Luận án: Phát triển đội ngũ cố vấn học tập tại ĐH Sư phạm Kỹ thuật

Luận án tiến sĩ giáo dục phân tích phát triển đội ngũ cố vấn học tập trường đại học sư phạm kỹ thuật theo tiếp cận năng lực, xây dựng cơ sở lý luận, kiểm chứng thực nghiệm, đóng

Trường đại học

Trường Đại Học Vinh

Chuyên ngành

Quản lí giáo dục

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận án tiến sĩ

2022

205
1
0

Phí lưu trữ

55 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan về phát triển đội ngũ cố vấn học tập theo tiếp cận năng lực

Phát triển đội ngũ cố vấn học tập (CVHT) tại các trường đại học sư phạm kỹ thuật (SPKT) là một vấn đề quan trọng trong bối cảnh đổi mới giáo dục hiện nay. Đội ngũ CVHT không chỉ đóng vai trò hỗ trợ sinh viên trong quá trình học tập mà còn góp phần nâng cao chất lượng đào tạo. Việc áp dụng tiếp cận năng lực trong phát triển đội ngũ CVHT giúp xác định rõ các năng lực cần thiết cho công việc, từ đó nâng cao hiệu quả hoạt động của họ.

1.1. Khái niệm và vai trò của cố vấn học tập trong giáo dục đại học

Cố vấn học tập là những người có trách nhiệm hỗ trợ sinh viên trong việc định hướng học tập và phát triển nghề nghiệp. Họ giúp sinh viên giải quyết các vấn đề học tập, từ đó nâng cao chất lượng giáo dục tại các trường đại học.

1.2. Tại sao cần phát triển đội ngũ cố vấn học tập theo tiếp cận năng lực

Phát triển đội ngũ CVHT theo tiếp cận năng lực giúp đảm bảo rằng họ có đủ năng lực để thực hiện nhiệm vụ của mình. Điều này không chỉ nâng cao chất lượng tư vấn mà còn cải thiện kết quả học tập của sinh viên.

II. Những thách thức trong phát triển đội ngũ cố vấn học tập hiện nay

Mặc dù đã có những nỗ lực trong việc phát triển đội ngũ CVHT, nhưng vẫn còn nhiều thách thức cần phải giải quyết. Các vấn đề như thiếu hụt năng lực, sự không đồng bộ trong công tác đào tạo và bồi dưỡng, cũng như việc chưa có tiêu chuẩn rõ ràng cho CVHT là những yếu tố cản trở sự phát triển này.

2.1. Thiếu hụt năng lực của đội ngũ cố vấn học tập

Nhiều CVHT hiện nay chưa được trang bị đầy đủ kiến thức và kỹ năng cần thiết để hỗ trợ sinh viên một cách hiệu quả. Điều này dẫn đến việc tư vấn không đạt yêu cầu và ảnh hưởng đến chất lượng đào tạo.

2.2. Sự không đồng bộ trong công tác đào tạo và bồi dưỡng

Chương trình đào tạo và bồi dưỡng cho CVHT chưa được thiết kế đồng bộ, dẫn đến sự thiếu hụt trong việc phát triển năng lực của họ. Cần có một khung chương trình rõ ràng và cụ thể để đảm bảo chất lượng.

III. Phương pháp phát triển đội ngũ cố vấn học tập hiệu quả

Để phát triển đội ngũ CVHT một cách hiệu quả, cần áp dụng các phương pháp hiện đại và phù hợp với yêu cầu thực tiễn. Việc xây dựng tiêu chuẩn năng lực, tổ chức các khóa đào tạo chuyên sâu và tạo môi trường làm việc tích cực là những giải pháp cần thiết.

3.1. Xây dựng tiêu chuẩn năng lực cho cố vấn học tập

Việc xây dựng tiêu chuẩn năng lực cho CVHT giúp xác định rõ các yêu cầu cần thiết cho công việc. Điều này không chỉ giúp tuyển chọn đúng người mà còn tạo điều kiện cho việc bồi dưỡng và phát triển.

3.2. Tổ chức các khóa đào tạo chuyên sâu

Các khóa đào tạo chuyên sâu sẽ giúp CVHT nâng cao kiến thức và kỹ năng cần thiết. Cần thiết kế các chương trình đào tạo phù hợp với nhu cầu thực tế của sinh viên và yêu cầu công việc.

IV. Ứng dụng thực tiễn và kết quả nghiên cứu về phát triển đội ngũ cố vấn học tập

Nghiên cứu thực tiễn cho thấy rằng việc phát triển đội ngũ CVHT theo tiếp cận năng lực đã mang lại nhiều kết quả tích cực. Các trường đại học đã ghi nhận sự cải thiện trong chất lượng tư vấn và sự hài lòng của sinh viên.

4.1. Kết quả từ các trường đại học sư phạm kỹ thuật

Nhiều trường đại học đã áp dụng các giải pháp phát triển đội ngũ CVHT và ghi nhận sự cải thiện rõ rệt trong chất lượng tư vấn. Sinh viên cảm thấy hài lòng hơn với sự hỗ trợ từ CVHT.

4.2. Những bài học kinh nghiệm từ thực tiễn

Các trường đại học cần rút ra bài học từ những thành công và thất bại trong việc phát triển đội ngũ CVHT. Việc chia sẻ kinh nghiệm giữa các trường sẽ giúp nâng cao chất lượng đào tạo chung.

V. Kết luận và hướng đi tương lai cho phát triển đội ngũ cố vấn học tập

Phát triển đội ngũ CVHT theo tiếp cận năng lực là một yêu cầu cấp thiết trong bối cảnh giáo dục hiện nay. Cần có những giải pháp đồng bộ và hiệu quả để nâng cao chất lượng đội ngũ này, từ đó góp phần nâng cao chất lượng đào tạo tại các trường đại học.

5.1. Tầm quan trọng của phát triển đội ngũ cố vấn học tập

Đội ngũ CVHT có vai trò quan trọng trong việc hỗ trợ sinh viên, từ đó ảnh hưởng đến chất lượng giáo dục. Việc phát triển đội ngũ này cần được chú trọng hơn nữa.

5.2. Định hướng phát triển trong tương lai

Cần có các chính sách và chương trình cụ thể để phát triển đội ngũ CVHT, đảm bảo họ có đủ năng lực và kỹ năng để đáp ứng yêu cầu công việc trong bối cảnh đổi mới giáo dục.

24/07/2025
Luận án tiến sĩ phát triển đội ngũ cố vấn học tập trường đại học sư phạm kỹ thuật theo tiếp cận năng lực

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA PHÁT TRIỂN ĐỘI NGŨ CỐ VẤN HỌC TẬP TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM KĨ THUẬT THEO TIẾP CẬN NĂNG LỰC 1. TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU VẤN ĐỀ Nghiên cứu về CVHT diễn ra rất sớm từ đầu những năm 1960 khi các nghiên cứu của Chickering (1969), Erikson (1963), Sanford (1967) về lí thuyết tư vấn được công bố, tuy nhiên, những nghiên cứu về tư vấn học tập chủ yếu diễn ra ở các nước nói tiếng Anh, chủ yếu là ở Mỹ, nơi tư vấn học tập ra đời và tư vấn là bắt buộc đối với các trường ĐH và cao đẳng. Nội dung chủ yếu đi sâu vào các vấn đề: lịch sử tư vấn học tập; cơ sở lí thuyết cho hoạt động tư vấn; mô hình cấu trúc hoạt động của tư vấn học tập; các phương pháp tiếp cận tư vấn; các KN tư vấn; các đối tượng SV tư vấn; các tài nguyên của tư vấn học tập. Các nghiên cứu về phát triển đội ngũ CVHT và phát triển đội ngũ CVHT theo tiếp cận NL ở trường ĐH trên thế giới ít được quan tâm.

Chưa có công trình nghiên cứu hay chuyên khảo nào đi sâu về vấn đề đội ngũ CVHT, phát triển đội ngũ CVHT, và phát triển đội ngũ CVHT trường ĐH SPKT theo tiếp cận NL, tuy nhiên, một cách gián tiếp các học giả trên thế giới có những nghiên cứu liên quan và đã đề cập tới các vấn đề này, như sau: 1. Nghiên cứu về đội ngũ cố vấn học tập 1. Nghiên cứu về mô hình cấu trúc tổ chức của đội ngũ cố vấn học tập Celeste F. Pardee [69] khi nghiên cứu về mô hình cấu trúc tổ chức CVHT đã cho rằng: Cơ cấu tổ chức là khuôn khổ để cung cấp dịch vụ tư vấn cho SV.

Như vậy, đây là một trong những khối xây dựng quan trọng cho một chương trình tư vấn hiệu quả, bất kể chương trình được xác định ở cấp khoa, trường, hoặc tổ chức…Về việc đánh giá hiệu quả của mô hình cấu trúc tổ chức CVHT, theo Celeste F. Pardee [69]: rất khó để đánh giá hiệu quả của cấu trúc tổ chức, hoặc sự hài lòng với một mô hình cụ thể, khi nó được liên kết chặt chẽ với các thành phần khác của một chương trình tư vấn.WR [81] trong cuốn Organizational structure for academic counseling: Models and implications, sau khi nghiên cứu hoạt động của CVHT trong các trường ĐH, và chủ yếu ở Mỹ, đã đưa ra kết luận: có ba dạng mô hình cấu trúc tổ chức CVHT được áp dụng trong các trường ĐH, như sau: Mô hình tập trung; Mô hình phi tập trung (phân cấp); Mô hình chia sẻ. Từ ba cấu trúc cơ bản của mô hình CVHT trên, Habley [81] tiếp tục phân phối 8 thành bảy mô hình là cấu trúc cụ thể của CVHT, và được Celeste F. Pardee [68] mô tả trong cuốn Academic Counseling: A Comprehensive Handbook, phần: Organizational model for academic advising, gồm 7 mô hình sau: (1) Mô hình tập trung (tự chứa); (2) Mô hình bổ sung; (3) Mô hình split (phân chia); (4) Mô hình dual (kép); (5) Mô hình total intake (Tổng tuyển sinh); (6) Mô hình khoa chỉ; (7) Mô hình vệ tinh.

Nghiên cứu của Barbara Oertel [64] cho rằng: Trong 7 mô hình CVHT, mỗi mô hình cung cấp những lợi thế khác biệt và nhược điểm. Bốn mô hình được sử dụng nhiều nhất là: Mô hình bổ sung, mô hình split (phân chia), mô hình khoa chỉ, mô hình tự chứa. Habley và Morales [84] sau khi phân tích xếp hạng của CVHT về bảy mô hình tổ chức liên quan đến mười một biến chương trình, họ đã kết luận rằng: “Bất kì mô hình tổ chức nào cũng có thể có hiệu quả… Yếu tố quyết định sự thành công của bất kì mô hình nào là sự phù hợp giữa mô hình và tổ chức, GV, SV và các biến khác…”. Nghiên cứu của Celeste F.

Pardee [69] cho thấy mô hình phi tập trung khoa chỉ - nơi mà tất cả các SV được chỉ định cho một cố vấn bộ phận, thường là các giáo sư từ các ngành học của SV, là mô hình phổ biến nhất được sử dụng tới 28% ở các tổ chức. Trong cuộc khảo sát năm 2011 do American College thực hiện thử nghiệm và Nacada (Carlstrom & Miller) [67] cho thấy việc sử dụng các mô hình phi tập trung trên là suy giảm từ 25% so với khảo sát của Habley [83] xuống còn 17%. Việc sử dụng mô hình tập trung tăng đáng kể từ 14% (theo khảo sát Habley) [83] tăng lên 29% năm 2011. Như vậy, xu hướng phát triển theo các mô hình đã có sự dịch chuyển từ phi tập trung sang tập trung.

Theo Carlstrom & Miller [67] điều này chứng tỏ tính chất chuyên nghiệp ngày càng phát triển của tư vấn học tập. Tác giả Trần Minh Đức [13] Báo cáo đề tài: Xây dựng mô hình hoạt động của CVHT trong đào tạo TC ở trường ĐH Việt Nam đã chỉ rõ: chưa có một trường ĐH, cao đẳng nào ở Việt Nam xây dựng được một mô hình CVHT hoàn thiện. Trên cơ sở nghiên cứu thực trạng công tác tổ chức hoạt động CVHT tại các trường ĐH tại Việt Nam, tác giả đã chỉ ra: có sáu mô hình CVHT đang được sử dụng tại các trường ĐH ở Việt Nam, và nó tương đồng với các mô hình CVHT đang được sử dụng tại các trường ĐH ở Mỹ. Trên cơ sở đó, tác giả Trần Thị Minh Đức đã xây dựng và đề xuất mô hình CVHT cho các trường ĐH tại Việt Nam hiện nay mà tác giả cho là phù hợp nhất.

Tác giả đã đưa ra mô hình CVHT mang tính chuyên nghiệp, tuy nhiên hiện nay, việc đào tạo một đội ngũ chuyên nghiệp đúng nghĩa rất khó khăn, tốn kém. Nghiên cứu về mô hình CVHT, tác giả Nguyễn Văn Vân [60] chỉ rõ: Trong việc các đơn vị áp dụng các mô hình CVHT tại Việt Nam, vẫn chưa có sự phân biệt thật rõ ràng vai trò của từng cá nhân, bộ phận, trong đó: Vai trò của CVHT vẫn còn chồng chéo với giáo viên chủ nhiệm, công việc của CVHT nhưng vẫn do phòng đào 9 tạo đảm nhận. Mối liên hệ giữa CVHT và các đồng nghiệp phòng ban còn yếu, sự phối hợp giữa CVHT với các phòng ban liên quan, hoặc giữa các CVHT chưa đặt ra với một lịch trình. Tác giả yêu cầu phải có một mô hình CVHT chung và chuyên nghiệp mà theo các tác giả được cho là phù hợp nhất.

Tuy nhiên, hạn chế là thiếu một đội ngũ CVHT chuyên nghiệp, thiếu một trung tâm tư vấn độc lập nhằm hoạch định chiến lược. Mô hình cấu trúc tổ chức tư vấn là môi trường hoạt động của đội ngũ CVHT. Các nghiên cứu đã đi sâu và chỉ ra các mô hình cấu trúc hoạt động hiệu quả và phù hợp với mỗi loại hình SV và nhà trường, ưu và khuyết điểm của mỗi mô hình, sự phát triển của các mô hình trong thực tiễn thực hành tư vấn. Nghiên cứu về phương pháp tiếp cận hoạt động tư vấn của đội ngũ cố vấn học tập Theo nghiên cứu của Drake và cộng sự [77] Có chín cách tiếp cận tư vấn học tập được cộng đồng NACADA sử dụng.

Tuy nhiên, các tài liệu nghiên cứu cho thấy các phương pháp tiếp cận tư vấn sau đây của đội ngũ CVHT được quan tâm nghiên cứu nhiều nhất là: + Tư vấn qui định (tư vấn kê đơn) Tư vấn theo qui định là phương pháp đầu tiên đã được thực hiện rộng rãi bởi các CVHT. Trong mô hình tư vấn theo qui định, các CVHT chủ yếu phục vụ trong vai trò của nhà cung cấp thông tin Crookston [75]. CVHT phổ biến thông tin liên quan đến chương trình giảng dạy, cũng như lập lịch trình và mô tả khóa học cho SV. Mục đích chính trong việc cung cấp tư vấn theo qui định là để đảm bảo rằng SV lựa chọn và hoàn thành các khóa học phù hợp cho bằng cấp của họ Crookston [74].

Quan hệ giữa cố vấn và SV trong tư vấn theo qui định chủ yếu được đặc trưng là phân cấp, và luồng thông tin là một chiều trong đó các cố vấn cung cấp thông tin cho SV; CVHT là nhà cung cấp thông tin tích cực, trong khi SV là người tiếp nhận thông tin thụ động trong mối quan hệ tư vấn Lowenstein [90], [91]. Tư vấn theo qui định là một cách tiếp cận có thẩm quyền để cung cấp cho SV hướng dẫn, trong đó, các SV chịu trách nhiệm làm theo và thực hiện lời khuyên được đưa ra cho họ bởi cố vấn của họ (Crookston, Hagen & Jordan, Smith & Allen), [75], [85], [107]. Mối quan hệ cố vấn - SV trong tư vấn kê đơn tương tự như mối quan hệ giữa bác sĩ và bệnh nhân. SV đến gặp một cố vấn khi có những thách thức và lo ngại, và các cố vấn cung cấp cho SV một đơn thuốc tư vấn (Lowenstein) [91] để giải quyết những thách thức và mối quan tâm đó.

Hạn chế của tư vấn kê đơn như Lowenstein [91] thấy rằng những người thực hành tư vấn theo toa thuần túy có thể bị kiệt sức nghề nghiệp hoặc có thể không được đào tạo và phát triển chuyên nghiệp trong tư vấn học thuật. 10 + Tư vấn phát triển Tư vấn phát triển ra đời vào đầu những năm 1970 khi Crookston [74] xuất bản bài viết của mình về tư vấn học thuật phát triển đã tạo ra một kỉ nguyên mới về tư vấn học thuật bắt đầu (White) [109] Tư vấn phát triển là một trong những cách tiếp cận cơ bản và toàn diện nhất để tư vấn học thuật (trang 5). Theo Smith và Allen [107] tư vấn phát triển là một quá trình lấy SV làm trung tâm: Thừa nhận tính cá nhân của SV; giúp họ tích hợp các mục tiêu cuộc sống, sự nghiệp và GD; kết nối các khía cạnh ngoại khóa và ngoại khóa của kinh nghiệm GD của họ; và cung cấp cơ sở cho họ cơ hội thực hành các KN ra quyết định và giải quyết vấn đề. Mô hình tư vấn phát triển đã đạt được vị thế nhất thời và trở thành một mô hình thống trị trong cộng đồng tư vấn học thuật (Lowenstein) [91].

Gordon và cộng sự [108] nhấn mạnh rằng tư vấn phát triển nhằm mục đích nuôi dưỡng mối quan hệ hợp tác và liên tục giữa cố vấn và SV. Tư vấn phát triển thường được xem là một cách tiếp cận ưu việt hơn so với tư vấn theo quy định. Tuy nhiên, Hemwall và Trạchte [86] chỉ ra hạn chế của phương pháp tư vấn phát triển tập là trung vào sự tăng trưởng và phát triển cá nhân của SV và bỏ qua việc học tập của SV.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ