Chương 1 TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU VỀ QUẢN LÝ PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG CÁC KHU CÔNG NGHIỆP 1. Tổng quan các công trình nghiên cứu đã công bố liên quan đến quản lý phát triển bền vững các khu công nghiệp 1. Tổng quan các công trình nghiên cứu đã công bố ở nước ngoài 1. Các nghiên cứu về phát triển bền vững Quốc gia, phát triển bền vững công nghiệp Thuật ngữ “Phát triển bền vững” được chính thức công bố trong Báo cáo Brundtland năm 1987, từ đó đến nay chủ đề này đã trở thành một nội dung được rất nhiều quốc gia trên thế giới quan tâm.
Tổng hợp các tài liệu được công bố trên thế giới, tác giả nhận thấy có một số công trình nghiên cứu tiêu biểu sau đây: Hội đồng thế giới về môi trường và phát triển của Liên hợp quốc (WCED) (1987), “Tương lai của chúng ta” (Our common future) đã phân tích các nguy cơ và thách thức đe doạ sự PTBV của các quốc gia trên thế giới. Trong đó, có khái niệm về PTBV là “sự đáp ứng nhu cầu của thế hệ hiện tại mà không gây trở ngại cho các thế hệ mai sau” đang được sử dụng rộng rãi hiện nay. Estes (1993), “Hướng tới phát triển bền vững: Từ lý thuyết đến hành động” là khái niệm phát triển bền vững đại diện cho một đóng góp cơ bản và lâu dài về lý thuyết và thực tiễn phát triển. Trong bài báo của mình, tác giả đã làm rõ: (i) Ý nghĩa của phát triển bền vững; (ii) Xác định những cách tiếp cận khác nhau liên quan đến khái niệm phát triển bền vững; (iii) Nhấn mạnh các giá trị cơ bản và mục tiêu của khái niệm; (iv) Xác định những cản trở chủ yếu liên quan đến thực tiễn phát triển bền vững; (v) Phân tích một số bất ổn liên quan đến sự phát triển tiếp tục của khái niệm.
Cuối cùng, tác giả đề xuất chương trình hành động để phát triển bền vững trên toàn cầu [93]. Atkinson và các cộng sự (1999), tác giả cho rằng có 6 hệ thống chỉ tiêu cho phát triển bền vững, được chia thành 3 nhóm: hệ thống con người; hệ thống hỗ 6 trợ; và hệ thống tự nhiên. Trong đó: “Hệ thống con người = phát triển cá nhân + hệ thống xã hội + hệ thống chính phủ”; “Hệ thống hỗ trợ = hệ thống kinh tế + hệ thống cơ sở hạ tầng”; “Hệ thống tự nhiên = môi trường và hệ thống tài nguyên”. Ba nhóm hệ thống trên đây tương ứng với ba nguồn vốn thường được sử dụng trong phân tích toàn bộ hệ thống, đó là: vốn con người (Human capital); vốn cấu trúc (Structural capital); vốn tự nhiên (Natural capital) [80].
O’Connor M (2006), lại có cách tiếp cận khác với Mayer khi trình bày quan điểm hệ thống tổng thể về phát triển bền vững. Trong nghiên cứu của mình, O'Connor đề xuất một mô hình tứ giác như là "Bốn trụ cột" cho phát triển bền vững. O'Connor cho rằng "phát triển bền vững được đặc trưng là sự gắn kết phát triển (coevolution) của hệ thống gồm: Kinh tế (Economic organisation), Xã hội (Social organisation) và Hệ tự nhiên/Môi trường (Natural Systems organisation), được thể hiện bằng các mục tiêu chất lượng/hoạt động liên quan đến mỗi một lĩnh vực". Lĩnh vực thứ tư là hệ thống quy định thông qua lĩnh vực Chính trị (System Regulation via Political organisation), được tác giả định nghĩa là những quy định có vai trò điều chỉnh hoạt động của lĩnh vực kinh tế và lĩnh vực xã hội và những mối quan hệ song hành với lĩnh vực môi trường [90].Jalal và John A.
Simon Bell và Stephen Morse (2008), “Các chỉ số phát triển bền vững: đo lường những thứ không thể đo” (Sustainability Indicators: Measuring the Immeasurable) đã đóng góp về lý luận và thực tiễn trong việc sử dụng các chỉ số PTBV. Các tác giả giới thiệu hệ thống các quan điểm và một loạt công cụ, kỹ thuật có khả năng giúp làm sáng tỏ hơn những vấn đề phức tạp trên cơ sở tiếp cận định tính hơn là tiến hành các biện pháp đo lường định lượng [94]. Nhiều chỉ tiêu kinh tế, xã hội và môi trường hiện có đã cho thấy tính bền vững hệ thống. Mayer đã đề xuất có thể đánh giá phát triển bền vững theo 4 chiều được đặt trong một hệ trục tọa độ gồm trục tung là chiều kinh tế (economic dimensions); trục hoành là thời gian (time).
Các chiều khác trong hệ tọa độ này gồm có: công nghệ (technological dimensions); sinh thái (ecological dimensions); Pháp luật/xã hội (legal/social dimensions). Khi hệ thống quỹ đạo (system trajectory) cân bằng giữa các chiều thì đạt tới sự bền vững (sustainable). Còn nếu có hiện tượng thảm họa (catastrophic event) cắt hệ thống quỹ đạo ở một điểm giữa của chiều kinh tế và chiều công nghệ thì sẽ không đạt được sự bền vững (not sustainable) [87]. Các nghiên cứu về phát triển bền vững khu công nghiệp Phát triển KCN tập trung để thu hút và quản lý hoạt động của các nhà đầu tư chủ yếu trong lĩnh vực SXCN được xem là một xu thế vận động mang tính quy 8 luật và phù hợp với mục tiêu phát triển kinh tế nhanh và công tác bảo vệ môi trường của nhiều nước trên thế giới.Walcott (2003),“Chinese Science and Technology Industrial Parks” đã xem xét vai trò của KCN Trung Quốc trong việc thu hút công nghệ hiện đại để sản xuất hàng hóa có chất lượng đưa ra thị trường trong nước và quốc tế.
Đồng thời đưa ra lập luận dựa trên các lý thuyết về liên kết KCN trong bối cảnh của nước này với khác biệt ở các địa phương khác nhau, từ Tây An ở phía Tây tới Bắc Kinh ở Phía Bắc, Tô Châu-Thượng Hải ở Duyên Hải và Shenzhen-Dongguan ở Đông Nam. Bên cạnh đó, việc phát triển sản xuất trong các KCN sẽ có tác động lan tỏa thúc đẩy sự phát triển của các vùng lân cận và của toàn bộ nền kinh tế quốc dân. Thực tế đã chứng minh sự thành công trong việc phát triển các KCN của nhiều quốc gia và vùng lãnh thổ trên thế giới như: Trung Quốc, Malaysia, Philippine, Thái Lan, Đài Loan…đã đưa ra các phương án quy hoạch KCN theo mô hình PTBV bằng chính sách ưu đãi khác nhau theo từng vùng. Các KCN của Thái Lan được chia thành 3 vùng: vùng I bao gồm BawngKok và 5 tỉnh lân cận, vùng II bao gồm 12 tỉnh tiếp theo và vùng III bao gồm 58 tỉnh còn lại.
Các ưu đãi tài chính được tập trung nhiều nhất cho vùng III. Nhiều ngành công nghiệp không được pháp đầu tư vào vùng I mà chỉ được phép đầu tư vào vùng II và vùng III [96] Park, Joon and Ahn, Kun-hyuck (2003),“How did immigrant workers change residential area near industrial estate in Korea” đã tiến hành nghiên cứu tại Wongok ở Ansan, một thành phố công nghiệp điển hình ở Hàn Quốc. Tác giả chỉ ra sự tăng lên nhanh chóng các giấy phép xây dựng cho Wongok kể từ năm 1998, đồng thời là sự tăng lên của dòng người nhập cư tới KCN. Sự gia tăng nhanh chóng cuardaan cư trong khu vực buộc Wongok phải mở rộng khu dân cư, kéo theo sự phát triển bùng nổ nhà ở cho người nhập cư, các dịch vụ mới cũng bắt đầu phát triển.
Các khu vực xung quanh khu CN cũng phát triển năng động hơn, cùng với đó là sự phát triển đa dạng các loại hình văn hóa, ý thức bản sắc văn hóa của cộng đồng được thiết lập. Vấn đề ô nhiễm môi trường cũng được đặt ra và xử lý 9 bằng cách khuyến khích các DN trong KCN cải tiến công nghệ sản xuất vừa nâng cao năng suất vừa giảm ô nhiễm môi trường. Hợp tác giữa các bộ, nghành kéo theo chương trình quốc gia chuyển đổi các KCN thành các KCN sinh thái [91].Roberts Elsevier (2004),“The application of industrial ecology principles and planning guidelines for the development ò eco-industrial parks: an Australian case study” - “Ứng dụng các nguyên tắc sinh thái công nghiệp và hướng dẫn lập kế hoạch phát triển các khu sinh thái công nghệ: một mô hình nghiên cứu của Úc”, đã đưa ra quan niệm mới trong PTBV KCN theo hướng phát triển KCN sinh thái với các tiêu chí cụ thể và minh chứng trong điều kiện của Úc. Mặc dù KCN sinh thái vẫn còn được xem như là khái niệm mới mẻ đối với nhiều doanh nghiệp, chính quyền địa phương và cả công đồng của nước này.
Tương tự như KCN truyền thống, KCN sinh thái được thiết kế cho phép các DN chia sẻ chung cơ sở hạ tầng để thúc đẩy sản xuất và giảm chi phí đặc biệt là giảm các chi phí liên quan đến các nguồn tài nguyên không thể tái tạo, tiêt kiệm tiêu hao nguyên nhiên vật liệu [81]. Jan Harmsen Joseph B.Powell, “Phát triển bền vững trong các ngành công nghiệp” đã cung cấp một bức tranh tổng quát và đưa ra các giải pháp nhằm thúc đẩy các DN công nghiệp tiếp tục phát triển trước những thách thức về môi trường và xã hội trong sản xuất, từ việc tổng quan các định nghĩa về PTBV, các tác giả đã khẳng định được vai trò cũng như ảnh hưởng của phát triển công nghiệp đối với PTBV. Với những nghiên cứu định lượng của trường hợp cụ thể trong các ngành hóa chất, dầu khí, sản xuất vật liệu và khai thác khoáng sản, cuốn sách giới thiệu cách thức cho các DN lớn, vừa và nhỏ sử dụng hiệu quả tài nguyên thông qua việc hợp tác giữa các ngành công nghiệp khác nhau để đạt được sự phát triển theo quan điểm PTBV trên cả 3 mặt: Kinh tế, xã hội và môi trường [84]. Những người ủng hộ phát triển về công nghiệp sinh thái cho rằng việc dịch chuyển chuỗi sản xuất công nghiệp từ một đường thẳng đến một hệ thống khép kín sẽ đạt được mục tiêu trên.
Những năm gần đây, các khái niệm vạch ra từ công nghiệp sinh thái đã được sử dụng để xây dựng các KCN nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp, giảm rác thải và ô nhiễm môi trường, tạo việc làm và cải thiện điều kiện làm việc. Trong đó tập trung nghiên cứu phát triển các KCN dưới góc độ Kinh tế và môi trường, mối liên hệ lẫn nhau giữa hai yếu tố này mà chưa nhấn mạnh đến các vấn đề xã hội trong quan điểm PTBV. Các nghiên cứu về quản lý nhà nước đối với các khu công nghiệp Michael Porter, giám đốc trung tâm chiến lược và cạnh tranh, giáo sư Đại học Harvard (Mỹ) trong cuốn sách Cluster and the new Economics of Competition và trong nhiều bài báo, bài phát biểu đã nghiên cứu về KCN, khi phân tích tính cạnh tranh của nền kinh tế, Michael Porter đã đặc biệt nhấn mạnh đến KCN [88].