phần mở đầu, danh mục tài liệu tham khảo, kết luận, đề tài đƣợc kết cấu gồm 4 chƣơng: - Chƣơng 1: Những vấn đề lý luận cơ bản về thu hút đầu tƣ, gắn với phát triển bền vững. - Chƣơng 2: Thực trạng thu hút đầu tƣ, gắn với thực hiện mục tiêu đổi mới mô hình tăng trƣởng của tỉnh Bắc Giang. - Chƣơng 3: Xây dƣng chiến lƣợc nâng cao chất lƣợng hiệu quả thu hút đầu tƣ, gắn với thực hiện mục tiêu phát triển bền vững của tỉnh Bắc Giang trong giai đoạn 2020- 2030. 8 c CHƢƠNG I NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ THU HÚT ĐẦU TƢ GẮN VỚI PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG 1.
Khái niệm Đầu tƣ Đầu tƣ là một trong những nhân tố chủ yếu quyết định đến sự phát triển của nền kinh tế quốc dân. Có nhiều quan điểm khác nhau định nghĩa về đầu tƣ: Tiếp tục cụ thể hóa tƣ tƣởng và tinh thần lập hiến của Hiến pháp năm 2013 về quyền tự do kinh doanh, Luật Đầu tƣ năm 2020 (đã đƣợc Quốc hội thông qua tại kì họp thứ 9, Quốc hội khóa XIV vào chiều ngày 17/06/2020) đƣa ra định nghĩa rất đơn giản tại khoản 8, điều 3: “Đầu tư kinh doanh là việc nhà đầu tư bỏ vốn đầu tư để thực hiện hoạt động kinh doanh”. Cách định nghĩa này không giới hạn các hình thức của hoạt động đầu tƣ, và sẽ có hiệu lực vào ngày 01/01/2021. Dƣới góc độ lý thuyết kinh tế hay kinh tế vĩ mô, đầu tƣ là số tiền mua một đơn vị thời gian của hàng hoá đƣợc tiêu thụ mà sẽ đƣợc sử dụng cho sản xuất trong tƣơng lai.
Dƣới góc độ tài chính, đầu tƣ là việc mua một tài sản với hy vọng rằng nó sẽ tạo ra thu nhập hoặc đánh giá cao trong tƣơng lai và đƣợc bán với giá cao hơn.Khoản đầu tƣ theo thuật ngữ tài chính thƣờng sẽ không bao gồm tiền gửi tại ngân hàng hay tổ chức tƣơng tự. Thuật ngữ đầu tƣ thƣờng đƣợc sử dụng khi đề cập đến một triển vọng dài hạn thay vì một tiềm năng ngắn hạn trong tƣơng lai gần. Đặt trong bối cảnh nghiên cứu của luận văn thạc sĩ, đầu tƣ cần đƣợc tiếp cận theo phƣơng diện đầu tƣ hƣớng đến phát triển bền vững. Đầu tƣ hƣớng đến phát triển bền vững là quá trình bỏ vốn ở hiện tại để tiến hành các hoạt động nhằm làm tăng thêm hoặc tạo ra những tài sản vật chất (nhà xƣởng, 9 c thiết bị, v.v…) và tài sản trí tuệ (tri thức, kỹ năng, v.v…), gia tăng năng lực sản xuất, tạo thêm việc làm nhƣng vì mục tiêu phát triển bền vững.
Chủ thể đầu tƣ bao gồm ngƣời sở hữu vốn, hoặc đƣợc giao quản lý, sử dụng vốn đầu tƣ, v.v… Các chủ thể này sẽ thực hiện hoạt động đầu tƣ với mục đích khác nhau: Đối với Nhà nƣớc, là nhằm thúc đẩy tăng trƣởng kinh tế và phát triển bền vững, tăng thu nhập quốc dân, giải quyết việc làm và nâng cao đời sống các thành viên trong xã hội, đối với doanh nghiệp là tối đa hóa giá trị doanh nghiệp. Mục đích của đầu tƣ phát triển là vì sự phát triển bền vững, vì lợi ích quốc gia, cộng đồng và nhà đầu tƣ1. Muốn đạt đƣợc mục tiêu phát triển bền vững, rất cần phải có sự điều tiết của Nhà nƣớc trong hoạt động đầu tƣ kinh doanh. Hoạt động đầu tƣ phát triển ngoài mang đặc điểm của đầu tƣ thì còn có những đặc điểm riêng do yếu tố phát triển.
đặc điểm của đầu tƣ phát triển bao gồm: (1) Đầu tƣ phát triển có sự gia tăng thêm về tài sản vật chất (nhà xƣởng, máy móc, thiết bị, v.v…), tài sản trí tuệ (trình độ văn hoá chuyên môn) và tài sản vô hình nhƣ bản quyền, phát minh sáng chế, v.v… Các kết quả đạt đƣợc của đầu tƣ phát triển góp phần làm tăng thêm năng lực sản xuất của xã hội và vì mục tiêu phát triển. (2) Vốn đầu tƣ bỏ ra thƣờng lớn. Khái niệm vốn đầu tƣ ở đây đƣợc xét trên 4 dạng thức khác nhau, đó là (i) vốn bằng tiền, (ii) vốn vật tƣ hàng hóa, (iii) vốn về lao động, và (iv) vốn vô hình. Đối với vốn bằng tiền và vật tƣ hàng hóa thì trong quá trình thực hiện đầu tƣ đòi hỏi các chủ đầu tƣ phải có giải pháp tạo vốn và huy động vốn hợp lý, xây dựng đƣợc các chính sách, kế hoạch đúng đắn, quản lý chặt chẽ nguồn vốn đầu tƣ, bố trí vốn theo tiến độ đầu tƣ, thực hiện đầu 1 Nguyễn Bạch Nguyệt và Từ Quang Phƣơng, Giáo trình kinh tế đầu tư, NXB ðại học Kinh tế quốc dân, Hà Nội, 2010 10 c tƣ trọng tâm.
đối với lao động do lƣợng lao động trong đầu tƣ phát triển cần về quy mô và chất lƣợng tốt nên trong công tác tuyển dụng, đào tạo, sử dụng và đãi ngộ cần phải có kế hoạch định trƣớc, sao cho đáp ứng tốt nhất nhu cầu từng loại theo tiến độ. (3) Thời gian đầu tƣ phát triển thƣờng kéo dài hơn đầu tƣ kinh doanh thông thƣờng: Thời gian này đƣợc tính từ khi khởi công thực hiện dự án đến khi dự án hoàn thành và đƣa vào hoạt động. Có những dự án kéo dài hàng chục năm, vì thời gian dài cho nên trong quá trình đầu tƣ chủ đầu tƣ phải tránh tình trạng vốn lớn bị ứ đọng gây lãng phí, muốn thế thì phải tiến hành phân kỳ đầu tƣ, bố trí vốn và nguồn lực tập trung hoàn thành dứt điểm từng công trình hạng mục. (4) Mức độ rủi ro cao: Do thời gian đầu tƣ kéo dài, vốn bỏ ra lớn cho nên mức độ rủi ro thƣờng cao.
Rủi ro là khả năng xảy ra tổn thất ngoài dự kiến, do từ phía chủ đầu tƣ quản lý kém, chất lƣợng sản phẩm không đủ yêu cầu… hoặc do sự biến động của thị trƣờng về giá cả, v.v… Nhƣ vậy, khái niệm đầu tƣ theo nghĩa hẹp chỉ bao gồm những hoạt động sử dụng các nguồn lực nhƣ nhân lực,vật lực,tài lực ở hiện tại trên cơ sở tính toán hợp lý nhằm đem lại cho nền kinh tế – xã hội những kết quả trong tƣơng lai lớn hơn các nguồn lực đã sử dụng để đạt đƣợc các kết quả đó. Khái niệm đầu tƣ theo nghĩa rộng là sự hy sinh các nguồn lực ở hiện tại (có thể là tài sản, là tài nguyên thiên nhiên, là sức lao động và trí tuệ) để tiến hành các hoạt động nào đó nhằm thu về cho ngƣời đầu tƣ các kết quả nhất định trong tƣơng lai lớn hơn các nguồn lực đã bỏ ra để đạt đƣợc các kết quả đó. Các kết quả đạt đƣợc có thể là sự tăng thêm các tài sản tài chính, tài sản vật chất, tài sản trí tuệ nguồn lực, uy tín. Chủ thể của hoạt động đầu tƣ 11 c Để xác định chủ thể của hoạt động đầu tƣ cần căn cứ vào những quy định pháp lý của Luật đầu tƣ.
Từ Luật Đầu tƣ năm 2005 đến Luật Đầu tƣ hiện hành (2014) quy chế pháp lý về nhà đầu tƣ đƣợc quy định thống nhất trong một văn bản pháp luật và cả hai đạo luật này đều chung một quan điểm về nhà đầu tƣ. Theo Luật Đầu tƣ năm 2014, nhà đầu tƣ là cá nhân, tổ chức thực hiện hoạt động đầu tƣ thực hiện hoạt động đầu tƣ kinh doanh, gồm nhà đầu tƣ trong nƣớc, nhà đầu tƣ nƣớc ngoài và tổ chức kinh tế có vốn đầu tƣ nƣớc ngoài. Tuy nhiên, thay vì liệt kê các chủ thể đƣợc coi là nhà đầu tƣ nhƣ Luật Đầu tƣ năm 2005, Luật Đầu tƣ năm 2014 đã khái quát hóa nhà đầu tƣ thành các nhóm cụ thể. Theo đó, nhà đầu tƣ bao gồm ba nhóm: (i) nhà đầu tƣ trong nƣớc, (ii) nhà đầu tƣ nƣớc ngoài, (iii) tổ chức kinh tế có vốn đầu tƣ nƣớc ngoài.
(i) Nhà đầu tƣ trong nƣớc Nhà đầu tƣ trong nƣớc đƣợc xác định là cá nhân có quốc tịch Việt Nam hoặc có thể là tổ chức kinh tế không có nhà đầu tƣ nƣớc ngoài là thành viên hoặc cổ đông. Tổ chức kinh tế bao gồm các loại hình doanh nghiệp theo pháp luật doanh nghiệp, hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã theo Luật hợp tác xã, hộ kinh doanh. (ii) Nhà đầu tƣ nƣớc ngoài Nhà đầu tƣ nƣớc ngoài theo quy định của pháp luật Việt Nam đƣợc định nghĩa là cá nhân có quốc tịch nƣớc ngoài hoặc pháp nhân đƣợc thành lập theo pháp luật nƣớc ngoài thực hiện hoạt động đầu tƣ kinh doanh tại Việt Nam. (iii) Tổ chức kinh tế có vốn đầu tƣ nƣớc ngoài Tổ chức kinh tế có vốn đầu tƣ nƣớc ngoài là tổ chức kinh tế mà trong đó có nhà đầu tƣ nƣớc ngoài đóng vai trò là cổ đông hoặc thành viên.
Theo đó, tổ chức kinh tế có vốn đầu tƣ nƣớc ngoài có thể đƣợc thành lập ở Việt Nam hoặc ở nƣớc ngoài nhƣng phải có ít nhất một thành viên (cổ đông) là nhà đầu tƣ nƣớc ngoài. Bên cạnh đó, Luật Đầu tƣ hiện hành còn phân loại tổ chức 12 c kinh tế có vốn đầu tƣ nƣớc ngoài theo tiêu chí tỷ lệ sở hữu vốn của nhà đầu tƣ nƣớc ngoài bao gồm tổ chức kinh tế có vốn đầu tƣ ƣớc ngoài đƣợc hƣởng quy chế pháp lý nhƣ nhà đầu tƣ nƣớc ngoài và tổ chức kinh tế có vốn đầu tƣ nƣớc ngoài đƣợc hƣởng quy chế pháp lý nhƣ nhà đầu tƣ trong nƣớc. Thẩm định dự án đầu tƣ 1. Khái niệm thẩm định dự án đầu tƣ Thẩm định dự án đầu tƣ là việc tổ chức xem xét đánh giá một cách khách quan, khoa học và toàn diện các nội dung cơ bản có ảnh hƣởng trực tiếp đến khả năng thực hiện và hiệu quả của dự án để từ đó ra quyết định đầu tƣ, cho phép đầu tƣ hoặc tài trợ vốn cho dự án.
Mục đích thẩm định dự án đầu tƣ Việc thẩm định dự án nhằm bác bỏ các dự án tồi và lựa chọn những dự án có tính khả thi cao thông qua việc: Đánh giá tính hợp lý, hợp pháp, hợp lệ của dự án. Đánh giá hiệu quả của dự án trên cả 2 góc độ: hiệu quả về tài chính và hiệu quả kinh tế xã hội của dự án. Đánh giá khả năng triển khai thực hiện dự án. Vai trò của thẩm định dự án đầu tƣ Đối với nhà nƣớc Với chức năng là cơ quan quản lý, điều phối và giám sát các hoạt động đầu tƣ trong nền kinh tế thì việc thẩm định dự án có một vai trò rất quan trọng đối với các cơ quan Nhà nƣớc có thẩm quyền.