đặt vấn đề liệu rằng nguyên tắc di sản chung của loài ngƣời hiện nay có còn phù hợp để điều chỉnh Vùng và tài nguyên Vùng hay không? Phần cuối cùng của cuốn sách là những phân tích về đóng góp của Tòa luật biển quốc tế trong vấn đề quản lý hoạt động tại Vùng. Các công trình nghiên cứu về vấn đề bảo vệ môi trƣờng biển từ hoạt độn t ăm dò, k ai t ác t i n u n k oán sản biển Một công trình rất đáng chú ý là những nghiên cứu của Cơ quan quản lý tài nguyên và môi trƣờng thuộc Cơ quan quyền lực Vùng với tiêu đề ―Standardization environmental data and information – Development of guidelines‖ [141]. Nội dung của công trình nghiên cứu bao gồm năm phần. Phần thứ nhất là tổng hợp những quy định và khuyến nghị do Cơ quan quyền lực Vùng xây dựng điều chỉnh vấn đề 13 bảo vệ môi trƣờng từ hoạt động khai thác cùng những đánh giá về hiệu quả của những quy định này.
Trong phần thứ hai, các tác giả đã đƣa ra những đánh giá về kết quả của những công trình nghiên cứu trƣớc đó về các tác động đối với môi trƣờng biển phát sinh từ hoạt động khai thác trên đáy biển. Hai phần tiếp theo của công trình là những tham số, dữ liệu và chiến lƣợc môi trƣờng theo quan điểm của nhóm tác giả cần đƣợc tiêu chuẩn hóa và thu nhập trong hoạt động đánh giá môi trƣờng. Trong phần cuối cùng, nhóm tác giả đƣa ra một số khuyến nghị nhằm tăng cƣờng hiệu quả của hoạt động bảo vệ môi trƣờng cũng nhƣ đảm bảo đa dạng sinh học biển từ hoạt động khai thác trên Vùng. Một nghiên cứu khác cũng do Cơ quan quyền lực Vùng tiến hành trên cơ sở tổng hợp những báo cáo hội thảo do cơ quan này tổ chức là Nghiên cứu kỹ thuật số 10 với tiêu đề ―Environmental Management Needs for Exploration and Exploitation of Deep Sea Minerals‖ [145].
Có thể chia nội dung báo cáo thành ba phần. Trong phần thứ nhất, nhóm công tác của Ủy ban pháp lý, kỹ thuật thuộc Cơ quan quyền lực Vùng đã đƣa ra một khung hƣớng dẫn cho các quốc gia và các thể nhân, pháp nhân trong việc xây dựng đánh giá tác động môi trƣờng từ hoạt động khai thác tài nguyên trên đáy biển. Trong phần thứ hai, báo cáo trƣớc tiên đã khái quát về hiện trạng các nguồn tài nguyên khoáng sản biển và phân tích về một số tác động cơ bản phổ biến đối với môi trƣờng và một số tác động có thể xảy ra phát sinh trong quá trình khai thác. Bên cạnh đó, trên cơ sở khái quát các quy định của luật quốc tế và quy định do Cơ quan quyền lực Vùng xây dựng, nhóm công tác đã xác định một số vấn đề ƣu tiên cần đƣợc quy định cụ thể đồng thời nhấn mạnh một số nghĩa vụ quốc tế cơ bản mà các chủ thể phải thực hiện khi khai thác tại thềm lục địa và Vùng.
Đặc biệt, báo cáo đã phân tích một số kinh nghiệm của các quốc gia trong việc xây dựng, ban hành các quy định về bảo vệ môi trƣờng từ hoạt động khai thác tài nguyên trên đáy biển, qua đó, đƣa ra một số gợi ý cho các quốc gia đang phát triển trong việc xây dựng chính sách, pháp luật điều chỉnh vấn đề này. Phần cuối cùng của báo cáo là một số yêu cầu cần thiết trong việc xây dựng năng lực trong hoạt động khai thác tài nguyên trên đáy biển, đặc biệt liên quan đến hoạt động đánh giá tác động môi trƣờng. Trong Volume 1, chƣơng 12, chƣơng 13 cuốn sách ―Sea – bed enrgy and minerals resources and the law of the sea‖ với tiêu đề ―Pollution arising from the exploration of the continental shelf and the explotation of its natural resources‖, tác giả E. Brown trƣớc tiên đã phân tích những quy định của luật quốc tế về ngăn ngừa ô nhiễm biển phát sinh từ hoạt động khai thác đƣợc ghi nhận trong các điều ƣớc quốc tế toàn cầu cũng nhƣ khu vực, tập quán quốc tế, đồng thời phân tích pháp 14 luật của một số quốc gia điều chỉnh vấn đề này.
Chƣơng 13 là những phân tích về trách nhiệm phát sinh trong trƣờng hợp xảy ra sự cố ô nhiễm từ hoạt động khai thác. Bài viết ―Deep Seabed Mining and the Environment: Consequences, Perceptions, and Regulations‖ của tác giả Jan Magne Markussen [164] cũng là một công trình phân tích khá chi tiết về những tác động của hoạt động khai thác khoáng sản tại đáy biển đối với môi trƣờng. Trên cơ sở phân tích đặc điểm tự nhiên của những loại khoáng sản chủ yếu và thực tế khai thác của một số quốc gia, bài viết đã chỉ ra ba tác động chủ yếu với môi trƣờng bao gồm tác động đối với đáy biển, ô nhiễm nguồn nƣớc từ hoạt động khai thác trực tiếp và tàu thuyền khai thác và tác động từ những hoạt động ở gần bờ, đồng thời phân tích một số tác động khác đối với môi trƣờng đáy biển. Trong phần cuối, tác giả đã trình bày khái quát về một số quy định trong Công ƣớc luật biển 1982 và các Quy định do Cơ quan quyền lực Vùng ban hành điều chỉnh vấn đề bảo vệ môi trƣờng và đánh giá hiệu quả của những quy định này.
Một bài viết khác có cách tiếp cận khá khác biệt về khai thác khoáng sản và vấn đề môi trƣờng là ―Deep-sea mining: economic, technical, technological and environmental considerations for sustainable development‖ của tác giả Rahul Sharma [185]. Bài viết hoàn toàn sử dụng cách tiếp cận dƣới góc độ kinh tế, kỹ thuật và công nghệ để phân tích về hoạt động khai thác tài nguyên tại đáy biển, từ đó đƣa ra những đánh giá tác động đối với môi trƣờng theo phƣơng pháp quan trắc. Cuối cùng, bài viết phân tích một số cơ chế quốc tế trong bảo vệ môi trƣờng biển và đƣa ra một số nhận xét về hiệu quả của những cơ chế này. Trong cuốn sách với tiêu đề ―Environmental Impact Assessment and the International Seabed Authority‖, tác giả L.
Gwenaelle [132] đã đƣa ra những đánh giá rất khách quan về hoạt động của Cơ quan quyền lực Vùng trong việc xây dựng các khuôn khổ pháp lý, kỹ thuật bảo vệ môi trƣờng của Vùng. Bên cạnh đó, tác giả đã đƣa ra gợi ý tăng cƣờng việc giải thích và áp dụng các nguyên tắc của luật môi trƣờng quốc tế trong điều chỉnh hoạt động khai thác tại Vùng. Phần cuối của cuốn sách là một số phân tích về nghĩa vụ trong lĩnh vực môi trƣờng đặt ra đối với các bên trong hợp đồng khai thác và những đánh giá về Hƣớng dẫn đánh giá tác động môi trƣờng đối với các hợp đồng thăm dò. Một công trình nghiên cứu đáng chú ý tiếp theo là bài viết ―Seabed Activities and the Protection and Preservation of the Marine Environment in Disputed Maritime Areas of the Asia-Pacific Region‖ của tác giả Vasco Becker-Weinberg [209].
Hai phần đầu bài viết là những phân tích về hệ sinh thái biển, tài nguyên trên đáy biển, những tranh chấp ở khu vực châu Á – Thái Bình Dƣơng và các quy định 15 của Công ƣớc luật biển 1982 về quyền và nghĩa vụ của các quốc gia tại những khu vực biển tranh chấp. Trong phần tiếp theo, tác giả đã khái quát quá trình phát triển của các quy định trong các điều ƣớc và văn kiện quốc tế về bảo vệ và bảo tồn môi trƣờng biển. Với tiêu đề ―Chế độ pháp lý áp dụng đối với các hoạt động trên đáy biển tại các khu vực biển tranh chấp‖, trong phần thứ tƣ của bài viết, trên cơ sở phân tích các quy định của Công ƣớc luật biển 1982 và các điều ƣớc quốc tế đa phƣơng trong lĩnh vực môi trƣờng biển, tác giả đã làm rõ quyền và nghĩa vụ của các quốc gia khi tiến hành những hoạt động khai thác tại đáy biển trên các khu vực biển đang trong tình trạng tranh chấp. Bài viết đƣa ra một kết luận khá thú vị, đó là ―câu thành ngữ rào dậu tốt, hàng xóm tốt không phải là một nhận xét phù hợp trong lĩnh vực môi trường biển, bởi sự gắn kết, thống nhất trong hệ sinh thái biển đòi hỏi sự hợp tác giữa các quốc gia trong việc bảo vệ môi trường biển, đặc biệt ở các khu vực còn đang tranh chấp‖.
Không trực tiếp phân tích, đánh giá những tác động của hoạt động khai thác tài nguyên đến môi trƣờng biển hay các quy định pháp lý điều chỉnh vấn đề này nhƣng có thể kể đến rất nhiều bài viết đã phân tích ý kiến tƣ vấn của Viện giải quyết tranh chấp liên quan đến đáy biển về trách nhiệm bảo vệ môi trƣờng của quốc gia trong hoạt động khai thác tài nguyên tại đáy biển nhƣ―The Principle of Residual Liability in the Seabed Disputes Chamber of the International Tribunal for the Law of the Sea: The Advisory Opinion on Responsibility and Liability for International Seabed Mining (ITLOS Case No. 17)‖ của tác giả Donald K. Anton [95]; ―Seabed Mining– Advisory Opinion on Responsibility and Liability –‖ của tác giả Donald K. Makgill và Cymie R.
Payne [94]; ―From the Depths: Rich Pickings of Principles of Sustainable Development and General International Law on the Ocean Floor—the Seabed Disputes Chamber 2011 Advisor Opinion‖ của tác giả French D [117]; ―Responsibiilities and Obligations of States sponsoring Persons and Entities with Respect to Activities in the Area: The International Tribunal of the Law of the Sea’s Recent Contribution to International Environmental Law‖ của tác giả Handl G [133]; ―Sea bed Mining – Advisory Opinion on Responsibility and Liability‖ của nhóm tác giả Anton, D. Nội dung của những bài viết này trƣớc tiên là phân tích những ý kiến của Tòa về trách nhiệm của các quốc gia liên quan trong vấn đề bảo vệ môi trƣờng biển từ hoạt động khai thác, chủ yếu liên quan đến quốc gia bảo trợ, qua đó, làm rõ những vấn đề pháp lý về nghĩa vụ, trách nhiệm của quốc gia bảo trợ chƣa đƣợc quy định cụ thể trong Công ƣớc luật biển 1982 cũng nhƣ Thỏa thuận năm 1994. Bên cạnh đó, trên cơ sở phân tích nội dung ý kiến tƣ vấn, các bài viết cũng đã 16 làm rõ mối quan hệ giữa các nguyên tắc của luật môi trƣờng cũng nhƣ áp dụng những nguyên tắc này trong hoạt động khai thác tài nguyên tại đáy biển. Các công trình nghiên cứu của Việt Nam 1.
Các công trình nghiên cứu về quy ch p áp lý đối với thềm lục địa và tài nguyên khoáng sản trên vùng biển thuộc thẩm quyền tài phán của quốc gia Cuốn sách ―Luật biển quốc tế hiện đại‖ do TS. Lê Mai Anh [1] làm chủ biên bao gồm những vấn đề lịch sử, lý luận và pháp lý về luật biển.