Chương 1: Các vấn đề lý thuyết về đầu tư trực tiếp nước ngoài. Chương 2: Thực trạng thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài vào tỉnh Bắc Giang. Chương 3: Giải pháp tăng cường thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài vào tỉnh Bắc Giang. CÁC VẤN ĐỀ LÝ THUYẾT VỀ THU HÚT ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI 1.
Khái niệm, đặc điểm, vai trò và hình thức đầu tư trực tiếp nước ngoài 1. Khái niệm đầu tư, đầu tư trực tiếp nước ngoài và thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài - Khái niệm về đầu tư Giáo trình Kinh tế đầu tư (2007, 7) đã đưa ra định nghĩa đầu tư như sau: “Đầu tư là sự hy sinh các nguồn lực (tiền, tài nguyên thiên nhiên, sức lao động và trí tuệ) ở hiện tại để tiến hành các hoạt động nào đó nhằm thu về các kết quả nhất định trong tương lai lớn hơn các nguồn lực đã bỏ ra để đạt được các kết quả đó. Như vậy, mục tiêu của mọi hoạt động đầu tư là đạt được các kết quả lớn hơn so với những hy sinh về nguồn lực mà người đầu tư phải gánh chịu khi tiến hành đầu tư”. Samuelson & Nordhaus (1985) nêu rõ: “Đầu tư là sự hy sinh tiêu dùng hiện tại nhằm tăng tiêu dùng trong tương lai.” Nghĩa là “Đầu tư phải gắn với việc tạo ra các tài sản mới cho nền kinh tế (mua hàng hóa, nguyên vật liệu,.
dự trữ trong kho, xây dựng các nhà máy mới hoặc mua sắm các công cụ sản xuất mới).” Trong phạm vi của Khóa luận tốt nghiệp thì khái niệm đầu tư được hiểu là “Đầu tư là việc sử dụng vốn vào một hoạt động nhất định được pháp luật cho phép nhằm thu lại lợi nhuận và/hoặc lợi ích kinh tế xã hội.” - Khái niệm về đầu tư trực tiếp nước ngoài Có rất nhiều quan niệm khác nhau của các tổ chức quốc tế khác nhau về khái niệm vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI), đó là: Qũy Tiền tệ Quốc tế (2015, 20) đầu tư trực tiếp nước ngoài (Foreign Direct Investment - FDI) được định nghĩa là: “Một hình thức đầu tư được thực hiện bởi nhà đầu tư ở nền kinh tế này vào nền kinh tế khác mang tính dài hạn nhằm thu về những lợi ích lâu dài cho nhà đầu tư.” Tổ chức Thương mại Thế giới (World Trade Oganization - WTO) (1996) đã đưa ra khái niệm: “FDI xảy ra khi một nhà đầu tư từ một nước (nước chủ đầu tư) có được một tài sản ở một nước khác (nước thu hút đầu tư) cùng với quyền quản lý tài sản đó. Phương diện quản lý là thứ để phân biệt FDI với các công cụ tài chính khác. Trong phần lớn trường hợp, cả nhà đầu tư lẫn tài sản mà người đó quản lý ở nước ngoài là các cơ sở kinh doanh. Trong những trường hợp đó, nhà đầu tư thường hay được gọi là “công ty mẹ” và các tài sản được gọi là “công ty con” hay “chi nhánh công ty.” Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (1999, 5) đưa ra khái niệm: “FDI phản ánh những lợi ích khách quan lâu dài mà một thực thể kinh tế tại một nước (nhà đầu tư) đạt 1 Thư viện ĐH Thăng Long được thông qua một cơ sở kinh tế tại một nền kinh tế khác với nền kinh tế thuộc đất nước của nhà đầu tư (doanh nghiệp đầu tư trực tiếp).
Đầu tư trực tiếp bao hàm sự giao dịch ngay từ đầu và tất cả những giao dịch vốn tiếp sau giữa hai thực thể được liên kết một cách chặt chẽ.” Như vậy, các khái niệm của các tổ chức quốc tế trên về cơ bản là tương đồng và thống nhất với nhau về mối quan hệ, lợi ích và vai trò của nhà đầu tư nước ngoài. Do đó, trong phạm vi của Khóa luận tốt nghiệp khái niệm đầu tư trực tiếp nước sẽ kế thừa, tổng hợp những khái niệm đã nêu trên và được hiểu:“Đầu tư trực tiếp nước ngoài là hình thức đầu tư có vốn 100% hình thành từ vốn nước ngoài và không bao gồm vốn góp của nước sở tại.” - Khái niệm về thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài Thu hút vốn FDI là một trong những vấn đề quan trọng của mỗi quốc gia bởi vai trò to lớn của nó đối với sự phát triển kinh tế đất nước. Có nhiều lý thuyết để giải thích cho việc thu hút vốn FDI, đó là: Nguyễn Thị Vân (2014, 13) nêu rõ “Thu hút FDI là các hoạt động của một nước hay một địa phương nhằm thu hút nguồn vốn đầu tư từ các cá nhân, tổ chức nước ngoài. Hoạt động này mang tính định hướng dựa trên chiến lược và mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội của nước hoặc địa phương tiếp nhận đầu tư.
Do vậy, việc thu hút đầu tư được triển khai dưới nhiều hình thức và tùy vào mức độ quan tâm của cấp lãnh đạo và tiềm lực cũng như đặc điểm của mỗi vùng, miền, hình thức thu hút FDI sẽ khác nhau.” Cao Tấn Huy (2019, 10) đã đưa ra “ Thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài là hệ thống các biện pháp mà chính quyền của một quốc gia hoặc địa phương thực hiện để hấp dẫn các nhà đầu tư từ nước ngoài đem nguồn vốn và công nghệ vào quốc gia hoặc địa phương để tổ chức thực hiện hoạt động tìm kiếm lợi nhuận hoặc lợi ích lớn hơn so với đầu tư tại quốc gia xuất phát của họ.” Trong phạm vi của Khóa luận tốt nghiệp này, thu hút vốn FDI được hiểu “Là hoạt động áp dụng các biện pháp, chính sách để các nhà đầu tư nước ngoài đến đầu tư bằng các hình thức khác nhau phù hợp với lợi ích chung của cả nhà đầu tư và địa phương tiếp nhận. Đặc điểm của đầu tư và vốn FDI - Đặc điểm của đầu tư Đầu tư gồm 4 đặc điểm sau: Thứ nhất, có vốn đầu tư: tiền, đất đai, nhà xưởng, máy móc thiết bị, bằng phát minh, sáng chế,. Vốn thường được lượng hóa bằng một đơn vị tiền tệ để dễ tính toán, so sánh. 2 Thứ hai, tính sinh lợi: đối với từng cá nhân hoặc tổ chức trong nền kinh tế, đầu tư đóng vai trò tạo ra hoặc tăng thêm giá trị và lợi ích cho những chủ thể đó.
Dưới góc độ của toàn bộ nền kinh tế, đầu tư có vai trò tạo ra hoặc gia tăng giá trị tổng thể cho xã hội. Lợi nhuận hoặc lợi ích kinh tế xã hội (như tạo tài sản mới cho nền kinh tế, tạo việc làm,. Thứ ba, tính mạo hiểm: hoạt động đầu tư thường diễn ra trong một thời gian dài vì vậy nó có tính mạo hiểm. Quá trình tiến hành hoạt động đầu tư chịu tác động của nhiều yếu tố khách quan và chủ quan khiến cho kết quả đầu tư khác với dự tính ban đầu và rất có thể lợi nhuận hoặc lợi ích kinh tế xã hội thu được sẽ thấp, thậm chí lỗ.
Đây chính là tính mạo hiểm của hoạt động đầu tư, nó đòi hỏi chủ đầu tư phải là người dám chấp nhận rủi ro, chấp nhận thất bại. Thứ tư, phải phù hợp với thể chế theo quy định của pháp luật: bất kể hoạt động đầu tư nào cũng phải tuân thủ theo những quy định của pháp luật tại quốc gia cũng như tại địa phương đó. - Đặc điểm của vốn FDI Thứ nhất, nhà đầu tư FDI chính là chủ sở hữu vốn, là một bộ phận của hình thức chu chuyển vốn quốc tế trong đó nhà đầu tư có quốc tịch nước ngoài, đầu tư tại một nước khác và buộc phải chấp hành luật pháp của nước nhận đầu tư. Nhà đầu tư sẽ trực tiếp tham gia quản lý, điều hành quá trình sử dụng vốn, có quyền lợi và nghĩa vụ với hoạt động sản xuất kinh doanh tương ứng với vốn đầu tư.
Thứ hai, vốn FDI không chỉ bao gồm tiền hiện có của nhà đầu tư mà còn bao gồm các khoản vay vốn của nhà đầu tư để triển khai và mở rộng các dự án cùng với vốn đầu tư được trích lại từ lợi nhuận của hoạt động kinh doanh tại nước nhận đầu tư. Do vậy, nước tiếp nhận vốn cần đưa ra những chính sách phù hợp để tránh trường hợp nhà đầu tư lợi dụng để đưa một lượng vốn nhỏ, sau đó vay của nước sở tại để tiến hành đầu tư và mở rộng dự án. Điều này sẽ làm ảnh hưởng đến mục đích ban đầu của việc thu hút đầu tư nước ngoài của nước tiếp nhận. Thứ ba, FDI là vốn đầu tư phát triển dài hạn, trực tiếp từ nước ngoài.
Vì vậy đối với nước nhận đầu tư, FDI sẽ là nguồn vốn bổ sung hết sức cần thiết cho nền kinh tế. Vốn FDI thường liên quan tới việc xây dựng các cơ sở hạ tầng như nhà máy, chi nhánh, công trình,. Do vậy thời gian đầu tư sẽ dài cùng với lượng vốn lớn, ổn định tại nước nhận đầu tư. Do tính chất luân chuyển vốn trực tiếp, FDI sẽ ít chịu sự ràng buộc và chi phối của chính phủ so với các hình thức đầu tư khác.
Các lĩnh vực mà FDI hướng đến thường là những lĩnh vực mang lại lợi nhuận cao đến rất cao cho nhà đầu tư. Thứ tư, vốn FDI là hình thức mà chủ sở hữu vốn trực tiếp mang vốn tới nước khác để đầu tư. Đây là một ưu điểm so với các loại hình đầu tư dạng vốn vay như ODA, FDI 3 Thư viện ĐH Thăng Long sẽ không tạo ra gánh nặng nợ cho nước tiếp nhận. Điều này giúp các nước tiếp nhận đầu tư, nhất là các nước đang phát triển không tạo thêm khoản nợ quốc gia, mà còn tạo thêm vốn đầu tư, đảm bảo được an ninh tài chính cho quốc gia tiếp nhận vốn tốt hơn so với các hình thức đầu tư dạng vốn vay khác.
Thứ năm, các nhà đầu tư nước ngoài khi thực hiện FDI luôn hướng tới mức lợi nhuận cao nhất. Do đó họ sẽ luôn tìm kiếm phương hướng để tối đa hóa lợi nhuận, có thể gây thiệt thòi, lấn át các doanh nghiệp nội địa, ảnh hưởng đến mục đích ban đầu của việc thu hút vốn đầu tư nước ngoài của nước sở tại. Vai trò của vốn FDI FDI đóng một vai trò quan trọng xét trên nhiều khía cạnh với nước tiếp nhận đầu tư và nước đi đầu tư, cụ thể như sau: - Đối với nhà đầu tư (hay nước đi đầu tư) + Tác động tích cực Thứ nhất, FDI giúp mở rộng thị trường tiêu thụ sản phẩm, công nghệ và thiết bị, tăng cường nâng cao sức mạnh kinh tế và vai trò ảnh hưởng trên thế giới.