phần mở đầu, danh mục công trình công bố của tác giả, tài liệu tham khảo và kết luận, luận án đƣợc kết cấu theo 4 chƣơng: Chƣơng 1: Tổng quan các công trình nghiên cứu đã công bố liên quan đến quản lý nhà nƣớc về phát triển cơ sở hạ tầng logistics Chƣơng 2: Những vấn đề lý luận về quản lý nhà nƣớc đối với phát triển cơ sở hạ tầng logistics Chƣơng 3: Thực trạng quản lý nhà nƣớc đối với phát triển cơ sở hạ tầng logistics tại Hải Phòng Chƣơng 4 : Phƣơng hƣớng và giải pháp hoàn thiện quản lý nhà nƣớc đối với phát triển cơ sở hạ tầng logistics tại Hải Phòng 8 Chƣơng 1 TỔNG QUAN CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU ĐÃ CÔNG BỐ LIÊN QUAN ĐẾN QUẢN LÝ NHÀ NƢỚC VỀ PHÁT TRIỂN CƠ SỞ HẠ TẦNG LOGISTICS 1. Tổng quan các công trình nghiên cứu khoa học đã công bố trong và ngoài nƣớc về quản lý nhà nƣớc đối với phát triển cơ sở hạ tầng logistics 1. Các công trình nghiên cứu trong nước Thứ nhất : các công trình tiếp cận khái quát logistics Ở Việt Nam, Luật Thƣơng mại năm 2005 (Điều 233) lần đầu tiên khái niệm về dịch vụ logistics đƣợc pháp điển hóa “Logistics là một hoạt động thương mại do các thương nhân tổ chức thực hiện một hoặc nhiều công đoạn bao gồm nhận hàng, vận chuyển, lưu kho bãi, làm thủ tục hải quan và các loại giấy tờ, tư vấn khách hàng, đóng gói, giao hàng hoặc các dịch vụ khác có liên quan đến hàng hóa để hưởng phí thù lao”. Cuốn sách chuyên về logistics đƣợc công bố ở Việt Nam có thể kể đến là “Logistics - Những vấn đề cơ bản”, do tác giả Đoàn Thị Hồng Vân chủ biên (Nhà xuất bản Lao động - xã hội 2003), trong cuốn sách này, các tác giả tập trung vào giới thiệu những vấn đề lý luận cơ bản về logistics nhƣ khái niệm, lịch sử hình thành và phát triển của logistics, phân loại logistics, kinh nghiệm phát triển logistics của một số quốc gia trên thế giới.
Sau đó, các tác giả trên đã giới thiệu cuốn “Quản trị logistics” (Nhà xuất bản Thống kê, 2006), cuốn sách tập trung vào những nội dung của quản trị logistics nhƣ khái niệm quản trị logistics, các nội dung của quản trị logistics nhƣ dịch vụ khách hàng, hệ thống thông tin, quản trị dự trữ, quản trị vật tƣ, vận tải, kho bãi. Cả 2 cuốn sách chủ yếu tập trung vào các vấn đề lý luận về logistics và quản trị logistics, tuy nhiên, những nội dung thực tiễn của logistics còn rất hạn chế, chủ yếu dừng ở mức giới thiệu nội dung thực tiễn tƣơng ứng (dịch vụ khách hàng, hệ thống thông tin, kho bãi) của một số doanh nghiệp Việt Nam và chƣa đề cập đến nội dung hệ thống logistics. Trong nghiên cứu “Hệ thống logistics trong tiến trình phát triển kinh tế nhanh và bền vững tại vùng kinh tế trọng điểm miền Trung” các tác giả Đặng Đình Đào, Trƣơng Tấn Quân và cộng sự (2020) cho rằng một trong những yếu tố quan trọng để phát triển logistics, đặc biệt là logistics toàn cầu là phải phát triển hệ thống logistics đồng bộ trên các yếu tố cơ bản của môi trƣờng logistics, trong đó đặc biệt là cơ sở hạ 9 tầng logistics với hệ thống kho tàng bến bãi,trang thiết bị, phƣơng tiện vận chuyển, đầu tƣ xây dựng mạng lƣới hiện đại, xây dựng thị trƣờng bất động sản logistics, đề cập đến việc cần phải tăng cƣờng QLNN đối với phát triển cơ sở hạ tầng logistics… Tác giả Đặng Đình Đào và Trƣơng Tấn Quân trong cuốn “Giáo trình quản trị hoạt động logistics và thương mại doanh nghiệp” (năm 2020) đã đánh giá Việt Nam chƣa tập trung phát triển hệ thống logistics để hình thành môi trƣờng logistics cho phát triển kinh tế bền vững phát triển logistics. Thị trƣờng logistics tại Việt Nam chƣa phát triển, cơ sở hạ tầng “phần cứng”, “phần mềm” cho phát triển logistics còn rất hạn chế.
Trong các chính sách và kế hoạch phát triển hầu nhƣ ngành logistics chƣa đƣợc để cập ở cấp quốc gia cũng nhƣ ngành và địa phƣơng. Trong nghiên cứu “Nâng cao hiệu quả dịch vụ logistics tại cảng biển Việt Nam” – Tạp chí kinh tế dự báo (số 08 tháng 04/2013) của Đoàn Văn Tạo đề cập đến hệ thống dịch vụ logistics cảng biển đối với phát triển kinh tế xã hội của các địa phƣơng, đặc biệt là những địa phƣơng có lợi thế và cảng biển. Đối với vùng kinh tế trọng điểm Bắc bộ, việc phát triển hệ thống dịch vụ logistics cảng biển có một vai trò quan trọng, cùng với hệ thống logistics quốc gia góp phần thúc đẩy tăng trƣởng kinh tế nhanh và bền vững. Điều này đòi hỏi Vùng kinh tế trọng điểm Bắc bộ cần có kế hoạch xây dựng và phát triển logistics cảng biển phù hợp với quá trình hội nhập và phát triển của địa phƣơng và cả nƣớc.
Tác giả Nguyễn Thị Diệu Chi trong bài viết “Phát triển logisitics xanh cho tăng trưởng bền vững – Tạp chí VLR: Việt Nam logistics Review, 143 -9/2019 đã đánh gía vai trò của logistics xanh đối với sự phát triển kinh tế của đất nƣớc và vùng lãnh thổ. Bài viết cũng đã đề cập đến tình hình logistics trong thời kỳ đổi mới đối và những vấn đề đặt ra và giải pháp phát triển logisitics xanh là để nâng cao năng lực cạnh tranh của hệ thống logistics quốc gia và vùng lãnh thổ đòi hỏi phải tiếp tục quan tâm phát triển, đặc biệt là quản lý và đầu tƣ xây dựng bất động sản logistics ở các địa phƣơng Kỷ yếu hội thảo quốc tế về đề tài KX01.29/16-20 lần 2: Thực trạng và giải pháp phát triển hệ thống logistics Quốc gia và vùng KTTĐMT. NXB Lao động Xã hội 2019-tại ĐH Quy Nhơn với 62 bài nghiên cứu đề cập sâu sắc đến các vấn đề lý luận và thực tiễn hệ thống logistics vùng KTTĐMT, làm rõ hơn bản chất hệ thống logistics quốc gia, QLNN đối phát triền CSHT logistics, các yếu tố cấu thành,tình hình hệ thống logistics tại vùng KTTĐMT, đánh giá những kết quả cũng nhƣ những hạn chế trong phát triển nhằm thúc đẩy tăng trƣởng kinh tế nhanh và bền vững. 10 Trong một công trình tại Hội thảo khoa học quốc gia (2019)“ Thực trạng và giải pháp phát triển hệ thống logistics Quốc gia và vùng KTTĐMT “.
NXB Lao động - Xã hội của Đặng Hà Giang và Công sự trong bài viết “Phát triển hệ thống logistics vùng KTTĐMT – Giải pháp quan trọng trong phát triển kinh tế nhanh và bền vững” đã khẳng định vai trò hệ thống logistics trong việc phát triển kinh tế hàng hóa đối với vùng KTTĐMT, đặc biệt là các tỉnh nằm trên nhiều hành lang kinh tế. Để thu hút lƣợng hàng hóa qua cảng biển Việt Nam đối với Lào và các tỉnh vùng Thái Lan thì các tuyến hành lang kinh tế trong vùng là tuyến đƣờng hiệu quả, vận chuyển hàng hóa đến với các nƣớc thông qua cảng Quy Nhơn ,cảng Tiên Sa – Đà Nẵng. Vì vậy, phát triển hệ thống logistics có vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy tăng trƣởng kinh tế của các tỉnh trên các hành lang kinh tế của vùng, xây dựng hệ thống các trung tâm logistics khoa học, phát triển thị trƣờng bất động sản logistics. Theo Nguyễn Thị Xuân Hƣơng, Đặng Thị Thúy Hồng cùng các cộng sự trong cuốn sách chuyên khảo "Hệ thống logistics ở nước ta trong tiến trình hội nhập và phát triển" (năm 2017).
Các tác giả đã nhấn mạnh: trong nền kinh tế thị trƣờng, hệ thống logistics quốc gia là tổng thể khung thể chế pháp luật, cơ sở hạ tầng, các doanh nghiệp logistics và các doanh nghiệp sử dụng dịch vụ logistics có một vai trò rất quan trọng trong việc nâng cao năng lực cạnh tranh và hội nhập của nền kinh tế. Vì vậy, muốn nâng cao chất lƣợng, hiệu quả, phát triển kinh tế nhanh và bền vững ở Việt Nam, không thể không xây dựng và phát triển bền vững hệ thống logistics và tăng cƣờng QLNN đối với hệ thống này, nhất là trong bối cảnh Việt Nam đã mở của thị trƣờng dịch vụ logistics trong ASEAN và WTO. Tác giả Nguyễn Văn Chƣơng đã bảo vệ đề tài cấp Bộ “Nghiên cứu nhiệm vụ quản lý nhà nước và giải pháp khuyến khích doanh nghiệp phát triển logistics trong ngành giao thông vận tải”, mã số ĐT084020. Đây là đề tài chuyên sâu về nghiên cứu quản lý nhà nƣớc về các dịch vụ logistics trong các doanh nghiệp ngành giao thông vận tải.
Đề tài đã đánh giá thực trạng phát triển logistics trong các doanh nghiệp vận tải và trên cơ sở đó, đề tài đề xuất một số giải pháp cơ bản nhằm tăng cƣờng quản lý nhà nƣớc và khuyến khích các doanh nghiệp vận tải phát triển dịch vụ logistics. Tuy nhiên, đề tài mới chỉ dừng lại ở góc độ quản lý nhà nƣớc và trong lĩnh vực cụ thể là giao thông vận tải mà chƣa đề cập toàn diện đến phát triển CSHT logistics và doanh nghiệp logistics trong nền kinh tế quốc dân. 11 Thứ hai: các công trình tiếp cận QLNN về phát triển logistics và sự cần thiết phải tăng cường QLNN Bài viết: “Đề xuất xây dựng trung tâm dịch vụ hậu cần cảng biển tại khu vực cảng biển Hải Phòng” của TS. Đặng Công Xƣởng đăng trên tạp chí Khoa học và Công nghệ Hàng hải Số 28 – 11/2011 đã làm rõ các dịch vụ hậu cần cảng biển là những công việc liên quan đến cung ứng hàng hóa phục vụ các loại phƣơng tiện bến cảng nhằm mục đích luân chuyển hàng hóa thuận lợi, nhanh chóng và đạt hiệu quả.
Trung tâm dịch vụ hậu cần cảng là một khu vực đƣợc trang bị cơ sở vật chất và kết nối với hệ thống giao thông ở địa bàn và khu vực, tạo thuận lợi tối đa cho vận tải và phân phối hàng hóa. Nhƣ vậy, ý tƣởng xây dựng một trung tâm logistics để thực hiện các dịch vụ này và triển khai các hoạt động kinh doanh nhƣ là một mô hình kinh doanh mang lại thu nhập, tạo công ăn việc làm, thực hiện liên kết kinh tế là cần thiết. Theo tác giả Đan Đức Hiệp trong bài “Xây dựng Hải Phòng trở thành trung tâm kinh tế mạnh là đầu tàu kéo kinh tế vùng phát triển”, khẳng định Hải Phòng là thành phố cảng biển, cửa chính ra biển của các tỉnh phía Bắc, cực tăng trƣởng vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ đầu mối giao thông quan trọng về đƣờng bộ, đƣờng sắt, đƣờng hàng không và đƣờng biển quan trọng của cả nƣớc và quốc tế, gắn kết với các tỉnh thành trong nƣớc. Nhƣ vậy, sự cần thiết một trung tâm logistics để tập trung các hoạt động này và khai thác hiệu quả các dịch vụ cảng biển là điều cần thiết.