Chương 1 gồm 3 nội dung chính, (1). Lý luận về du lịch và phương pháp xác định một số chỉ tiêu thống kê du lịch; (2) Tăng trưởng kinh tế và phương pháp xác định một số chỉ tiêu phản ánh tăng trưởng kinh tế; và (3) Tác động tổng hợp của du lịch đến tăng trưởng kinh tế và các chỉ tiêu biểu hiện. Lý luận về du lịch và phương pháp xác định một số chỉ tiêu thống kê du lịch Để nhận biết và đo lường được du lịch, trước hết cần có khái niệm rõ ràng về du lịch, thống nhất với mục tiêu và phạm vi nghiên cứu. Khái niệm du lịch cần được xem xét trong mối liên hệ với các khái niệm có liên quan.
Tiếp theo, căn cứ vào mục tiêu nghiên cứu, phương pháp đo lường du lịch được xác định thông qua việc nhận biết và đo lường các chỉ tiêu phản ánh các khía cạnh của hoạt động du lịch. Trong mục này Luận án tập trung làm rõ hai nội dung chính: Các khái niệm về du lịch và phương pháp đo lường du lịch. Các khái niệm về du lịch và thống kê du lịch Du lịch là hoạt động kinh tế -xã hội đã được hình thành và phát triển từ rất lâu cùng với sự hình thành phát triển của xã hội loài người. Ngày nay, du lịch đã trở thành một hoạt động phổ biến xuất hiện ở hầu hết các nước trên thế giới, ở các nước phát triển và cả các nước đang phát triển.
Kinh tế càng phát triển thì nhu cầu của du lịch ngày càng cao với những hình thức và nội dung hết sức phong phú và đa dạng. Xét trên giác độ tinh thần, du lịch đang dần trở thành nhu cầu thiết yếu của mọi tầng lớp dân cư. Du lịch không chỉ phục vụ cho nhu cầu tham quan, vui chơi, giải trí đơn thuần mà còn kết hợp với các hoạt động khác như hội họp, đào tạo, nghiên cứu, khảo sát kinh doanh,. Theo đó, khái niệm du lịch cũng được phát triển và hoàn thiện phù hợp với các cách tiếp cận và hướng nghiên cứu khác nhau.
Đồng thời khái niệm du lịch cũng được xem xét trong mối quan hệ với các khái niệm khác có liên quan. Khái niệm du lịch Cùng với sự phát triển mạnh mẽ của khoa học, kỹ thuật và công nghệ diễn ra nhanh chóng, hoạt động du lịch có những thay đổi cả về nội dung, hình thức. Theo đó, khái niệm du lịch cũng hết sức phong phú và đa dạng, phát triển theo các quan điểm và 15 góc độ nghiên cứu khác nhau. Trong tiếng Anh, từ “Du lịch” xuất phát từ tiếng “To Tour” có nghĩa là cuộc dạo chơi (Tour round the world - cuộc đi vòng quanh thế giới; To go for tour round the town - cuộc dạo quanh thành phố; Tour of inspection- cuộc kinh lý kiểm tra, …).
Tiếng Pháp, từ du lịch bắt nguồn từ Le Tour cũng có nghĩa là cuộc dạo chơi, dã ngoại, … Từ góc nhìn của các nhà địa lý học (trích dẫn trong Nguyễn Lê Anh, 2010, tr.12) định nghĩa du lịch là sự tập hợp những hoạt động và tiêu thụ cho việc đi lại và ngủ lại ít nhất một đêm ngoài nơi ở thường ngày với lý do giải trí, kinh doanh, sức khỏe, hội họp, thể thao hoặc tôn giáo. Theo quan điểm kinh tế học, Kafiotis (trích dẫn trong Nguyễn Lê Anh, 2010, tr.12) cho rằng du lịch là sự di chuyển tạm thời của cá nhân hay tập thể từ nơi này đến nơi khác nhằm thỏa mãn nhu cầu tinh thần, đạo đức, do đó tạo nên các hoạt động kinh tế. Theo Hunziker và Krapf (trích dẫn trong Nguyễn Văn Đính và Trần Thị Minh Hòa, 2008, tr.14), được xem là những người tiên phong trong lý luận về du lịch đã đưa ra định nghĩa: “Du lịch là tập hợp các mối quan hệ và các hiện tượng phát sinh trong các cuộc hành trình và lưu trú của những người ngoài địa phương, nếu việc lưu trú đó không thành cư trú thường xuyên và không liên quan đến hoạt động kiếm lời.” Từ điển bách khoa quốc tế về du lịch định nghĩa: “Du lịch là tập hợp các hoạt động tích cực của con người nhằm thực hiện một dạng hành trình, là công nghiệp liên kết nhằm thỏa mãn nhu cầu của khách du lịch. du lịch là cuộc hành trình mà một bên là người khởi hành với mục đích đã chọn trước và một bên là những công cụ làm thỏa mãn các nhu cầu của họ”.
Du lịch là một ngành kinh doanh bao gồm các hoạt động tổ chức hướng dẫn du lịch, sản xuất trao đổi hàng hóa, dịch vụ của những doanh nghiệp, nhằm đáp ứng các nhu cầu về đi lại lưu trú, ăn uống, tham quan, giải trí tìm hiểu và các nhu cầu khác của khách du lịch. Các hoạt động đó phải đem lại lợi ích kinh tế, chính trị - xã hội thiết thực cho nước làm du lịch và bản thân doanh nghiệp. (Nguyễn Văn Đính và Trần Thị Minh Hòa, 2008, tr.16) Luật Du lịch, ngày 14 tháng 6 năm 2005 Quốc Hội nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam ban hành, tại Điều 4 (2005, tr. 1) giải thích “Du lịch là các hoạt động có liên quan đến chuyến đi của con người ngoài nơi cư trú thường xuyên của mình nhằm đáp ứng nhu cầu tham quan, tìm hiểu, giải trí, nghỉ dưỡng trong một khoảng thời gian nhất định”.
16 Như vậy, với mỗi cách tiếp cận có một định nghĩa khác nhau về du lịch. Các khái niệm trên cho phép xác định du lịch gắn với hoạt động đi lại, (di chuyển) để đáp ứng một số nhu cầu của du khách, và chỉ xem xét du lịch trên giác độ định tính. Nghiên cứu thống kê đòi hỏi một định nghĩa mà qua đó vừa mô tả, vừa làm cơ sở để nghiên cứu lượng hóa được hoạt động du lịch, đồng thời thống nhất với các khái niệm của các chuyên ngành khác có liên quan. Từ yêu cầu này, Hội nghị Quốc tế về Thống kê Du lịch tại Ottawa-Canada từ ngày 24-28/6/1991 và sau đó Đại Hội đồng của UNWTO họp phiên thứ 9 tại Buenos Aires – Agentina từ ngày 30 tháng 9 đến ngày 04 tháng 10 năm 1991 đã thông qua Nghị quyết, trong đó thống nhất khái niệm về du lịch như sau: “Du lịch là hoạt động của con người đi tới một nơi ngoài môi trường thường xuyên trong một khoảng thời gian ít hơn khoảng thời gian đã được các tổ chức du lịch quy định trước, mục đích của chuyến đi không phải là để thực hiện hoạt động kiếm tiền trong phạm vi của vùng tới thăm”.
Hội nghị lần thứ 27 của Ủy ban Thống kê Liên hợp quốc năm 1993 đã thông qua một số định nghĩa về du lịch do UNWTO đề nghị. Theo đó, “du lịch là hoạt động về chuyến đi đến một nơi khác với môi trường sống thường xuyên của con người và ở lại đó để tham quan, nghỉ ngơi, vui chơi giải trí hay các mục đích khác ngoài việc tiến hành các hoạt động để có thù lao ở nơi đến với thời gian liên tục ít hơn một năm”. Tài khoản vệ tinh du lịch là một hệ thống chỉ tiêu, phương pháp luận tính toán các giá trị của hoạt động du lịch trong một quốc gia và quốc tế.2 của TSA: RMF 2008 phát hành bởi United Nation (2009, tr.12), một lần nữa định nghĩa về du lịch:“Du lịch là các hoạt động của du khách ở nơi ngoài môi trường sinh hoạt hàng ngày trong thời gian không quá một năm liên tục với mục đích chính không liên quan tới hoạt động kiếm tiền ở nơi họ đến”. Theo đó, du lịch được xác định khi có đủ ba điều kiện sau: - Về không gian, du khách phải đi ra ngoài môi trường thường xuyên của mình, không bao gồm các chuyến đi trong phạm vi nơi ở, các chuyến đi có tính chất định kỳ giữa nơi ở và nơi làm việc và các chuyến đi thường xuyên khác; - Về thời gian hoạt động du lịch của du khách diễn ra ít hơn một năm; - Về mục đích, chuyến đi không phải là hoạt động kiếm tiền trong phạm vi vùng tới thăm.
Phân biệt khái niệm du lịch của TSA với khái niệm hoạt động du lịch trong 17 phân ngành hoạt động của SNA Theo Phân ngành chuẩn quốc tế (ISIC) áp dụng trong SNA, hoạt động du lịch chỉ được xem xét trong phạm vi “hoạt động của các đại lý du lịch, kinh doanh tua du lịch và các dịch vụ hỗ trợ, liên quan đến quảng bá và tổ chức tua du lịch”. Hệ thống ngành kinh tế Việt Nam 2007 (VSIC 2007) ban hành theo Quyết định số 10/2007/QĐ-TTg ngày 23 tháng 01 năm 2007 của Thủ tướng Chính phủ, trong đó, hoạt động du lịch thuộc ngành kinh tế cấp 1 có mã số và tên gọi: “N. Hoạt động hành chính và dịch vụ hỗ trợ” và mã số 79 theo phân ngành cấp 2 của VSIC 2007. Phân ngành chi tiết của hoạt động du lịch theo VSIC 2007 được trình bày trong Bảng 1.1: Mã số và nội dung hoạt động du lịch theo VSIC 2007 Cấp Cấp Cấp Cấp Cấp Tên ngành Nội dung ngành 1 2 3 4 5 HOẠT ĐỘNG Ngành này gồm: Hoạt động hỗ trợ hoạt HÀNH động kinh doanh thông thường, mục đích N CHÍNH VÀ đầu tiên của chúng không phải là chuyển DỊCH VỤ HỖ giao những kiến thức chuyên môn.
TRỢ … … … Hoạt động của Ngành này gồm: Hoạt động của các cơ quan các đại lý du chủ yếu thực hiện việc bán các sản phẩm du lịch, kinh lịch, tua du lịch, dịch vụ vận tải và lưu trú doanh tua du cho khách du lịch và các hoạt động thu xếp, lịch và các kết nối các tua đã được bán thông qua các 79 dịch vụ hỗ trợ, đại lý du lịch hoặc trực tiếp bởi các đại lý liên quan đến như điều hành tua, các dịch vụ hỗ trợ, liên quảng bá và tổ quan đến quảng bá và tổ chức tua du lịch. chức tua du Ngành này cũng gồm: Hoạt động hướng dẫn lịch du lịch. Nhóm này gồm: Hoạt động của các cơ quan Hoạt động của chủ yếu thực hiện việc bán các sản phẩm du các đại lý du lịch, tua du lịch, dịch vụ vận tải và lưu trú 791 lịch, kinh cho khách du lịch và các hoạt động thu xếp, doanh tua du kết nối các tua đã được bán thông qua các lịch đại lý du lịch hoặc trực tiếp bởi các đại lý như điều hành tua.