MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài luận án Đầu tư trực tiếp nước ngoài đã và đang đóng vai trò qua trọng trong sự phát triển kinh tế xã hội của nhiều quốc gia trên thế giới nhờ chuyển giao công nghệ, kỹ năng kinh nghiệm quản lý, cải thiện khả năng tiếp cận thị trường quốc tế, thúc đẩy cạnh tranh. Việt Nam đã thành công thu hút vốn ĐTTTNN đưa dòng vốn này trở thành dòng vốn quan trọng trong phát triển kinh tế xã hội đất nước, đẩy nhanh quá trình công nghiệp hóa, hiện đại họá, bên cạnh đó vốn ĐTTTNN cũng có những tác động tiêu cực khiến các cơ quan chức năng phải nhìn nhận lại hướng tiếp cận ĐTTTNN từ số lượng sang chất lượng. Sau những ảnh hưởng của đại dịch COVID-19, Việt Nam đang tham gia và thực thi nhiều hiệp định thương mại tự do thế hệ mới, làn sóng đầu tư mới đã xuất hiện, sự dịch chuyển trong chuỗi giá trị toàn cầu, chuỗi giá trị gia tăng giá trị, xây dựng chuỗi liên kết trong nước, đổi mới sáng tạo, cùng sự ảnh hưởng của cách mạng công nghiệp 4.0 đang diễn ra mạnh mẽ, đã khiến cạnh tranh thu hút vốn ĐTTTNN trong khu vực và trên thế giới ngày càng khốc liệt.
Việt Nam được đánh giá sẽ là một điểm đến hấp dẫn thu hút các NĐTNN, hứa hẹn thu hút nhiều dự án ĐTTTNN trong thời gian tới. Đây là cơ hội cho Việt Nam nói chung và các tỉnh thành trong nước nói riêng chớp lấy thời cơ, đón đầu sự dịch chuyển dòng vốn ĐTTTNN. Nghệ An là một tỉnh nằm ở khu vực Bắc Trung Bộ, có nhiều lợi thế lợi thế về điều kiện tự nhiên, vị trí địa lý thuận lợi, là đầu mối giao thông quan trọng thúc đẩy giao thương trong khu vực và quốc tế, cơ sở hạ tầng tương đối hoàn chỉnh, nguồn nhân lực dồi dào. Vì vậy, Nghệ An được coi là tỉnh có nhiều tiềm năng trong thu hút vốn ĐTTNN.
Tỉnh cũng xác định thu hút vốn ĐTTTNN là một trong những nhiệm vụ chiến lược phát triển KT-XH địa phương, là một trong những giải pháp then chốt đưa tỉnh trở thành trung tâm kinh tế, chính trị, xã hội của khu vực Bắc Trung Bộ. Sau 30 năm thu hút, vốn ĐTTTNN đã mang lại những đóng góp nhất định cho phát triển KT-XH địa phương như góp phần chuyển dịch CCKT, tạo việc làm, tiếp cận công nghệ tiên tiến, tăng thu NSNN. Tuy nhiên, kết quả thu hút vốn ĐTTTNN của tỉnh chưa đạt được nhiều kết quả như kỳ vọng và đóng góp của dòng vốn này đối với phát triển KT-XH địa phương chưa thực sự rõ nét. Cụ thể: Nghệ An đang là vùng trũng thu hút vốn ĐTTTNN của khu vực Bắc Trung Bộ (so với Hà 2 Tĩnh và Thanh Hóa), các dự án ĐTTTNN có quy mô nhỏ, vốn thực hiện thấp, chưa sử dụng công nghệ hiện đại và chủ yếu các dự án tập trung vào những ngành thâm dụng lao động, chưa có dự án nào tạo động lực phát triển kinh tế-xã hội mạnh mẽ.
Đóng góp của khu vực có vốn ĐTTTNN cho GRDP của địa phương còn nhỏ (tỷ lệ đóng góp dưới 3%), tốc độ tăng trưởng khu vực có vốn ĐTTTNN bình quân 10%/năm; chỉ đóng góp 2% thu NSNN hàng năm; tuy có góp phần chuyển dịch CCKT đối với ngành công nghiệp nhưng sự đóng góp còn chưa mạnh mẽ…Điều này thể hiện những biện pháp thu hút vốn ĐTTTNN của tỉnh chưa thực sự phát huy tác dụng, không thật sự hiệu quả và cần phải thay đổi. Để nắm bắt nhanh cơ hội thu hút vốn ĐTTTNN hiện nay của Việt Nam, thu hút nhiều hơn nữa dòng vốn ĐTTTNN, khai thác tối đa các lợi ích của dòng vốn này cho phát triển KT-XH địa phương trong thời gian tới tỉnh Nghệ An cần phải có những giải pháp thay đổi mang tính quyết định. Vì vậy, NCS lựa chọn đề tài “Thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài để phát triển kinh tế, xã hội tỉnh Nghệ An” để nghiên cứu. Trong bối cảnh hiện nay đề tài này có tính thực tiễn, phù hợp với định hướng phát triển kinh tế xã hội địa phương, định hướng thu hút vốn ĐTTTNN thế hệ mới cả nước nói chung và tỉnh Nghệ An nói riêng.
Tổng quan tình hình nghiên cứu có liên quan đến đề tài luận án 2. Tổng quan tình hình các nghiên cứu quốc tế có liên quan đến đề tài luận án 2. Các nghiên cứu về tác động của đầu tư trực tiếp nước ngoài đến phát triển kinh tế xã hội Các công trình nghiên cứu ở nước ngoài về vốn ĐTTTNN và các tác động của vốn ĐTTTNN đến kinh tế xã hội được thực hiện bởi nhiều tác giả, với đa dạng đối tượng nghiên cứu, dữ liệu nghiên cứu và phương pháp thực hiện nghiên cứu. Chủ yếu đối tượng nghiên cứu của các tác giả nước ngoài chủ yếu ở cấp độ quốc gia, khu vực gồm nhiều quốc gia.
Kết quả của các nghiên cứu thực nghiệm là chưa thống nhất. Có những nghiên cứu cho thấy vốn ĐTTTNN tác động tích cực đến tăng trưởng kinh tế, năng suất nhân tố tổng hợp, độ mở thương mại… nhưng cũng có những nghiên cứu không cho thấy mối quan hệ tác động của vốn ĐTTTNN lên nước tiếp nhận và thậm chí có những nghiên cứu đã chỉ ra những tác động tiêu cực của vốn ĐTTTNN đến các doanh nghiệp trong nước, đến tăng trưởng kinh tế… Nhiều nghiên cứu đã cho thấy tác động tích cực của vốn ĐTTTNN đến tăng trưởng kinh tế. Trong các nghiên cứu Caves (1974), Globerman (1979), Blomstrom và Persson (1983), các nghiên cứu này đã ước tính sự tồn tại của tác động lan tỏa 3 của dòng vốn ĐTTTNN bằng cách kiểm tra liệu vốn ĐTTTNN có tác động đến năng suất lao động địa phương ở các công ty Australia, Canada và Mexico. Kết quả nghiên cứu đã kết luận có sự tồn tại của tác động lan tỏa thông qua việc vốn ĐTTTNN có tác động đến năng suất lao động địa phương ở các công ty của ba nước trên và qua đó cho thấy vốn ĐTTTNN đã tác động tích cực đến tăng trưởng kinh tế.
Frank và Mei-Chu (2007), bằng cách sử dụng dữ liệu 8 quốc gia (Trung Quốc, Hàn quốc, Đài loan, Hong Kong, Singapore, Malaysia, Philippines và Thái lan) giai đoạn 1986-2004 với dữ liệu bảng và hồi quy FE, RE phát hiện ĐTTTNN có tác động một chiều trực tiếp lên GDP và gián tiếp lên GDP thông qua xuất khẩu và tồn tại quan hệ nhân quả hai chiều giữa xuất khẩu và GDP. Mahnaz Rabiei, Zohreh Ghavam Masoudi (2012), trong nghiên cứu về ĐTTTNN và tăng trưởng kinh tế ở tám nước bao gồm: Bangladesh, Ai Cập, Indonesia, Iran, Malaysia, Nigergia, Pakistan và Thổ Nhĩ Kỳ trong giai đoạn 1980- 2009 cho thấy ĐTTTNN tác động cùng chiều đến tăng trưởng kinh tế. Nghiên cứu của Mohd Shahidan Bin Shaari, Thien Ho Hong & Siti Norwahida Shukeri (2012), sử dụng mô hình VAR kiểm tra hiệu quả của vốn ĐTTTNN trên GDP hàng năm ở Malaysia trong giai đoạn 1972 - 2010. Kết quả cho thấy sự gia tăng của vốn ĐTTTNN có tác động tốt đến tăng trưởng kinh tế ở Malaysia.
Cụ thể, 1% tăng trưởng vốn ĐTTTNN tạo ra mức tăng 49,1% GDP của Malaysia. Từ đó cho thấy GDP có quan hệ nhân quả đối với vốn ĐTTTNN và ngược lại. Các nghiên cứu khác tìm thấy mối quan hệ tiêu cực giữa vốn ĐTTTNN và tăng trưởng kinh tế đối với nước nhận đầu tư như Aitken và Harrison (1999), Barry và cộng sự (2001), Damijan và cộng sự (2001), Djankov và Hoekman (1998) và Konings (2001). Một số nghiên cứu cho thấy rõ hơn tác động của vốn ĐTTTNN đến kinh tế các nước phụ thuộc vào mức độ phát triển, khả năng hấp thụ, khoảng cách công nghệ, chính sách đầu tư… của các nước tiếp nhận.
Bende-Nabende et al. (2003) tìm thấy vốn ĐTTTNN có tác động dương tích cực đối với các nước kém phát triển ở châu Á như Philippines và Thái Lan, nhưng lại tác động tiêu cực ở các quốc gia hay vùng lãnh thổ phát triển hơn về kinh tế như Nhật Bản và Đài Loan. Các phân tích cho thấy tác động của vốn ĐTTTNN lên tăng trưởng kinh tế cần có những điều kiện nhất định của nước nhận đầu tư như: chính sách thương mại (Balasubramanyam và 4 cộng sự., 1996; Zhang, 2001); chính sách nguồn nhân lực (Keller,1996; Borensztein và cộng sự., 1998; Olofsdotter, 1998; Xu, 2000; Bengoa và Sanchez- Robles, 2003 và Bhattacharya và cộng sự., 2004) và khoảng cách công nghệ (Sjoholm, 1999; Glass và Saggi, 1998). Blomstrom và cộng sự (1992) nghiên cứu 78 nước đang phát triển, phát hiện ĐTTTNN có thể mang lại lợi ích cho các nước đang phát triển có thu nhập cao hơn là nước đang phát triển có thu nhập thấp.
Borensztein và cộng sự (1998) kiểm tra khả năng hấp thụ của nước nhận công nghệ, được đo lường bằng tổng lượng nhân lực cần thiết cho tiến bộ công nghệ; nó diễn ra thông qua chuyển giao vốn tri thức được kết hợp với tư liệu sản xuất mới đưa vào nền kinh tế của vốn ĐTTTNN. Nghiên cứu đã chứng minh rằng hiệu ứng tăng trưởng của vốn ĐTTTNN đòi hỏi cơ sở hạ tầng đầy đủ như một điều kiện tiên quyết. Do đó, nước chủ nhà cần có một ngưỡng nhất định của sự phát triển để hấp thụ những lợi ích từ vốn ĐTTTNN. Batten và Vinh Võ (2009) sử dụng dữ liệu của 79 quốc gia giai đoạn 1980-2003, với phương pháp ước lượng FE và GMM.
Kết quả cho thấy vốn ĐTTTNN có tác động tích cực mạnh mẽ lên tăng trưởng kinh tế đối với các nước có trình độ học vấn cao, có mở cửa đối với thương mại quốc tế và phát triển thị trường chứng khoán, mức tăng trưởng dân số thấp hơn và mức độ rủi ro thấp hơn. Hai tác giả cũng đề xuất rằng các nước nên thực hiện chính sách để đảm bảo các mục tiêu vĩ mô chính sách xã hội như giáo dục và cải cách thể chế để tận dụng lợi ích từ vốn ĐTTTNN. Các nghiên cứu về nhân tố ảnh hưởng đến thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài Về các nhân tố ảnh hưởng đến thu hút vốn ĐTTTNN đã có nhiều nghiên cứu thực nghiệm đã được thực hiện. Tuy nhiên, các biến được xác định là yếu tố quyết định ĐTTTNN có sự khác nhau giữa các nghiên cứu và các quốc gia.
Vì vậy, rất khó để thống nhất các yếu tố ảnh hưởng đến thu hút vốn ĐTTTNN, đặc biệt là một số biến giải thích đã đạt được nhưng bị giảm tầm quan trọng theo thời gian. Các nghiên cứu đã cố gắng trả lời câu hỏi tại sao quốc gia/địa phương này lại thu hút nhiều vốn ĐTTTNN hơn các quốc gia/địa phương khác.