Tổng quan luận án

Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu

Dịch vụ hành chính công (DVHCC) là loại hình dịch vụ gắn liền với hoạt động thực thi pháp luật của nhà nước, xuất phát từ yêu cầu quản lý nhà nước và phục vụ quyền, nghĩa vụ cơ bản của tổ chức, cá nhân. Xu hướng xây dựng nền hành chính phục vụ đòi hỏi việc cung ứng DVHCC phải hướng tới tính minh bạch, giảm chi phí tuân thủ thủ tục hành chính (TTHC) và gia tăng mức độ hài lòng của xã hội.

Tại Việt Nam, tiến trình cải cách TTHC đã được triển khai qua nhiều giai đoạn như Nghị quyết số 38-CP năm 1994, Chương trình tổng thể cải cách hành chính nhà nước giai đoạn 2001 - 2010 và giai đoạn 2011 - 2020. Dù đã đạt được các kết quả bước đầu trong việc công khai quy trình và đơn giản hóa thủ tục ở một số lĩnh vực (thuế, hải quan, bảo hiểm xã hội, đăng ký kinh doanh), các kết quả đo lường thực tế từ Chỉ số Hiệu quả quản trị và Hành chính công cấp tỉnh (PAPI), Chỉ số Hài lòng về sự phục vụ hành chính (SIPAS) và Chỉ số Chi phí tuân thủ thủ tục hành chính (APCI) phản ánh nhiều bất cập:

  • Quy trình giải quyết còn rườm rà, tình trạng chậm trễ trong xử lý và trả kết quả vẫn diễn ra phổ biến.
  • Người dân phải đi lại nhiều lần; chi phí tuân thủ TTHC của nhiều nhóm dịch vụ còn cao so với mức bình quân của khu vực ASEAN và OECD.
  • Mức độ hài lòng chưa cao và chỉ số chất lượng DVHCC chuyển biến chậm trong giai đoạn 2011 - 2019.

Cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư (CMCN 4.0) với các công nghệ nền tảng như dữ liệu lớn (Big Data), trí tuệ nhân tạo (AI), kết nối vạn vật (IoT), điện toán đám mây (Cloud Computing) đang làm thay đổi phương thức quản trị công. Các quốc gia như Estonia (hơn 99% dịch vụ công được cung ứng trực tuyến toàn trình) hay Singapore (95% giao dịch thực hiện bằng kỹ thuật số) đã chứng minh hiệu quả của việc chuyển đổi mô hình cung ứng DVHCC. Tại Việt Nam, Nghị quyết số 52-NQ/TW ngày 27/9/2019 của Bộ Chính trị đã nhấn mạnh yêu cầu chủ động tham gia CMCN 4.0, hoàn thiện quy trình thủ tục hành chính phù hợp với chính quyền số, cắt giảm tối đa giao dịch trực tiếp. Tuy nhiên, mức độ sẵn sàng và quá trình chuyển đổi số trong quản lý công còn bộc lộ điểm nghẽn về hạ tầng, thể chế và nguồn nhân lực.

Khoảng trống nghiên cứu được tác giả xác định: Các công trình trước đây chủ yếu tiếp cận DVHCC ở khía cạnh hành chính truyền thống hoặc nghiên cứu CMCN 4.0 ở tầm khái quát; chưa có công trình nghiên cứu hệ thống, toàn diện về tác động của CMCN 4.0 đến phương thức cung ứng DVHCC, cấu trúc các điều kiện đảm bảo và giải pháp chuyển đổi phương thức cung ứng DVHCC trực tuyến toàn trình tại Việt Nam.

Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu

  • Mục tiêu nghiên cứu: Trên cơ sở nghiên cứu lý luận và thực tiễn về cung ứng DVHCC trong bối cảnh CMCN 4.0, luận án đề xuất các nhóm giải pháp cung ứng DVHCC phù hợp với bối cảnh CMCN 4.0 ở Việt Nam, góp phần xây dựng nền hành chính phục vụ và kiến tạo phát triển.
  • Nhiệm vụ nghiên cứu:
    1. Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến cung ứng DVHCC và cung ứng DVHCC trong bối cảnh CMCN 4.0, xác định khoảng trống khoa học.
    2. Xây dựng cơ sở lý luận về DVHCC, cung ứng DVHCC và làm rõ các tác động của CMCN 4.0 đến hoạt động cung ứng DVHCC.
    3. Phân tích kinh nghiệm quốc tế về cung ứng DVHCC trong bối cảnh CMCN 4.0 (Estonia, Singapore, Malaysia) và rút ra bài học cho Việt Nam.
    4. Đánh giá thực trạng cung ứng DVHCC và các điều kiện đảm bảo trong bối cảnh CMCN 4.0 tại Việt Nam giai đoạn 2011 - 2022.
    5. Đề xuất định hướng và các nhóm giải pháp nhằm đổi mới phương thức và hoàn thiện điều kiện đảm bảo cung ứng DVHCC trong bối cảnh CMCN 4.0.

Câu hỏi nghiên cứu và giả thuyết khoa học

Hệ thống câu hỏi nghiên cứu:

  • Câu hỏi 1: Cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư tác động như thế nào đến hoạt động cung ứng DVHCC?
  • Câu hỏi 2: Cung ứng DVHCC trong bối cảnh CMCN 4.0 phụ thuộc vào những yếu tố nào?
  • Câu hỏi 3: Cung ứng DVHCC trong bối cảnh CMCN 4.0 ở Việt Nam đã đạt được những kết quả quan trọng nào và những điểm còn tồn tại, hạn chế là gì?
  • Câu hỏi 4: Để cung ứng DVHCC phù hợp với bối cảnh CMCN 4.0 cần những giải pháp cơ bản nào?

Hệ thống giả thuyết khoa học:

  • (i) Cuộc CMCN 4.0 tác động làm thay đổi phương thức cung ứng DVHCC từ trực tiếp sang trực tuyến dựa trên nền tảng số, đồng thời làm biến đổi các điều kiện đảm bảo (thể chế, phương tiện, chủ thể cung ứng, người dùng dịch vụ).
  • (ii) Cung ứng DVHCC trong bối cảnh CMCN 4.0 phụ thuộc vào 4 yếu tố cơ bản: Thể chế, chính sách; Hạ tầng và nền tảng số; Năng lực của chủ thể cung ứng; Khả năng sử dụng DVHCC trên môi trường số của người dùng.
  • (iii) Việt Nam đã đạt được kết quả bước đầu trong việc chuyển đổi phương thức cung ứng từ trực tiếp sang trực tuyến và chuẩn bị hạ tầng, nhưng tiến độ còn chậm và bộc lộ nhiều hạn chế so với yêu cầu thực tiễn và chuẩn mực quốc tế.
  • (iv) Việc đổi mới cung ứng DVHCC đòi hỏi giải pháp đồng bộ: chuyển đổi phương thức cung ứng sang trực tuyến toàn trình; hoàn thiện thể chế; phát triển hạ tầng và nền tảng số liên thông; nâng cao năng lực số của đội ngũ công chức; tăng cường khả năng tiếp cận và kỹ năng số cho người dân, doanh nghiệp.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

  • Đối tượng nghiên cứu: Cung ứng DVHCC trong bối cảnh CMCN 4.0 ở Việt Nam, bao gồm phương thức cung ứng và các điều kiện đảm bảo cho cung ứng DVHCC.
  • Phạm vi nội dung: Tập trung vào các dịch vụ hành chính công có khả năng số hóa và cung ứng trên môi trường mạng; nghiên cứu 4 thành tố cốt lõi: phương thức cung ứng, chủ thể cung ứng, phương tiện/nền tảng số và người dùng dịch vụ.
  • Phạm vi không gian và thời gian: Không gian nghiên cứu tại Việt Nam (có đối sánh với kinh nghiệm của Estonia, Singapore, Malaysia). Thời gian khảo sát tập trung từ năm 2011 (thời điểm ban hành Chương trình tổng thể cải cách hành chính nhà nước giai đoạn 2011 - 2020 và khái niệm Công nghiệp 4.0 bắt đầu xuất hiện) đến năm 2022 (thời điểm hoàn thành luận án).

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Các hướng nghiên cứu trước đây

Tác giả phân loại và tổng thuật hệ thống tài liệu trong nước và quốc tế theo hai nhóm nội dung chính:

1. Các nghiên cứu về dịch vụ công, dịch vụ hành chính công và cải cách thủ tục hành chính

  • Nghiên cứu quốc tế:
    • World Bank (1997): Định vị khu vực công cốt lõi bao gồm các dịch vụ do chính phủ độc quyền cung cấp gắn liền với chức năng thực thi pháp lý và trật tự công (hộ tịch, cấp phép, giấy tờ tùy thân, đăng ký sở hữu).
    • Javier Barnes (2015): Tác phẩm "Transforming Administrative Procedure" phân tích thủ tục hành chính như công cụ bảo đảm tính hợp pháp, dân chủ và là nền tảng điều chỉnh mối quan hệ giữa nhà nước và công dân.
    • Dacian C. Dragos (2015): Công trình "Administrative procedure" chỉ ra các giai đoạn cấu thành TTHC (khởi xướng, thẩm quyền, xem xét hồ sơ, nguyên tắc thực hiện, thời hạn giải quyết) và xu hướng hài hòa hóa thủ tục hành chính quốc tế.
    • Báo cáo EUPAN (2014): Nghiên cứu của Mạng lưới Hành chính Công Châu Âu về đơn giản hóa TTHC và giảm gánh nặng hành chính, phân tích công cụ chuẩn hóa quy trình và cắt giảm chi phí tuân thủ.
  • Nghiên cứu trong nước:
    • Lê Chi Mai (2003): Công trình "Cải cách dịch vụ công ở Việt Nam" làm rõ khái niệm DVHCC gắn với thẩm quyền hành chính - pháp lý của nhà nước, gồm hai thẩm quyền nhánh: thẩm quyền chỉ đạo thực thi chính sách và thẩm quyền pháp lý (cấp phép, đăng ký, chứng thực).
    • Chu Văn Thành (2007): Tác phẩm "Dịch vụ công – Đổi mới quản lý và tổ chức cung ứng ở Việt Nam hiện nay" phân tích tính phi thương mại, không vì lợi nhuận của DVHCC và khẳng định sự cần thiết phải phân tách DVHCC với dịch vụ sự nghiệp công.
    • Nguyễn Đình Phan (2010), Vũ Quỳnh (2017), Cồ Như Dũng (2019): Đánh giá chất lượng DVHCC và sự hài lòng của công dân dựa trên việc vận dụng các mô hình SERVQUAL và SERVPERF.
    • Vũ Thư và Lê Hồng Sơn (2000), Nguyễn Trung Trực và Trương Quang Dũng (2003), Nguyễn Văn Linh (2015), Phạm Quốc Sử (2019): Tiếp cận dưới góc độ kiểm soát TTHC, việc áp dụng hệ thống quản lý chất lượng ISO 9000 và bảo đảm tính hợp pháp trong thực thi công vụ tại chính quyền địa phương.
    • Nguyễn Thùy Linh (2019): Nghiên cứu cụ thể về dịch vụ thuế trực tuyến, xác định các yếu tố ảnh hưởng đến sự hài lòng gồm tính bảo mật, giao diện hệ thống và niềm tin vào môi trường mạng.
    • Vũ Thị Hoài Phương (2019): Phân tích các yếu tố tác động đến cung ứng DVHCC như thể chế, tổ chức bộ máy, đội ngũ cán bộ, công chức (CBCC) và sự hợp tác của người dân.

2. Các nghiên cứu về Cách mạng công nghiệp lần thứ tư và ứng dụng công nghệ trong khu vực công

  • Nghiên cứu quốc tế:
    • Klaus Schwab (2016, 2018): Trong các tác phẩm "The Fourth Industrial Revolution" và "Shaping the Fourth Industrial Revolution", tác giả mô tả sự hội tụ của ba nhóm công nghệ: kỹ thuật số, vật lý và sinh học; phân tích cơ hội hiện đại hóa cấu trúc công quyền cũng như các thách thức về tốc độ ban hành thể chế quản lý.
    • Toomas Hendrik Ilves (2020) và Govtech Singapore (2018): Các báo cáo và nghiên cứu điển hình về mô hình chính phủ số của Estonia và Singapore, tập trung vào nguyên tắc "chỉ cung cấp thông tin một lần" (once-only principle), tính liền mạch và tính bảo mật dữ liệu.
  • Nghiên cứu trong nước:
    • Học viện Hành chính Quốc gia (2018): Các hội thảo và báo cáo bước đầu về mối quan hệ giữa CMCN 4.0 và hành chính công; định hướng chuyển đổi sang chính quyền số.
    • Các tài liệu chỉ đạo chiến lược: Nghị quyết số 52-NQ/TW (2019) của Bộ Chính trị về chủ trương, chính sách chủ động tham gia CMCN 4.0.

Khoảng trống luận án lựa chọn giải quyết

Tổng quan tài liệu chỉ ra 4 khoảng trống cơ bản:

  1. Thiếu khung lý thuyết chuyên biệt xác định bản chất, đặc điểm và các thành phần của hoạt động cung ứng DVHCC dưới tác động của CMCN 4.0 tại Việt Nam.
  2. Chưa làm rõ phương thức chuyển đổi quy trình cung ứng từ hình thức trực tiếp hoặc bán trực tuyến sang phương thức trực tuyến hoàn toàn (toàn trình).
  3. Thiếu các tiêu chí cụ thể để đo lường, đánh giá mức độ sẵn sàng của các điều kiện đảm bảo (thể chế, hạ tầng dữ liệu, năng lực CBCC, mức độ thích ứng của người dùng).
  4. Các giải pháp trước đây chủ yếu tập trung vào cải cách hành chính truyền thống hoặc đầu tư công nghệ thông tin rời rạc, chưa đưa ra được hệ thống giải pháp tổng thể gắn kết giữa tái cấu trúc quy trình nghiệp vụ với chia sẻ dữ liệu liên thông phục vụ cung ứng DVHCC số.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Cơ sở lý thuyết và khung phân tích

Luận án kế thừa và phát triển các khái niệm cốt lõi:

  • Dịch vụ hành chính công: Là dịch vụ liên quan đến hoạt động thực thi pháp luật, không vì mục tiêu lợi nhuận, do cơ quan nhà nước có thẩm quyền thực hiện theo quy định pháp luật. Sản phẩm đầu ra là các giấy tờ có giá trị pháp lý hoặc văn bản thông báo kết quả giải quyết TTHC (phù hợp với định nghĩa tại Nghị định số 42/2022/NĐ-CP).
  • Cung ứng dịch vụ hành chính công: Hoạt động của cơ quan nhà nước có thẩm quyền trong việc sử dụng nguồn lực công nhằm đáp ứng quyền, nghĩa vụ và nhu cầu của tổ chức, cá nhân theo quy định TTHC. Cung ứng DVHCC mang tính độc quyền nhà nước cao, phi lợi nhuận, không tuân theo quy luật cung - cầu thị trường thuần túy.
  • Khung phân tích 4 thành phần: Tác giả xác lập khung lý thuyết gồm 4 yếu tố vận hành có mối quan hệ biện chứng:
    1. Phương thức cung ứng: Quy trình tiếp nhận, xử lý, ký số, giải quyết và trả kết quả (từ trực tiếp, một cửa điện tử sang trực tuyến toàn trình).
    2. Chủ thể cung ứng: Cơ quan hành chính nhà nước, đội ngũ CBCC, mức độ sẵn sàng về năng lực xử lý nghiệp vụ trên môi trường số.
    3. Phương tiện và nền tảng số: Hạ tầng công nghệ thông tin, hạ tầng điện toán đám mây, mạng truyền số liệu chuyên dùng, hệ thống tích hợp chia sẻ dữ liệu (NGSP/LGSP), cơ sở dữ liệu quốc gia (CSDLQG), chứng thư số.
    4. Người dùng dịch vụ: Tổ chức, doanh nghiệp, người dân với các điều kiện đáp ứng về thiết bị, hạ tầng internet, trình độ học vấn, kỹ năng số và mức độ tin cậy vào giao dịch điện tử.

Phương pháp nghiên cứu

Luận án sử dụng phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và duy vật lịch sử, kết hợp phương pháp nghiên cứu định tính và phân tích thống kê mô tả:

  • Phương pháp phân tích tài liệu thứ cấp: Thu thập, đối chiếu số liệu từ các văn kiện của Đảng, văn bản quy phạm pháp luật (Nghị quyết 52-NQ/TW, Nghị định 45/2020/NĐ-CP, Nghị định 42/2022/NĐ-CP); các báo cáo điều tra định kỳ (PAPI, SIPAS, Par Index, APCI giai đoạn 2011 - 2021); Sách trắng Công nghệ thông tin và Truyền thông, Sách trắng Doanh nghiệp, Sách trắng Thương mại điện tử Việt Nam.
  • Phương pháp thu thập dữ liệu sơ cấp: Tham gia, ghi nhận ý kiến trao đổi và phỏng vấn chuyên gia tại các diễn đàn, hội thảo chuyên đề: Hội thảo quốc gia về Chính phủ điện tử, Diễn đàn cấp cao Công nghệ thông tin và Truyền thông Việt Nam (Vietnam ICT Summit), các hội thảo khoa học của Học viện Hành chính Quốc gia và các bộ, ngành.
  • Phương pháp khảo sát, quan sát thực tế trên môi trường mạng: Khảo sát trực tiếp giao diện, tính năng, số lượng TTHC cung cấp trực tuyến và quy trình giải quyết trên Cổng Dịch vụ công quốc gia (dichvucong.gov.vn), cổng DVC của 4 bộ ngành có khối lượng hồ sơ lớn (Bộ Thông tin và Truyền thông, Bộ Giao thông Vận tải, Bộ Công Thương, Bộ Công an), cổng DVC của 9 địa phương (Đà Nẵng, Thừa Thiên Huế, Hà Nội, TP. Hồ Chí Minh, Vĩnh Phúc, Lào Cai, Thanh Hóa, Tiền Giang, Đồng Nai), và đối sánh hệ thống cổng dịch vụ công của Estonia, Singapore, Malaysia.
  • Phương pháp phân tích, tổng hợp và so sánh: Phân loại dữ liệu, đánh giá mức độ tương quan giữa hạ tầng công nghệ và chi phí thời gian tuân thủ TTHC của người dân.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Tổng quan về vấn đề nghiên cứu liên quan đến đề tài luận án

Chương này tập trung hệ thống hóa 7 nhóm thành tựu lý luận đã được các học giả trong và ngoài nước giải quyết: khái niệm bản chất DVC/DVHCC; thẩm quyền hành chính công quyền; mô hình Một cửa, Một cửa điện tử; kết quả khảo sát từ các chỉ số đo lường thực chứng (PAPI, SIPAS, APCI, Par Index); các đặc trưng cơ bản của CMCN 4.0; tác động của công nghệ số đến năng lực quản trị nhà nước; tiềm năng của công nghệ mới trong tối ưu hóa dịch vụ công.

Đồng thời, chương 1 phân tích sâu 4 khoảng trống học thuật cần tiếp tục giải quyết, khẳng định vị trí nghiên cứu độc lập của luận án: làm rõ phương thức vận hành DVHCC khi có sự hỗ trợ của các công nghệ nền tảng 4.0 và phân tích sự phụ thuộc của hiệu quả dịch vụ vào các điều kiện bảo đảm mang tính hệ thống.

Chương 2: Cơ sở khoa học về cung ứng dịch vụ hành chính công trong bối cảnh cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư

Nội dung chương 2 làm rõ tính chất đặc thù của DVHCC: là hoạt động thực thi thẩm quyền pháp lý, không nhằm mục đích sinh lợi, bảo đảm quyền và nghĩa vụ pháp lý của công dân, mang tính cưỡng chế và độc quyền công quyền.

Chương này xây dựng bức tranh đối sánh giữa cung ứng DVHCC truyền thống và cung ứng DVHCC dưới tác động của CMCN 4.0:

Tiêu chí phân tích Phương thức truyền thống Phương thức trong bối cảnh CMCN 4.0
Phương thức cung ứng Trực tiếp tại trụ sở cơ quan hành chính; xử lý hồ sơ giấy; tiếp xúc vật lý giữa CBCC và công dân. Trực tuyến toàn trình trên cổng dịch vụ công; quy trình số hóa, tự động hóa xử lý hồ sơ điện tử; phi tiếp xúc trực tiếp.
Phương tiện, cơ sở vật chất Trụ sở làm việc, bộ phận một cửa vật lý, sổ sách, kho lưu trữ hồ sơ giấy, dấu mộc cơ học. Hạ tầng số, nền tảng điện toán đám mây, mạng TSLCD, CSDLQG, hệ thống NGSP/LGSP, chữ ký số.
Chủ thể cung ứng (CBCC) Thao tác thủ công, tiếp nhận - luân chuyển hồ sơ bản cứng, kiểm tra giấy tờ đối chiếu thủ công. Vận hành hệ thống số, xử lý và chia sẻ dữ liệu liên thông, hỗ trợ xác thực danh tính điện tử.
Người dùng dịch vụ Phải di chuyển trực tiếp đến cơ quan nhà nước; nộp bản sao công chứng; chi phí thời gian và đi lại cao. Sử dụng thiết bị thông minh; giao dịch mọi lúc, mọi nơi; nộp dữ liệu số; thanh toán trực tuyến.
Chi phí tuân thủ TTHC Cao (chi phí thời gian, phương tiện đi lại, in ấn giấy tờ, phí trung gian không chính thức). Giảm thiểu đáng kể chi phí đi lại, thời gian chờ đợi và giảm phát sinh chi phí phi chính thức.

Chương 2 phân tích bài học từ 3 quốc gia:

  • Estonia: Thành công nhờ hệ thống trao đổi dữ liệu phân tán X-Road, định danh số điện tử (e-ID), nguyên tắc "chỉ nộp một lần", đạt trên 99% dịch vụ công trực tuyến.
  • Singapore: Chiến lược Smart Nation, cổng thông tin tích hợp SingPass, phục vụ theo vòng đời của người dân và doanh nghiệp với 95% giao dịch số.
  • Malaysia: Mô hình cổng tích hợp đăng ký doanh nghiệp trực tuyến MalaysiaBiz, tập trung giảm thời gian xử lý và liên thông dữ liệu giữa các bộ ngành.

Bài học kinh nghiệm rút ra cho Việt Nam gồm: xây dựng khung thể chế đi trước một bước; chuẩn hóa định danh và xác thực điện tử; tích hợp và chia sẻ dữ liệu giữa các cơ quan thay vì lưu trữ phân tán; lấy trải nghiệm của người dùng làm trung tâm thiết kế dịch vụ.

Chương 3: Thực trạng cung ứng dịch vụ hành chính công trong bối cảnh cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư ở Việt Nam

Tác giả phân tích dữ liệu thực tế giai đoạn 2011 - 2021 qua các nhóm nội dung:

1. Thực trạng phương thức cung ứng dịch vụ

  • Số lượng TTHC được rà soát, công bố tính đến năm 2020 là hàng nghìn thủ tục thuộc thẩm quyền của 4 cấp hành chính. Mô hình một cửa, một cửa liên thông đã được triển khai 100% tại cấp huyện, cấp tỉnh; tuy nhiên, phương thức tiếp nhận hồ sơ giấy và giải quyết trực tiếp tại bộ phận một cửa vẫn chiếm tỷ trọng chi phối (nhiều địa phương đạt trên 70 - 80% hồ sơ trực tiếp).
  • Dịch vụ công trực tuyến mức độ 3 và mức độ 4 có sự gia tăng nhanh về số lượng công bố trên Cổng DVCQG và cổng cấp bộ/tỉnh, nhưng tỷ lệ phát sinh hồ sơ trực tuyến thực tế còn thấp. Việc cung ứng "toàn trình" (liền mạch từ khâu nộp hồ sơ, thanh toán lệ phí, ký số, giải quyết đến trả kết quả qua môi trường mạng hoặc bưu chính công ích) mới chỉ tập trung ở một số lĩnh vực như đăng ký kinh doanh, thủ tục cấp đổi giấy phép lái xe, khai báo thuế điện tử.

2. Thực trạng các điều kiện đảm bảo

  • Thể chế, chính sách: Đã ban hành các nghị định tạo hành lang pháp lý như Nghị định số 61/2018/NĐ-CP (cơ chế một cửa, một cửa liên thông), Nghị định số 45/2020/NĐ-CP (thực hiện TTHC trên môi trường điện tử), Nghị định số 42/2022/NĐ-CP (cung cấp thông tin và dịch vụ công trực tuyến). Tuy nhiên, các quy định pháp luật về công nhận giá trị pháp lý của hồ sơ điện tử, lưu trữ điện tử, bảo vệ dữ liệu cá nhân còn thiếu đồng bộ.
  • Hạ tầng và nền tảng số:
    • Nền tảng tích hợp, chia sẻ dữ liệu quốc gia (NGSP) và nền tảng cấp bộ/tỉnh (LGSP) đã được xây dựng, nhưng mức độ kết nối còn rời rạc. Tỷ lệ các bộ, ngành, địa phương kết nối thông suốt với NGSP chưa đồng đều.
    • Tiến độ hoàn thiện các CSDLQG nền tảng (dân cư, đất đai, doanh nghiệp, bảo hiểm) diễn ra chậm trong giai đoạn trước năm 2021, dẫn đến việc người dân vẫn phải nộp giấy tờ sao y chứng thực nhiều lần.
    • Xếp hạng chỉ số hạ tầng điện toán đám mây năm 2020 của Việt Nam đứng ở mức trung bình so với 13 quốc gia Châu Á. Số lượng chứng thư số công cộng cấp cho người dân còn chiếm tỷ lệ rất nhỏ so với quy mô dân số.
  • Mức độ sẵn sàng của chủ thể cung ứng (CBCC):
    • Tỷ lệ CBCC được trang bị máy tính làm việc đạt mức cao (trên 90%), nhưng tỷ lệ cán bộ chuyên trách công nghệ thông tin tại các cơ quan hành chính còn rất thấp (nhiều đơn vị dưới 1 - 2% biên chế).
    • Trình độ CNTT của CBCC chủ yếu dừng ở mức tin học văn phòng cơ bản; năng lực vận hành hệ thống số, kỹ năng an toàn thông tin và khả năng xử lý nghiệp vụ trên môi trường mạng còn hạn chế.
  • Điều kiện đáp ứng của người dùng:
    • Tỷ lệ người dân sở hữu điện thoại thông minh và truy cập internet băng thông rộng tăng trưởng mạnh, nhưng việc sử dụng internet chủ yếu phục vụ giải trí, mạng xã hội và thương mại điện tử; tỷ lệ người dân sử dụng internet để thực hiện DVHCC trực tuyến còn thấp (nhiều địa phương dưới 15%).
    • Tồn tại khoảng cách số rõ rệt giữa khu vực đô thị và nông thôn, miền núi về trình độ học vấn số và khả năng tiếp cận dịch vụ trực tuyến.

3. Hiệu quả cung ứng và đánh giá chung

  • Chi phí tuân thủ TTHC: Số liệu các báo cáo APCI (2018, 2021) cho thấy chi phí thời gian và chi phí trực tiếp đã giảm ở các nhóm thủ tục thuế, hải quan, nhưng các nhóm thủ tục đất đai, cấp phép xây dựng, kiểm tra chuyên ngành vẫn đòi hỏi thời gian thực hiện dài và chi phí tuân thủ cao.
  • Mức độ hài lòng: Khảo sát SIPAS và PAPI cho thấy người dân ghi nhận sự chuyển biến về thái độ của CBCC, song mức độ hài lòng đối với tính trực quan, tốc độ xử lý của các cổng dịch vụ công trực tuyến còn hạn chế.
  • Nguyên nhân của các hạn chế: Tâm lý ngại thay đổi của đội ngũ quản lý và công chức; thói quen dùng tiền mặt và giấy tờ của người dân; hạ tầng kỹ thuật thiếu đồng bộ; tình trạng chia cắt dữ liệu giữa các ngành ("cát cứ thông tin"); thiếu cơ chế khuyến khích tài chính cho người dùng dịch vụ công trực tuyến.

Chương 4: Định hướng và giải pháp cung ứng dịch vụ hành chính công trong bối cảnh cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư

Chương 4 đề xuất định hướng chiến lược: chuyển đổi từ nền hành chính quản lý sang nền hành chính phục vụ, lấy sự hài lòng của tổ chức và cá nhân làm thước đo; chuyển dịch toàn diện phương thức cung ứng từ đơn lẻ sang tích hợp, từ trực tiếp sang trực tuyến toàn trình, thực hiện mục tiêu giảm 30% số lượng DVHCC đến năm 2030 theo định hướng phát triển chính phủ số.

Hệ thống 5 nhóm giải pháp cụ thể:

  1. Nhóm giải pháp về phương thức cung ứng:
    • Tái cấu trúc quy trình nội bộ của các TTHC: bãi bỏ các bước trung gian không cần thiết, chuyển đổi từ tiền kiểm sang hậu kiểm đối với các thủ tục đủ điều kiện.
    • Triển khai cung ứng DVHCC toàn trình: kết nối liên thông dữ liệu từ khâu tiếp nhận trên Cổng DVCQG, xử lý tự động trên môi trường điện tử, ký số văn bản và trả kết quả bằng bản điện tử có giá trị pháp lý tương đương bản giấy.
    • Tích hợp dịch vụ công theo sự kiện đời đời người dân và vòng đời hoạt động của doanh nghiệp (khai sinh, đăng ký thường trú, cấp thẻ bảo hiểm y tế; thành lập doanh nghiệp, đăng ký thuế, mở tài khoản ngân hàng).
  2. Nhóm giải pháp về thể chế và chính sách:
    • Hoàn thiện khung khổ pháp lý về giao dịch điện tử, công nhận tính pháp lý của hồ sơ, chứng từ và kết quả giải quyết TTHC điện tử.
    • Xây dựng quy định bắt buộc về kết nối, mở và chia sẻ dữ liệu giữa các bộ, ngành, địa phương; xóa bỏ cơ chế cát cứ thông tin.
    • Ban hành chính sách ưu đãi về phí, lệ phí (giảm hoặc miễn lệ phí khi thực hiện dịch vụ công trực tuyến) nhằm khuyến khích người dân tham gia môi trường số.
  3. Nhóm giải pháp về hạ tầng và nền tảng số:
    • Đẩy nhanh tiến độ hoàn thiện, làm sạch và vận hành hiệu quả các CSDLQG then chốt, đặc biệt là CSDLQG về dân cư, đất đai và doanh nghiệp.
    • Nâng cấp hạ tầng mạng truyền số liệu chuyên dùng; đẩy mạnh ứng dụng điện toán đám mây trong các cơ quan nhà nước; chuẩn hóa hệ sinh thái kết nối qua nền tảng NGSP và LGSP.
    • Phổ cập chữ ký số cá nhân và chữ ký số chuyên dùng công vụ; triển khai rộng rãi hệ thống định danh và xác thực điện tử (VNeID).
  4. Nhóm giải pháp nâng cao nhận thức và năng lực cho chủ thể cung ứng (CBCC):
    • Đổi mới chương trình đào tạo, bồi dưỡng công chức: chuyển trọng tâm sang kỹ năng số, phân tích dữ liệu, xử lý hồ sơ trên môi trường mạng và bảo đảm an toàn thông tin mạng.
    • Xây dựng chế độ đãi ngộ, thu hút nhân lực chất lượng cao về công nghệ thông tin làm việc trong các cơ quan hành chính nhà nước.
    • Gắn trách nhiệm của người đứng đầu cơ quan với tỷ lệ hồ sơ xử lý trực tuyến toàn trình và mức độ hài lòng của công dân.
  5. Nhóm giải pháp nâng cao điều kiện đáp ứng của người dùng:
    • Tăng cường tuyên truyền, phổ cập kỹ năng số cộng đồng; phát huy vai trò của các Tổ công nghệ số cộng đồng tại thôn, bản, tổ dân phố để hướng dẫn người dân nộp hồ sơ trực tuyến.
    • Tối ưu hóa giao diện Cổng Dịch vụ công quốc gia và cổng cấp tỉnh/bộ theo hướng trực quan, dễ thao tác trên các thiết bị di động thông minh.
    • Thiết lập các kênh hỗ trợ kỹ thuật đa dạng (tổng đài hỗ trợ, trợ lý ảo AI, chatbot) giải đáp vướng mắc cho người dân trong quá trình thực hiện dịch vụ.

Kết quả và những đóng góp mới

Đóng góp về mặt lý luận

  • Hệ thống hóa và làm sâu sắc thêm lý luận về DVHCC và cung ứng DVHCC dưới tác động của CMCN 4.0; xác định rõ nội hàm khái niệm cung ứng DVHCC trên môi trường số.
  • Xây dựng khung phân tích hoàn chỉnh về các thành phần cấu thành hoạt động cung ứng DVHCC trong bối cảnh công nghệ mới, bao gồm mối quan hệ tương hỗ giữa 4 yếu tố: phương thức cung ứng, chủ thể cung ứng, phương tiện/nền tảng số và người dùng dịch vụ.
  • Xác định hệ thống tiêu chí đánh giá chất lượng cung ứng DVHCC trong bối cảnh CMCN 4.0 dựa trên mức độ trực tuyến toàn trình, tính liên thông dữ liệu và sự cắt giảm chi phí tuân thủ TTHC.

Đóng góp về mặt thực tiễn

  • Khắc họa bức tranh thực trạng cung ứng DVHCC tại Việt Nam trong giai đoạn 2011 - 2022 thông qua việc tích hợp, phân tích số liệu từ các bộ chỉ số PAPI, SIPAS, Par Index, APCI và kết quả khảo sát trực tiếp tại các cổng dịch vụ công.
  • Chỉ rõ các điểm nghẽn kỹ thuật và thể chế đang cản trở tiến trình chuyển đổi số trong hành chính công: tính phân tán của cơ sở dữ liệu, tỷ lệ hồ sơ trực tuyến thực tế còn thấp, năng lực số của CBCC chưa đồng đều, chi phí tuân thủ một số nhóm TTHC còn cao.
  • Đề xuất hệ thống giải pháp đồng bộ có tính khả thi, gắn liền với các định hướng xây dựng chính phủ số và cải cách hành chính tại Việt Nam đến năm 2030.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế:
    • Phạm vi khảo sát tập trung chủ yếu vào các DVHCC có khả năng số hóa, chưa bao quát toàn bộ các thủ tục mang tính chất đặc thù, yêu cầu kiểm tra thực địa phức tạp hoặc liên quan trực tiếp đến bí mật an ninh quốc phòng.
    • Nguồn dữ liệu thứ cấp phân tích thực trạng chủ yếu dừng lại ở mốc thời gian năm 2021 - 2022, thời điểm một số CSDLQG lớn (như CSDLQG về dân cư) mới bắt đầu giai đoạn kết nối thử nghiệm trên diện rộng.
  • Hướng nghiên cứu tiếp:
    • Nghiên cứu sâu về tác động của các công nghệ chuyên biệt (như Trí tuệ nhân tạo tạo sinh - Generative AI, chuỗi khối - Blockchain) trong tự động hóa việc ra quyết định hành chính công.
    • Đánh giá tác động xã hội của việc chuyển đổi phương thức cung ứng dịch vụ số đối với các nhóm yếu thế trong xã hội (người cao tuổi, người khuyết tật, đồng bào dân tộc thiểu số tại vùng sâu, vùng xa).

Giá trị tham khảo

Luận án là tài liệu tham khảo có giá trị học thuật và ứng dụng thực tiễn cho nhiều nhóm đối tượng:

  • Cơ quan quản lý nhà nước và người làm chính sách: Văn phòng Chính phủ, Bộ Nội vụ, Bộ Thông tin và Truyền thông, Ủy ban nhân dân các cấp có thể tham khảo các đề xuất về tái cấu trúc quy trình TTHC, xây dựng thể chế chia sẻ dữ liệu và cơ chế đánh giá chất lượng dịch vụ công trực tuyến.
  • Cán bộ, công chức làm công tác cải cách hành chính: Nắm bắt được quy trình chuẩn hóa phương thức một cửa điện tử, tích hợp cổng dịch vụ công và phương pháp giảm chi phí tuân thủ cho công dân.
  • Cơ sở đào tạo và nghiên cứu khoa học: Học viện Hành chính Quốc gia, các trường đại học đào tạo khối ngành Quản lý công, Khoa học quản lý, Luật hành chính có thể sử dụng luận án làm tài liệu phục vụ giảng dạy, nghiên cứu chuyên đề về chính phủ điện tử, chính phủ số và cải cách hành chính nhà nước.

Câu hỏi thường gặp

1. Luận án định nghĩa thế nào về dịch vụ hành chính công?

Theo luận án, dịch vụ hành chính công là dịch vụ có liên quan đến hoạt động thực thi pháp luật, không vì mục tiêu lợi nhuận, do cơ quan nhà nước có thẩm quyền thực hiện theo quy định của pháp luật. Sản phẩm của DVHCC là các giấy tờ có giá trị pháp lý hoặc văn bản thông báo kết quả thực hiện trong các lĩnh vực do cơ quan nhà nước quản lý; mỗi DVHCC luôn gắn liền với một hoặc một số TTHC cụ thể.

2. Bốn thành phần cốt lõi của hoạt động cung ứng DVHCC trong bối cảnh CMCN 4.0 gồm những yếu tố nào?

Khung phân tích của luận án xác định 4 thành phần cấu thành: (1) Phương thức cung ứng (chuyển đổi từ trực tiếp sang trực tuyến toàn trình); (2) Chủ thể cung ứng (cơ quan nhà nước và đội ngũ CBCC có năng lực số); (3) Phương tiện và nền tảng số (hạ tầng mạng, CSDLQG, hệ sinh thái kết nối dữ liệu NGSP/LGSP, chữ ký số); (4) Người dùng dịch vụ (công dân, tổ chức có kỹ năng số và thiết bị kết nối).

3. Những hạn chế lớn nhất trong cung ứng DVHCC tại Việt Nam giai đoạn 2011 - 2022 được tác giả chỉ ra là gì?

Các hạn chế trọng yếu gồm: tỷ lệ hồ sơ phát sinh qua hình thức trực tuyến thực tế còn thấp, người dân vẫn phải đến trực tiếp cơ quan hành chính nhiều lần; chi phí tuân thủ TTHC trong một số lĩnh vực (như đất đai, xây dựng) còn cao; hệ thống cơ sở dữ liệu quốc gia còn phân tán, thiếu liên thông đồng bộ; trình độ số hóa và năng lực an toàn thông tin của đội ngũ CBCC chưa đáp ứng yêu cầu; khoảng cách số giữa các vùng miền còn rõ rệt.

4. Luận án đề xuất giải pháp nào để thúc đẩy người dân chuyển sang sử dụng dịch vụ công trực tuyến toàn trình?

Tác giả đề xuất các giải pháp: tái cấu trúc quy trình nhằm đơn giản hóa tối đa các trường thông tin cần khai báo dựa trên nguyên tắc "chỉ nộp một lần"; tích hợp dịch vụ công theo sự kiện đời người trên Cổng DVCQG; áp dụng chính sách giảm hoặc miễn phí, lệ phí cho giao dịch điện tử; phổ cập chữ ký số cá nhân và tài khoản định danh điện tử; thành lập và duy trì các Tổ công nghệ số cộng đồng để trực tiếp hướng dẫn kỹ năng cho người dân tại địa bàn cơ sở.


Kết luận

Luận án tiến sĩ chuyên ngành Quản lý công của tác giả Dương Quốc Chính đã giải quyết một cách có hệ thống cơ sở khoa học và thực tiễn về cung ứng dịch vụ hành chính công trong bối cảnh cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư tại Việt Nam. Trên nền tảng phân tích thực trạng dữ liệu giai đoạn 2011 - 2022 và kế thừa kinh nghiệm quốc tế, công trình đã xác lập khung phân tích 4 thành phần và đề xuất hệ thống 5 nhóm giải pháp đồng bộ nhằm chuyển dịch phương thức cung ứng sang trực tuyến toàn trình. Kết quả nghiên cứu đóng góp thiết thực cho khoa học quản lý công và cung cấp các luận cứ khoa học tin cậy cho tiến trình xây dựng chính phủ số, nền hành chính phục vụ tại Việt Nam.