Luận án tiến sĩ ngôn ngữ học đối chiếu từ ngữ nối biểu thị ý nghĩa kết quả tổng kết tiếng việt và tiếng anh trên cơ sở các văn bản khoa học xã hội

Luận án tiến sĩ phân tích ngôn ngữ học đối chiếu từ ngữ nối biểu thị ý nghĩa kết quả tổng kết tiếng việt và tiếng anh trên cơ, xây dựng cơ sở lý luận, kiểm chứng thực nghiệm, đóng

Chuyên ngành

Ngôn ngữ học

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận án tiến sĩ
222
0
0

Phí lưu trữ

55 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

MỞ ĐẦU

0.1. Lý do chọn đề tài

0.2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

0.3. Đối tượng, phạm vi và tư liệu nghiên cứu

0.4. Phương pháp nghiên cứu

0.5. Đóng góp mới về khoa học của luận án

0.6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận án

0.7. Kết cấu của luận án

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ THUYẾT

1.1. Tổng quan tình hình nghiên cứu

1.1.1. Tình hình nghiên cứu về phép nối, từ nối ở nước ngoài

1.1.2. Tình hình nghiên cứu về phép nối, từ nối ở Việt Nam

1.2. Văn bản và liên kết

1.3. Phép nối và từ ngữ nối biểu thị ý nghĩa kết quả, tổng kết

1.4. Thể loại văn bản khoa học

1.5. Ngôn ngữ học đối chiếu

2. CHƯƠNG 2: ĐỐI CHIẾU ĐẶC ĐIỂM CẤU TRÚC - NGỮ NGHĨA CỦA TỪ NGỮ NỐI BIỂU THỊ Ý NGHĨA KẾT QUẢ, TỔNG KẾT TRONG VBKHXHTV VÀ VBKHXHTA

2.1. Tiêu chí nhận diện từ ngữ nối biểu thị ý nghĩa kết quả, tổng kết trong VBKHXHTV và VBKHXHTA

2.2. Tiêu chí nhận diện từ ngữ nối biểu thị ý nghĩa kết quả, tổng kết tiếng Việt

2.3. Tiêu chí nhận diện từ ngữ nối biểu thị ý nghĩa kết quả, tổng kết tiếng Anh

2.4. Đối chiếu số lượng và tần suất sử dụng từ ngữ nối biểu thị ý nghĩa kết quả, tổng kết trong VBKHXHTV và VBKHXHTA

2.5. Số lượng và tần suất sử dụng từ ngữ nối biểu thị ý nghĩa kết quả, tổng kết tiếng Việt và tiếng Anh

2.6. Một số nhận xét chung về số lượng và tần suất sử dụng từ ngữ nối biểu thị ý nghĩa kết quả, tổng kết tiếng Việt và tiếng Anh

2.7. Đối chiếu về đặc điểm cấu trúc - ngữ nghĩa của từ ngữ nối biểu thị ý nghĩa kết quả, tổng kết trong VBKHXHTV và VBKHXHTA

2.8. Vị trí của từ ngữ nối biểu thị ý nghĩa kết quả, tổng kết trong phát ngôn

2.9. Yếu tố đi kèm từ ngữ nối biểu thị ý nghĩa kết quả, tổng kết trong phát ngôn

2.10. Chức năng cú pháp của từ ngữ nối biểu thị ý nghĩa kết quả, tổng kết trong phát ngôn

2.11. Đặc điểm cấu tạo - ngữ nghĩa của từ ngữ nối biểu thị ý nghĩa kết quả, tổng kết trong VBKHXHTV và VBKHXHTA

3. CHƯƠNG 3: ĐỐI CHIẾU ĐẶC ĐIỂM LIÊN KẾT - LẬP LUẬN CỦA TỪ NGỮ NỐI BIỂU THỊ Ý NGHĨA KẾT QUẢ, TỔNG KẾT TRONG VBKHXHTV VÀ VBKHXHTA

3.1. Đối chiếu đặc điểm liên kết của từ ngữ nối biểu thị ý nghĩa kết quả, tổng kết trong VBKHXHTV và VBKHXHTA

3.2. Đặc trưng liên kết của từ ngữ nối biểu thị ý nghĩa kết quả, tổng kết

3.3. Cấu trúc liên kết của từ ngữ nối biểu thị ý nghĩa kết quả, tổng kết

3.4. Các mô hình liên kết của từ ngữ nối biểu thị ý nghĩa kết quả, tổng kết

3.5. Một số nhận xét chung về các mối quan hệ liên kết của từ ngữ nối biểu thị ý nghĩa kết quả, tổng kết

3.6. Đối chiếu đặc điểm lập luận của từ ngữ nối biểu thị ý nghĩa kết quả, tổng kết trong VBKHXHTV và VBKHXHTA

3.7. Giá trị liên kết của từ ngữ nối biểu thị ý nghĩa kết quả, tổng kết có tác dụng tạo ra quan hệ lập luận cho văn bản

3.8. Đặc điểm lập luận của từ ngữ nối biểu thị ý nghĩa kết quả, tổng kết

3.9. Đối chiếu đặc điểm liên kết và lập luận của từ ngữ nối biểu thị ý nghĩa kết quả, tổng kết trong VBKHXHTV và VBKHXHTA

CÁC CÔNG TRÌNH ĐÃ CÔNG BỐ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

NGUỒN NGỮ LIỆU KHẢO SÁT

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

DANH MỤC BẢNG BIỂU

Tóm tắt

I. Tổng quan tình hình nghiên cứu và cơ sở lý thuyết

Chương này trình bày tổng quan về tình hình nghiên cứu từ ngữ nốiphép nối trong và ngoài nước. Các công trình nghiên cứu tiêu biểu như Halliday & Hasan (1976), Martin (1992), và Halliday (1998) đã đặt nền móng cho việc nghiên cứu liên kết văn bảnphép nối. Ở Việt Nam, các nghiên cứu về từ ngữ nối cũng đã được thực hiện, nhưng chủ yếu tập trung vào các phạm trù ngữ nghĩa khác nhau. Luận án nhấn mạnh sự cần thiết của việc nghiên cứu hệ thống về từ ngữ nối biểu thị kết quả trong văn bản khoa học xã hội.

1.1. Tình hình nghiên cứu về phép nối từ nối ở nước ngoài

Các nghiên cứu về phép nốitừ ngữ nối đã được thực hiện từ rất sớm trên thế giới. Các công trình của Halliday & Hasan (1976), Martin (1992), và Halliday (1998) đã làm rõ vai trò của phép nối trong việc tạo liên kết văn bản. Các nghiên cứu này tập trung vào việc phân tích các phương tiện liên kết và mối quan hệ ngữ nghĩa giữa các câu trong văn bản.

1.2. Tình hình nghiên cứu về phép nối từ nối ở Việt Nam

Ở Việt Nam, các nghiên cứu về từ ngữ nối chủ yếu tập trung vào các phạm trù ngữ nghĩa như nguyên nhân, kết quả, và tương phản. Tuy nhiên, nghiên cứu về từ ngữ nối biểu thị kết quả trong văn bản khoa học xã hội vẫn còn hạn chế. Luận án nhấn mạnh sự cần thiết của việc nghiên cứu hệ thống về nhóm từ ngữ này.

II. Đối chiếu đặc điểm cấu trúc ngữ nghĩa của từ ngữ nối biểu thị kết quả

Chương này tập trung vào việc đối chiếu đặc điểm cấu trúcngữ nghĩa của từ ngữ nối biểu thị kết quả trong tiếng Việttiếng Anh. Luận án sử dụng phương pháp phân tích diễn ngônso sánh đối chiếu để làm rõ sự tương đồng và khác biệt giữa hai ngôn ngữ. Các tiêu chí nhận diện từ ngữ nối được xác định dựa trên vị trí, chức năng ngữ pháp, và ngữ nghĩa của chúng trong văn bản khoa học xã hội.

2.1. Tiêu chí nhận diện từ ngữ nối biểu thị kết quả

Luận án xác định các tiêu chí nhận diện từ ngữ nối biểu thị kết quả dựa trên vị trí, chức năng ngữ pháp, và ngữ nghĩa của chúng trong văn bản khoa học xã hội. Các từ ngữ nối như 'vì vậy', 'do đó', 'tóm lại' được xem xét trong cả tiếng Việttiếng Anh.

2.2. Đối chiếu số lượng và tần suất sử dụng

Luận án đối chiếu số lượng và tần suất sử dụng từ ngữ nối biểu thị kết quả trong văn bản khoa học xã hội tiếng Việttiếng Anh. Kết quả cho thấy sự khác biệt đáng kể về tần suất sử dụng giữa hai ngôn ngữ, phản ánh sự khác biệt trong văn phong khoa học.

III. Đối chiếu đặc điểm liên kết lập luận của từ ngữ nối biểu thị kết quả

Chương này tập trung vào việc đối chiếu đặc điểm liên kếtlập luận của từ ngữ nối biểu thị kết quả trong tiếng Việttiếng Anh. Luận án làm rõ vai trò của từ ngữ nối trong việc tạo liên kết văn bản và xây dựng lập luận khoa học. Các mô hình liên kết và giá trị lập luận của từ ngữ nối được phân tích chi tiết, qua đó chỉ ra sự tương đồng và khác biệt giữa hai ngôn ngữ.

3.1. Đặc trưng liên kết của từ ngữ nối biểu thị kết quả

Luận án phân tích các đặc trưng liên kết của từ ngữ nối biểu thị kết quả, bao gồm cấu trúc liên kết và các mô hình liên kết trong văn bản khoa học xã hội. Các từ ngữ nối này đóng vai trò quan trọng trong việc tạo liên kết văn bản và đảm bảo tính mạch lạc của văn bản.

3.2. Giá trị lập luận của từ ngữ nối biểu thị kết quả

Luận án làm rõ giá trị lập luận của từ ngữ nối biểu thị kết quả trong việc xây dựng lập luận khoa học. Các từ ngữ nối này giúp tác giả thể hiện sự suy luận logic và đưa ra kết luận trong văn bản khoa học xã hội.

01/03/2025
Luận án tiến sĩ ngôn ngữ học đối chiếu từ ngữ nối biểu thị ý nghĩa kết quả tổng kết tiếng việt và tiếng anh trên cơ sở các văn bản khoa học xã hội

Trích đoạn nội dung tài liệu

mở đầu bằng chữ cái viết hoa và kết thúc bằng một số loại dấu câu nhất định. Văn bản và diễn ngôn. Phân tích văn bản và phân tích diễn ngôn a. Văn bản và diễn ngôn Sự phát triển của ngôn ngữ học hiện đại đã đƣa phân tích ngữ pháp không chỉ giới hạn ở câu truyền thống mà còn hƣớng đến khảo sát cấu trúc trên câu, đặc biệt là xem xét mối quan hệ giữa các câu trong cả văn bản.

Đây chính là cơ sở cho sự ra đời của một ngành mới: ngôn ngữ học văn bản (text linguistics, textual linguistics) mà giai đoạn sau các nhà nghiên cứu gọi là phân tích diễn ngôn (discourse analysis). Trong ngôn ngữ học VB hay phân tích diễn ngôn, ngoài khái niệm phát ngôn còn có hai khái niệm khác luôn song hành, đó là diễn ngôn (discourse) và văn bản (text). Đây đƣợc xem là hai khái niệm cơ bản, nền tảng của ngôn ngữ học VB và 13 phân tích diễn ngôn. Vì vậy, hai khái niệm này đƣợc hầu hết các nhà nghiên cứu ở trong và ngoài lĩnh vực này đề cập tới, chẳng hạn nhƣ: Halliday & Hasan (1976), Brown & Yule (1983), Cook (1989), Nunan (1993), Asher (1994), Trần Ngọc Thêm (1985), Hồ Lê (1996), Nguyễn Thị Việt Thanh (1999), Phạm Văn Tình (2002), Nguyễn Hoà (2008), Diệp Quang Ban (1998 & 2009), Nguyễn Thiện Giáp (2009).

Theo tổng kết của Diệp Quang Ban (2009), cùng với quá trình phát triển của ngôn ngữ học, khái niệm VB và diễn ngôn cũng đƣợc hiểu theo những cách khác nhau. Ở giai đoạn đầu, do trọng tâm của các nhà nghiên cứu tập trung vào sự kiện nói bằng chữ viết cho nên tên gọi văn bản đƣợc sử dụng để chỉ những sự kiện nói (tức là những sản phẩm của ngôn ngữ) bằng chữ viết và nói miệng có mạch lạc và liên kết. Nghĩa là VB thời kì này đƣợc dùng để chỉ các sản phẩm của cả hoạt động viết và nói, tức giao tiếp nói chung. Tiêu biểu cho quan niệm thời kì đầu này là định nghĩa về VB của Halliday & Hasan (1976): “Văn bản - một đơn vị của ngôn ngữ - được xác định không phải dựa vào độ dài ngắn, dạng nói hay viết, bao gồm một động từ hay nhiều… mà dựa vào tính chỉnh thể, thống nhất về nội dung ngữ nghĩa của nó”.

“Văn bản là một thuật ngữ ngôn ngữ học được dùng để chỉ bất kì một đoạn văn nào, dù là dạng nói hay viết, dù là dài hay ngắn, nhưng phải là một chỉnh thể thống nhất, hoàn chỉnh”. Và: “Văn bản là một đơn vị của ngôn ngữ tồn tại trong quá trình sử dụng - giao tiếp hay tư duy” [123: 1-2]. Đồng thời, Halliday cũng chỉ rõ việc xác định VB phải gắn liền với ngữ cảnh, nghĩa là VB phải đƣợc xác định tuỳ thuộc vào văn cảnh và nội dung, ý nghĩa của các câu đi trƣớc và sau nó mà không thể xác định một cách tách rời các thành phần (câu, chuỗi câu) nào cấu tạo nên VB. Nhƣ vậy, Halliday rất chú trọng đến các mối quan hệ về nghĩa giữa các phát ngôn trong VB.

Tƣơng tự, Crystal (1992) quan niệm: “Văn bản là một sản phẩm diễn ngôn xuất hiện một cách tự nhiên dưới dạng nói, viết hoặc biểu hiện bằng cử chỉ, được nhận dạng về những mục đích phân tích. Nó thường là một chỉnh thể ngôn ngữ với chức năng giao tiếp có thể xác định được, ví dụ như một cuộc thoại, một tờ áp phích. Nhƣ vậy, VB không chỉ là sản phẩm của hoạt động viết mà còn là sản phẩm của hoạt động nói, nghĩa là VB còn luôn đƣợc đặt trong bối cảnh giao tiếp. Giai đoạn về sau, do ngôn ngữ nói đƣợc quan tâm nhiều hơn nên đã tạo thế cân bằng với ngôn ngữ viết: xuất hiện tên gọi thứ hai, đó là diễn ngôn.

Do đó, ở thời kì 14 này các nhà nghiên cứu có xu hƣớng phân biệt, đối lập rạch ròi về nội hàm khái niệm giữa hai tên gọi này. VB dùng để chỉ sản phẩm ngôn ngữ dƣới dạng viết (chữ viết), còn diễn ngôn chỉ sản phẩm ngôn ngữ nói (nói miệng). Chẳng hạn, Hồ Lê (1996) phân biệt "Văn bản là chỉnh thể của một sản phẩm - viết để diễn đạt trọn vẹn một ý kiến về một vấn đề hoặc một hệ thống vấn đề. Ngôn bản là chỉnh thể của một sản phẩm - nói để diễn đạt trọn vẹn ý kiến về một vấn đề hoặc hệ thống vấn đề” [58: 55].

Một số tác giả khác cũng đề cập đến sự phân biệt VB và diễn ngôn ở những khía cạnh khác nhau nhƣ Brown & Yule (1983), Widdowson (1984), Cook (1989), Nunan (1993). Chẳng hạn, theo Cook (1990), sự khác biệt giữa diễn ngôn và VB là sự khác biệt giữa chức năng và hình thức: VB là ―một chuỗi ngôn ngữ được hiểu một cách hình thức, bên ngoài ngữ cảnh‖, còn diễn ngôn là ―các chuỗi ngôn ngữ được cảm nhận như có ý nghĩa, thống nhất và có mục đích‖ [114: 158]. Nhƣ vậy, với quan niệm VB thuộc về ngôn ngữ viết còn diễn ngôn là thuộc về lời nói thì theo cách hiểu này, diễn ngôn sẽ là một chuỗi phát ngôn đƣợc thực hiện trong quá trình giao tiếp bằng lời nói (thể hiện dƣới dạng âm thanh) và hàm ý có ngƣời nghe trực tiếp. Tuy nhiên, việc cố gắng phân biệt rạch ròi hai khái niệm này trong thực tế là vô cùng khó khăn, bởi vì thực tế cho thấy sản phẩm của diễn ngôn cũng thƣờng đƣợc ghi lại bằng chữ viết, nghĩa là bằng VB hiện hữu hay còn gọi là ―văn bản hoá‖.

Mặc dù các tác giả trên cố gắng phân biệt diễn ngôn và VB nhƣng cách định nghĩa cho thấy họ chƣa làm rõ bản chất của sự khác biệt giữa hai khái niệm này, thậm chí là chúng hoà trộn vào nhau, rất khó phân biệt. Chẳng hạn, Crystal (1992) phân biệt diễn ngôn “là một chuỗi ngôn ngữ (đặc biệt là ngôn ngữ nói) liên tục lớn hơn câu, thường tạo nên một đơn vị có mạch lạc, như bài truyền giáo, một lý lẽ, một câu chuyện tiếu lâm hay truyện kể”. Còn văn bản “là một đoạn diễn ngôn xuất hiện dưới dạng nói, viết hoặc ở dạng kí hiệu bằng cử chỉ sử dụng tự nhiên, được xác định để phân tích. Nó thường là một chỉnh thể ngôn ngữ với chức năng giao tiếp có thể xác định được, ví dụ như một cuộc thoại, một tờ áp phích‖ [116: 25].

Nhƣ vậy, Crystal cuối cùng vẫn không thể phân biệt rõ đƣợc hai khái niệm này vì cuối cùng ông vẫn coi VB ―là một đoạn diễn ngôn xuất hiện dƣới dạng nói, viết hoặc ở dạng kí hiệu‖. Cũng phản ánh thực tế này, Phạm Văn Tình (2002) thấy rằng trong nhiều VB, các nhân tố hội thoại và đơn thoại nhiều khi đƣợc hòa trộn vào nhau [98: 30]. Lý giải điều này, Nguyễn Hòa 15 (2008: 33-34) cho rằng: trong văn bản sẽ có cái diễn ngôn, trong diễn ngôn sẽ có cái VB cho nên sự phân biệt trên chỉ mang tính tƣơng đối. Đây không phải là hai thực thể tách biệt mà chỉ là một thực thể biểu hiện của ngôn ngữ hành chức trong bối cảnh giao tiếp xã hội.

Do vậy, việc sử dụng hai khái niệm này thay thế lẫn nhau là một điều dễ hiểu. Tuy nhiên, mặc dù trong thực tế sử dụng, ta không phân biệt giữa diễn ngôn và VB nhƣng khi muốn nhấn mạnh tới mặt hành chức hay mặt hình thức của ngôn ngữ thì vẫn có sự phân biệt. Nhƣ vậy, xuất phát từ góc nhìn cũng nhƣ quan điểm khác nhau nên mỗi nhà nghiên cứu đã đƣa ra các khái niệm VB cũng khác nhau. Mặc dù về cơ bản khái niệm VB và diễn ngôn là đồng nhất nhƣng đi sâu vào chi tiết cho thấy thuật ngữ VB vẫn có ngoại diên rộng hơn phạm vi diễn ngôn.

Luận án này đi theo xu hƣớng: xem xét từ ngữ nối biểu thị ý nghĩa kết quả, tổng kết (từ bình diện cấu trúc - ngữ nghĩa và liên kết – lập luận) đƣợc sử dụng trong các phát ngôn. Đồng thời, luận án cũng khảo sát các phát ngôn chứa từ ngữ nối mang nghĩa kết quả, tổng kết đƣợc sử dụng trong các văn cảnh nhƣng lại đƣợc định dạng bằng VB hiện hữu (ghi lại bằng chữ viết). Vì vậy, để có một khái niệm VB làm việc, luận án tán thành với nhận định của Phạm Văn Tình (2002): Văn bản phải được hiểu theo nghĩa rộng, không chỉ bó hẹp là đặc thù của ngôn ngữ viết - loại hình văn bản được xây dựng theo những định hướng về chủ đề và bố cục nhất định, thoát ly khỏi các bối cảnh giao tiếp bằng lời - mà nó còn là sản phẩm hoàn chỉnh của hành vi phát ngôn và được ghi lại bằng chữ viết [98: 29]. Phân tích văn bản và phân tích diễn ngôn Khi nói đến phân tích VB và phân tích diễn ngôn cũng là đề cập đến hai giai đoạn nghiên cứu của cùng một đối tƣợng: ngôn ngữ học VB.

Giai đoạn đầu, để phân tích VB ngƣời ta căn cứ vào đơn vị tối thiểu là câu, và do VB đƣợc hiểu nhƣ tập hợp câu nên các nhà nghiên cứu sử dụng các phƣơng pháp và lý thuyết của câu theo quan điểm cấu trúc hình thức vào việc nghiên cứu VB và gắn liền với tên gọi ―ngữ pháp văn bản‖. Giai đoạn sau đánh dấu sự chuyển đổi đối tƣợng từ câu sang diễn ngôn, nghĩa là VB đƣợc hiểu nhƣ đơn vị của nghĩa không phải là đơn vị của ngữ pháp nên tên gọi diễn ngôn đƣợc sử dụng nhiều hơn và ―phân tích diễn ngôn‖ đƣợc chọn thay thế cho ―ngữ pháp văn bản‖. Tuy vậy, thuật ngữ ―văn bản‖ vẫn đƣợc dùng khi phân tích bề mặt từ ngữ của sự kiện nói trong phân tích diễn ngôn. Việc giải thích các từ 16 ngữ bằng mối quan hệ của chúng với ngữ cảnh tình huống và ý định của ngƣời nói thuộc về diễn ngôn là một phần quan trọng trong phân tích diễn ngôn, nghĩa là phân tích diễn ngôn là phân tích ngôn ngữ trong hành chức.

Việc hình thành tên gọi và xác định đối tƣợng, phƣơng pháp tiếp cận của ―phân tích văn bản‖ và ―phân tích diễn ngôn‖ đã đƣợc đề cập trong các công trình của Brown và Yule (1983), Guy Cook (1989) và Lyons (1995) về cách hiểu VB (mặt từ ngữ lý giải đƣợc có thể đƣợc diễn đạt bằng chữ viết hoặc âm thanh của một tài liệu ngôn ngữ) và diễn ngôn (nghĩa- logic và chức năng gắn liền với ngữ cảnh hành chức).

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Luận án tiến sĩ "So sánh từ ngữ nối biểu thị kết quả trong tiếng Việt và tiếng Anh qua văn bản khoa học xã hội" mang đến cái nhìn sâu sắc về cách thức sử dụng từ ngữ nối trong hai ngôn ngữ này, đặc biệt trong bối cảnh văn bản khoa học xã hội. Tác giả không chỉ phân tích các từ ngữ nối biểu thị kết quả mà còn chỉ ra sự khác biệt và tương đồng giữa tiếng Việt và tiếng Anh, từ đó giúp người đọc hiểu rõ hơn về cách thức diễn đạt ý tưởng và kết quả trong các văn bản học thuật. Luận án này không chỉ có giá trị về mặt lý thuyết mà còn cung cấp những ứng dụng thực tiễn cho việc viết và dịch thuật trong lĩnh vực khoa học xã hội.

Để mở rộng thêm kiến thức về ngôn ngữ học và các khía cạnh liên quan, bạn có thể tham khảo Luận văn thạc sĩ ngôn ngữ học cấu trúc ngữ nghĩa ngữ dụng của phép nối trong tiếng việt so sánh với tiếng anh, nơi bạn sẽ tìm thấy những phân tích sâu hơn về phép nối trong hai ngôn ngữ. Ngoài ra, Luận án tiến sĩ đối chiếu các đơn vị từ vựng thuộc trường thị giác trong tiếng việt và tiếng anh cũng sẽ giúp bạn hiểu rõ hơn về cách thức diễn đạt ý tưởng qua các đơn vị từ vựng. Cuối cùng, Luận án lời nói giới thiệu và tự giới thiệu trong tiếng việt có liên hệ với tiếng anh sẽ cung cấp thêm thông tin về cách thức giao tiếp và giới thiệu trong hai ngôn ngữ, mở rộng thêm góc nhìn của bạn về ngôn ngữ học.