần 20 cuộc thảo luận nhóm (quy mô từ 3 đến 10 người/cuộc); và phát - thu 300 phiếu anket khảo sát hộ gia đình (150 phiếu tại huyện Hà Quảng, 150 phiếu tại huyện Nguyên Bình).

3. Nghi thức đám cưới của người Dao Đỏ ở Cao Bằng có nét đặc thù nào khác biệt so với các dân tộc lân cận?
Đám cưới của người Dao Đỏ không tổ chức tiệc lớn bên nhà gái mà cô dâu được đoàn nhà gái đưa thẳng sang tổ chức chính thức tại nhà trai. Tiệc cưới tại nhà trai diễn ra qua 4 bữa ăn theo nghi thức cổ truyền. Khi tiệc tan, nhà trai có tục biếu mỗi người khách trong đoàn nhà gái 01 chai rượu và 01 miếng thịt lợn mang về; cha mẹ, người thân ruột thịt của cô dâu, quan lang, thầy cúng và người thổi kèn được chia phần thịt riêng.

4. Nghiên cứu ghi nhận những loại hình hôn nhân đặc biệt nào đang diễn ra tại địa bàn hai huyện khảo sát?
Luận án ghi nhận sự hiện diện của các hình thức: hôn nhân ở rể (khi nhà gái không có con trai hoặc nhà trai quá nghèo); hôn nhân dị tộc (người Dao Đỏ kết hôn với người Tày, Nùng, Kinh, Hmông); và hôn nhân xuyên biên giới (người Dao Đỏ kết hôn với người đồng tộc hoặc cư dân bên kia biên giới Trung Quốc tại các xã giáp biên của huyện Hà Quảng).

5. Bốn bước nghi lễ chính trước đám cưới của người Dao Đỏ có tên gọi tiếng Dao là gì?
Các nghi lễ trước đám cưới gồm: Lễ xin lá số tử vi (mình cho nìn keng); Lễ thỏa thuận giữa hai gia đình nhà trai và nhà gái (mình kong xìn chà cao); Lễ ăn hỏi và trao vật làm tin (mình quý-ế lẩy); và Lễ chọn và báo ngày cưới.

Kết luận

Luận án tiến sĩ "Thực trạng hôn nhân của người Dao Đỏ ở tỉnh Cao Bằng" của tác giả Ngô Thị Phương Thảo là công trình khoa học phản ánh bức tranh toàn diện về phong tục, tập quán và các nghi lễ hôn nhân của cộng đồng Dao Đỏ tại hai địa bàn Nguyên Bình và Hà Quảng. Công trình đã làm rõ hệ thống giá trị văn hóa tộc người đặc trưng được biểu hiện qua hôn nhân, đồng thời nhận diện sâu sắc các yếu tố tác động, xu hướng biến đổi và các vấn đề xã hội nảy sinh trong tiến trình đổi mới và hội nhập. Các kết quả nghiên cứu và hệ thống giải pháp được đề xuất trong luận án mang giá trị khoa học và thực tiễn cao, đóng góp cơ sở dữ liệu quan trọng cho công tác quản lý văn hóa, thực thi pháp luật và hoạch định chính sách dân tộc tại vùng biên giới Đông Bắc Việt Nam.