phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo,… nội dung chính của luận án đƣợc kết cấu theo 4 chƣơng: Chƣơng 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu có liên quan đến đề tài luận án Chƣơng 2: Cơ sở lý luận và thực tiễn về quản lý phát triển khu công nghiệp theo hƣớng tăng trƣởng xanh Chƣơng 3: Thực trạng quản lý phát triển các khu công nghiệp theo hƣớng tăng trƣởng xanh tại tỉnh Thanh Hóa Chƣơng 4: Giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý phát triển các khu công nghiệp theo hƣớng tăng trƣởng xanh ở tỉnh Thanh Hóa 7 Chƣơng 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU CÓ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI 1. Các công trình nghiên cứu ở nƣớc ngoài 1. Các nghiên cứu về khu công nghiệp và quản lý phát triển khu công nghiệp KCN là một trong những mô hình cụ thể của loại hình đặc khu kinh tế trên thế giới. Trong thập kỷ 70, 80 của thế kỷ 20, hàng loạt quốc gia đã rầm rộ xây dựng KCN để đón nhận làn sóng đầu tƣ ào ạt từ các quốc gia có lợi thế về vốn, công nghệ, thị trƣờng… vào công nghiệp.
Trong khi nhiều quốc gia, vùng lãnh thổ gặt hái đƣợc những kết quả rất đáng khích lệ từ phát triển KCN (nhƣ Thụy Điển, Ấn Độ, Ai Cập, Đài Loan…) thì không ít quốc gia khác lại không đạt đƣợc nhƣ vậy, thậm chí thất bại. Đây là một trong những nguyên nhân khiến nhiều quốc gia đã không mặn mà với mô hình KCN, tìm kiếm mô hình khác thích hợp và hiệu quả hơn, trong đó: Hàn Quốc nghiên cứu và thực hiện phát triển theo mô hình KCN tập trung (thu hút các doanh nghiệp nhỏ và vừa trong nƣớc đầu tƣ vào các ngành công nghiệp, dịch vụ), mô hình KKT mở (qui mô rất lớn về không gian và địa bàn, đa dạng về ngành nghề, trong đó công nghiệp đƣợc chú trọng để khuyến khích các doanh nghiệp trong nƣớc và nƣớc ngoài đầu tƣ). - Michael Porter, giám đốc trung tâm chiến lƣợc và cạnh tranh, giáo sƣ Đại học Harvard (Mỹ) trong cuốn sách Cluster and the new Economics of Competition [129] và trong nhiều bài báo, bài phát biểu đã nghiên cứu về KCN, khi phân tích tính cạnh tranh của nền kinh tế, Michael Porter đã đặc biệt nhấn mạnh đến cụm hay KCN. Cụm ngành công nghiệp là khái niệm học thuật, khác với khái niệm Cụm công nghiệp ở Việt Nam, là hình thức tổ chức gần giống với KCN.
Theo ông, cụm hay KCN ―Các cụm là sự tập trung về mặt địa lý của các công ty đƣợc kết nối với nhau, các nhà cung cấp chuyên biệt, các nhà cung cấp dịch vụ, các công ty trong các ngành liên quan và các tổ chức liên kết (ví dụ: quan hệ, cơ quan tiêu chuẩn, hiệp hội thƣơng mại) trong một lĩnh vực cụ thể cạnh tranh nhƣng cũng hợp tác. Định nghĩa của Michael Porter, có hai yêu cầu cốt lõi: Một là, các doanh nghiệp trong một cụm liên kết với nhau theo nhiều cách, bao gồm cả liên kết dọc (mạng lƣới cung ứng, sản xuất và phân phối), lẫn liên kết ngang (các sản phẩm và dịch vụ bổ sung. Hai là, đặc trƣng chủ yếu là hoàn cảnh địa lý, các cụm đƣợc bố trí tập trung về không gian, các hãng có quan hệ với nhau. Cùng địa điểm sẽ khuyến khích hình thành và tăng thêm giá trị, từ đó những hệ thống quản lý trực tiếp hoặc gián tiếp tác động tƣơng hỗ giữa các doanh nghiệp.
Micheal Porter đã xem xét KCN từ góc độ cạnh tranh và chính sách quản lý nhà nƣớc. Ý tƣởng chủ đạo mà Michael Porter đƣa ra là năng lực cạnh tranh của một quốc gia hay một khu vực phụ thuộc vào năng lực cạnh tranh của các ngành công 8 nghiệp và các doanh nghiệp. Theo Michael Porter, các KCN nắm giữ các mối liên kết quan trọng, có sự bảo trợ và lan toả về công nghệ, kỹ năng, thông tin marketing và nhu cầu của khách hàng liên quan đến mọi doanh nghiệp và ngành công nghiệp. Những lợi thế này cho phép các doanh nghiệp có năng suất cao hơn và khả năng đổi mới lớn hơn, từ đó tăng khả năng cạnh tranh của mình.
Có hai lý do căn bản để đƣa các nhà máy tập trung trong KCN. Thứ nhất, việc cung cấp cơ sở hạ tầng chức năng dễ dàng hơn trong việc lên kế hoạch trong một không gian hạn chế về mặt địa lý, đặc biệt là đối với các chính phủ gặp phải sự hạn chế về phân phối. Thứ hai, sự tập trung của các công ty có thể tạo ra những tác động lan tỏa đáng kể cả bên trong và bên ngoài KCN: Sự lan truyền thông tin, bao gồm kiến thức và công nghệ; chuyên môn, phân công lao động giữa các doanh nghiệp; sự phát triển của thị trƣờng lao động có kỹ năng; và sự phát triển của các thị trƣờng quanh KCN [145]. Mô hình chung của một khu công nghiệp là tập hợp tập trung của các công ty hoạt động trên một cơ sở hạ tầng ―cứng‖.
Ngoài ra, một số hình thức khác nhau đã đƣợc phát triển, hầu hết liên quan đến các tính năng quản lý bổ sung, thƣờng đƣợc áp dụng là để bỏ qua các môi trƣờng kinh doanh không đƣợc hỗ trợ, do khu vực "hạn chế" tạo ra. Trong trƣờng hợp đó, cụm từ/khái niệm đƣợc sử dụng là "Khu kinh tế đặc biệt" (Special Economic Zones - SEZs). Các ví dụ về các biến thể này có thể kể đến nhƣ: Khu "thuế quan" (cung cấp các ƣu đãi về thuế); Khu công nghệ; Khu "xanh"; "Khu chế xuất"; Và nhiều loại khu khác. Trong nghiên cứu này, "khu công nghiệp" sẽ đƣợc sử dụng theo nghĩa chung nhất, tức là liên quan đến việc cung cấp cơ sở hạ tầng chung cho một nhóm các công ty công nghiệp trong một khu vực phân định, trong khi các hình thức liên quan đến các biện pháp bổ sung hoặc các biện pháp khác sẽ đƣợc nhắc tên một cách cụ thể.
Trong bất kỳ biến thể nào, các khu công nghiệp trên lý thuyết là một công cụ nhằm phát triển cụm ngành công nghiệp (industrial clusters), tập trung các doanh nghiệp liên kết với nhau trong một lĩnh vực cụ thể. Các cụm nhƣ vậy có thể hình thành "hữu cơ" hoặc có thể là mục tiêu của các chính sách có chủ ý. Việc theo đuổi hoạt động phát triển các cụm ngành công nghiệp nhƣ vậy, giống nhƣ của các khu công nghiệp, có thể là một mục tiêu chính sách gây tranh cãi. Một mặt, sự gia tăng các cụm công nghiệp thƣờng đƣợc coi là động lực thúc đẩy tăng trƣởng nhanh của Trung Quốc.
Nhiều cụm nổi lên một cách tự phát, nhƣng chính phủ (đặc biệt là chính quyền địa phƣơng) cũng cung cấp sự hỗ trợ rất quan trọng cho sự phát triển của họ [110]. Mặt khác, phát triển cụm công nghiệp, khu công nghiệp và các khu vực nói riêng cũng đã bị chỉ trích. Đã có những tranh luận về đất đai đƣợc giao để xây dựng 9 khu công nghiệp, cụm công nghiệp, đôi khi ở quy mô lớn, đặc biệt là khi các khu bị trì hoãn lâu hoặc hầu nhƣ không tiến hành xây dựng, gây ra những cáo buộc về đầu cơ đất đai. Điều này cho thấy thực trạng rất khó chứng minh tính hiệu quả của việc xây dựng khu, cụm nhƣ vậy.
Nghĩa là hoạt động trong các KCN sẽ không xảy ra nếu không có công trình xây dựng và tiền công đã đƣợc dành để hỗ trợ. Những lời chỉ trích sau này đƣợc dấy lên mạnh mẽ nhất đối với các chính sách không chỉ cung cấp tiền công cho xây dựng KCN mà còn từ bỏ các khoản thu nhập dƣới hình thức thuế hoặc áp dụng các quy định cụ thể nhƣ luật lao động lỏng lẻo để thu hút đầu tƣ. Công trình nghiên cứu của D.Deutz [101] cho rằng mặc dù nhận đƣợc sự đồng thuận rộng rãi của vấn đề tăng trƣởng xanh và phát triển bền vững trong các diễn đàn quốc tế nhƣng trên thực tế, việc đạt mục tiêu về kịch bản ―win - win - win‖ (cùng thắng) về các mặt phát triển kinh tế, môi trƣờng và xã hội vẫn là một vấn đề nan giải. Những ngƣời ủng hộ phát triển về công nghiệp sinh thái cho rằng việc dịch chuyển trong chuỗi sản xuất công nghiệp từ một đƣờng thẳng đến hệ thống khép kín sẽ giúp đạt đƣợc mục tiêu trên.
Những năm gần đây, các khái niệm vạch ra từ công nghiệp sinh thái đã đƣợc sử dụng để xây dựng, quản lý nhà nƣớc các KCN nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp, giảm rác thải và ô nhiễm, tạo việc làm và cải thiện điều kiện làm việc đƣợc xem nhƣ là một giải pháp góp phần theo định hƣớng tăng trƣởng xanh. Tác giả nhấn mạnh vào các vấn đề nan giải nảy sinh trong công tác quản lý nhà nƣớc các KCN ở Mỹ. Tuy nhiên, các nghiên cứu này mới chỉ nghiên cứu hoạt động quản lý nhà nƣớc các KCN dƣới góc độ kinh tế và môi trƣờng mà chƣa xem xét đến các vấn đề xã hội một cách thỏa đáng. Việc qui hoạch các KCN tập trung qua đó thu hút các nhà đầu tƣ xây dựng hạ tầng KCN và áp dụng các cơ chế ƣu đãi cho các doanh nghiệp đầu tƣ hoạt động trong KCN sẽ tạo điều kiện thúc đẩy sản xuất công nghiệp địa phƣơng và tăng khả năng quản lý nhà nƣớc đối với các hoạt động sản xuất trong KCN.
Bên cạnh đó, phát triển KCN sẽ giúp thúc đẩy hoạt động chuyển giao, đổi mới công nghệ sản xuất. Nghiên cứu của Susan M.Walcott [149] đã xem xét vai trò các KCN Trung Quốc trong việc thu hút các công nghệ hiện đại để sản xuất các hàng hóa có chất lƣợng đƣa ra thị trƣờng trong nƣớc và quốc tế. Công trình này đƣa ra các lập luận dựa trên các lý thuyết về liên kết KCN trong bối cảnh của nƣớc này với các khác biệt ở các địa phƣơng khác nhau, từ Tây An ở phía Tây tới Bắc Kinh ở phía Bắc, Tô Châu - Thƣợng Hải ở duyên hải và Thâm Quyến - Quảng Đông ở Đông Nam. Quản lý, phát triển các KCN để thu hút và quản lý hoạt động của các nhà đầu tƣ chủ yếu trong lĩnh vực sản xuất công nghiệp đƣợc xem là một xu thế vận động mang tính qui luật và phù hợp với mục tiêu phát triển kinh tế nhanh đi đôi với công tác bảo 10 vệ môi trƣờng của nhiều nƣớc trên thế giới.
Công trình ―The application of industrial ecology principles and planning guidelines for the development of eco - industrial parks: an Australian case study‖ [143] đƣa ra quan niệm mới trong quản lý nhà nƣớc các KCN theo hƣớng phát triển KCN sinh thái với các tiêu chí cụ thể và minh chứng trong điều kiện của Úc.