CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU 1.1 Lý do chọn đề tài Enzyme xanthine oxidase (XO) là một phức hợp metallo-flavoenzyme xúc tác hai bước cuối trong quá trình phân giải purine, cụ thể là biến đổi hypoxanthine thành xanthine và xanthine thành acid uric (Hille, 2006). Nồng độ acid uric trong máu cao là nguyên nhân dẫn đến một số bệnh. Bệnh gout (Thống phong) là biểu hiện lâm sàng của tình trạng tăng acid uric máu, với sự tạo thành các tinh thể acid uric, đặc biệt là ở các khớp (Smalley et al., 2000; Kasper et al. Bên cạnh đó, tăng acid uric trong máu thường kèm theo tăng nguy cơ mắc các bệnh như tim mạch, sỏi thận, đái tháo đường và các hội chứng chuyển hóa khác (Nakanishi et al.
Ngoài ra, hoạt động của enzyme XO cũng là nguyên nhân dẫn tới sự tạo ra nhiều gốc tự do có hại cho cơ thể (Cotelle, 2001; Van et al. Những bệnh có liên quan đến tăng acid uric trong máu đang khá phổ biến và có chiều hướng gia tăng trên thế giới (Li et al., 2017; Naz et al. Ức chế enzyme XO là mục tiêu căn bản trong việc điều trị tăng acid uric trong máu (Terkeltaub, 2003; Pacher et al. Các thảo dược, các hợp chất từ tự nhiên có hoạt tính ức chế enzyme XO ngày càng được quan tâm vì tính an toàn và hiệu quả trong việc phòng trị tăng acid uric trong máu.
Những năm gần đây, nhiều nghiên cứu trên thế giới đã được thực hiện nhằm mục đích tìm kiếm các thảo dược, các hợp chất thiên nhiên có khả năng ức chế enzyme XO (Agustin et al., 2013; Thiombiano et al., 2014; Xu et al. Ở Việt Nam cũng có một số nghiên cứu tìm kiếm những thảo dược có khả năng ức chế enzyme XO (Nguyen et al., 2004; Hoàng thị Thanh Thảo và ctv, 2013). Tuy nhiên, Việt Nam có nguồn thảo dược dồi dào (Đỗ Tất Lợi, 2014). Nhiều thảo dược có tiềm năng vẫn chưa được khảo sát về khả năng ức chế enzyme XO.
Vì vậy, đề tài “Sàng lọc các thảo dược có khả năng ức chế enzyme xanthine oxidase để giảm sự tạo thành acid uric” được thực hiện nhằm xác định thêm một số thảo dược có khả năng ức chế enzyme XO.2 Mục tiêu và nội dung nghiên cứu 1.1 Mục tiêu nghiên cứu Đề tài được thực hiện nhằm đạt được các mục tiêu sau: - Phân lập được enzyme XO từ sữa bò và xác định được các điều kiện phù hợp cho hoạt động của enzyme XO phân lập được. - Xác định được một số thảo dược có khả năng ức chế enzyme XO. 1 - Phân lập và xác định được cấu trúc một số hợp chất có hoạt tính ức chế enzyme XO từ thảo dược. - Đánh giá được tác dụng của thảo dược có hoạt tính ức chế enzyme XO lên nồng độ acid uric trong máu và hoạt tính enzyme XO gan chuột thực nghiệm.2 Nội dung nghiên cứu Nghiên cứu được thực hiện với 4 nội dung chính như sau: (1) Nội dung 1: Chuẩn bị nguồn enzyme XO từ sữa bò.
(2) Nội dung 2: Khảo sát khả năng ức chế enzyme XO in vitro của 8 loại thảo dược. (3) Nội dung 3: Phân lập một số hợp chất có hoạt tính ức chế enzyme XO từ thảo dược. (4) Nội dung 4: Đánh giá ảnh hưởng của cao chiết lên nồng độ acid uric trong máu chuột thực nghiệm.3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 1.1 Đối tượng nghiên cứu Đối tượng nghiên cứu của đề tài là enzyme XO; 8 loại thảo dược bao gồm: Húng chanh (Plectranthus amboinicus (Lour.), kinh giới (Elsholtzia ciliata (Thunb.), cây râu mèo (Orthosiphon stamineus Benth.), cây sương sáo (Mesona chinensis Benth.), dền gai (Amaranthus spinosus L.), nở ngày (Gomphrena globosa L.), nở ngày đất (Gomphrena celosiodes Mart.) và cỏ xước (Achyranthes aspera L.); động vật được sử dụng trong nghiên cứu là chuột nhắt trắng Mus musculus var.2 Phạm vi nghiên cứu Đề tài tập trung nghiên cứu phương pháp phân lập enzyme XO từ nguồn sữa bò ở trường Đại học Cần Thơ, xác định các điều kiện phù hợp cho hoạt động của enzyme XO như pH, nhiệt độ, nồng độ xanthine và nồng độ enzyme XO; khảo sát khả năng ức chế enzyme XO của cao ethanol 8 loại thảo dược; phân lập và xác định cấu trúc một số hợp chất có hoạt tính ức chế enzyme XO từ thảo dược tiềm năng; khảo sát ảnh hưởng của cao chiết thảo dược tiềm năng lên nồng độ acid uric trong máu chuột thực nghiệm.4 Thời gian và địa điểm nghiên cứu 1.1 Thời gian nghiên cứu Đề tài được thực hiện từ tháng 03 năm 2016 đến tháng 11 năm 2018 2 1.2 Địa điểm nghiên cứu Nghiên cứu được thực hiện tại phòng thí nghiệm Sinh-Hoá, Bộ môn Công nghệ Sinh học Phân tử - Viện Nghiên cứu và Phát triển Công nghệ Sinh học; phòng thí nghiệm Sinh học; phòng thí nghiệm Hóa học thuộc Khoa Khoa học Tự nhiên, trường Đại học Cần Thơ.5 Những đóng góp mới của đề tài Đề tài đã có một số đóng góp mới như sau: - Phân lập được enzyme XO từ nguồn sữa bò địa phương có hoạt tính tương đương với hoạt tính của enzyme thương mại. Các điều kiện phù hợp cho hoạt động của enzyme XO đã được xác định.
- Khảo sát được khả năng ức chế enzyme XO của cao chiết 8 loại thảo dược ở đồng bằng sông Cửu Long. Cao chiết ethanol cỏ xước là một đối tượng mới đã được chứng minh có tác dụng ức chế enzyme XO và làm nồng độ acid uric trong máu chuột bị tăng acid uric xuống đạt mức bình thường. Đề tài đã phân lập được 3 hợp chất có khả năng ức chế enzyme XO từ cây cỏ xước. Trong đó, quercitrin có hoạt tính ức chế khá mạnh enzyme XO (IC50 = 37,7 µg/mL).6 Ý nghĩa của luận án Luận án đã mang lại ý nghĩa về mặt khoa học là tạo được cơ sở khoa học về khả năng ức chế enzyme XO của 8 loại thảo dược bao gồm: Húng chanh, kinh giới, cây râu mèo, cây sương sáo, dền gai, nở ngày, nở ngày đất và cỏ xước.
Luận án còn có một ý nghĩa đặc biệt là chứng minh được cao ethanol cỏ xước có hoạt tính ức chế enzyme XO mạnh và có tác dụng làm nồng độ acid uric trong máu chuột bị tăng acid uric giảm xuống đạt mức bình thường. Từ đó, luận án đã mang lại ý nghĩa về mặt thực tiễn là đã gợi ý hướng ứng dụng cây cỏ xước trong phòng trị tăng acid uric trong máu. 3 CHƯƠNG 2: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2.1 Ảnh hưởng của chất ức chế đến hoạt động của enzyme Phương trình động học enzyme là phương trình Michaelis-Menten: V = Vmax [S]/(Km + [S]) V là vận tốc phản ứng, [S] là nồng độ cơ chất. Km là hằng số Michaelis-Menten đặc trưng cho mỗi enzyme.
Km đặc trưng cho ái lực của enzyme với cơ chất, Km có trị số càng nhỏ thì ái lực của enzyme với cơ chất càng lớn, nghĩa là vận tốc của phản ứng do enzyme xúc tác càng lớn. Ý nghĩa thực tiễn của hằng số Michaelis-Menten là ở chỗ nó chính là giá trị của nồng độ cơ chất khi tốc độ phản ứng bằng nửa tốc độ tối đa (Vmax) (Phạm Thị Trân Châu và Phan Tuấn Nghĩa, 2009). Phương trình Michaelis-Menten có dạng đường cong. Năm 1934, trên cơ sở của phương trình Michaelis-Menten, Lineweaver-Burk đã nghịch đảo để biến thành dạng đường thẳng.
1 K 1 1 Phương trình Lineweaver-Burk: m có dạng: V0 Vmax [ S ] Vmax y = ax+b, nó có ý nghĩa lớn đối với việc nghiên cứu ức chế enzyme. Chất ức chế là chất có tác dụng làm giảm hoạt độ hay làm enzyme không còn khả năng xúc tác biến cơ chất thành sản phẩm. Nó có thể là chất ức chế thuận nghịch hay bất thuận nghịch. Ức chế thuận nghịch (reversible inhibition) có thể là cạnh tranh (competitive), không cạnh tranh (uncompetitive) hay hỗn hợp (mixed).
Ức chế cạnh tranh (competitive) Chất ức chế cạnh tranh trực tiếp vào tâm hoạt động của enzyme được gọi là chất ức chế cạnh tranh. Những chất ức chế này thường có cấu trúc giống với cơ chất và làm giảm lượng enzyme tự do (Hình 2. Enzyme Cơ chất Chất ức chế Hình 2.1: Kiểu ức chế cạnh tranh E: enzyme; S: cơ chất; I: chất ức chế; P: sản phẩm 4 Phương trình Lineweaver- Burk khi có chất ức chế cạnh tranh: 1 K m 1 1 (1) V0 Vmax [ S ] Vmax [I ] 1 KI Với [I] là nồng độ của chất ức chế cạnh tranh. KI là hằng số thể hiện ái lực của chất ức chế và enzyme.
Dựa vào phương trình (1) ta thấy: nếu nồng độ cơ chất lớn, nồng độ chất ức chế thấp thì có thể loại bỏ tác dụng của chất ức chế. Đồ thị Lineweaver-Burk biểu thị sự phụ thuộc của tốc độ phản ứng vào nồng độ cơ chất khi có chất ức chế cạnh tranh được trình bày trong Hình 2.2: Đồ thị Lineweaver-Burk của chất ức chế cạnh tranh. Kiểu ức chế cạnh tranh làm cho giá trị Km tăng nhưng giá trị Vmax không thay đổi. Đồ thị Lineweaver-Burk cho thấy đường thẳng có nồng độ chất ức chế càng cao thì có độ xiên càng lớn.
Các đường thẳng không có chất ức chế và có chất ức chế cắt trục tung ở một điểm là 1/Vmax. Phần lớn các chất ức chế cạnh tranh và cơ chất có sự tương đồng về mặt hóa học. Trường hợp đặc biệt của ức chế cạnh tranh là ức chế bằng sản phẩm. Trường hợp này xảy ra khi một sản phẩm phản ứng tác dụng trở lại enzyme và choán vị trí hoạt động của phân tử enzyme.
Ức chế không cạnh tranh (uncompetitive) Ức chế không cạnh tranh là kiểu ức chế mà chất ức chế bám trực tiếp vào phức hợp enzyme-cơ chất nhưng không bám vào enzyme tự do (Hình 2.3: Kiểu ức chế không cạnh tranh E: enzyme; S: cơ chất; I: chất ức chế; P: sản phẩm Phương trình Lineweaver-Burk khi có chất ức chế không cạnh tranh: 1 K 1 ' m (2) V0 Vmax [ S ] Vmax [I ] 1 K I Với [I] là nồng độ chất ức chế. K’I là hằng số thể hiện ái lực của chất ức chế và enzyme. Trong trường hợp này ta thấy khi E kết hợp với S làm thay đổi cấu trúc không gian của phân tử enzyme và tạo trung tâm kết hợp với I, do đó không thể loại bỏ tác dụng ức chế bằng cách tăng nồng độ cơ chất. Đồ thị Lineweaver-Burk biểu thị sự phụ thuộc của tốc độ phản ứng vào nồng độ cơ chất khi có chất ức chế không cạnh tranh được trình bày trong Hình 2.4: Đồ thị Lineweaver-Burk của chất ức chế không cạnh tranh 6 Kiểu ức chế không cạnh tranh làm giảm giá trị Vmax nhưng giá trị Km không thay đổi.