Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SƠ LÍ LUẬN 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu 1. Tình hình nghiên cứu lời nói trong sự kiện giao tiếp Ngữ dụng học đã phát triển rất mạnh mẽ, nhất là ở thời điểm những lý thuyết về dụng học của Austin (1962), Searl (1969), Brown & Levinson (1987), Leech (1983) xuất hiện. Những nghiên cứu về lý thuyết và những nghiên cứu cụ thể trở thành một chuyên ngành có sức lôi cuốn đặc biệt tới các nhà ngôn ngữ học.
Chính sự phát triển này đã tạo đà cho các nhà ngôn ngữ học quan tâm nhiều hơn những vấn đề liên quan đến lời nói trong sự kiện giao tiếp. Qua tìm hiểu, chúng tôi đưa ra một số hướng nghiên cứu tiêu biểu sau: 1. Hướng nghiên cứu lời nói theo cấu trúc hệ thống Ở hướng nghiên cứu này, theo quan sát chúng tôi chỉ có một số nghiên cứu về mô hình sử dụng các hành vi ngôn ngữ thông dụng trong giao tiếp theo nghi thức lời nói. Tiêu biểu phải kể đến nghiên cứu “Cách dùng nghi thức lời nói tiếng Nga” của N.
Trong công trình này, tác giả miêu tả và phân loại các hành vi ngôn ngữ như xưng hô, thu hút sự chú ý, làm quen, chào hỏi, tạm biệt, chúc mừng, chúc tụng, cảm ơn, xin lỗi, mời, khuyên nhủ-đề nghị, an ủi-cảm thông-chia buồn, khen ngợi-tán đồng, nói chuyện điện thoại. Tất cả những hành vi ngôn ngữ đó được minh họa qua băng ghi âm, những ví dụ được trích trong các tác phẩm văn học. Đây là một công trình nghiên cứu chứa đựng lượng kiến thức phong phú lý giải cho nghi thức lời nói mặc dù có thiên hướng nhiều về thực hành. Phơrơmanốpxcaia cùng A.A Akisina xuất bản cuốn sách về“Nghi thức lời nói Nga” (1987) [1].
Các tác giả đưa ra một loạt bảng biểu mẫu, tình huống sử dụng và diễn giải theo từng nhóm đề tài, kèm theo là các ví dụ minh họa và một số hội thoại trong tình huống cụ thể. Trong phần hội thoại có cả đối đáp và phản đáp từ những dẫn liệu tiêu biểu, sinh động và phong phú đầy tính thiết thực và hữu dụng. 6 Cùng với sự phát triển không ngừng các nghiên cứu trên thế giới về lời nói trong sự kiện giao tiếp, ở trong nước đã có một số nhà ngôn ngữ học quan tâm và đi sâu tìm hiểu về lời nói và nghi thức lời nói. Thái Duy Bảo (1988) [69] “đối chiếu nghi thức lời nói đối thoại Anh – Việt”, tác giả đi vào miêu tả, đối chiếu các khuôn mẫu nghi thức lời nói trong năm phạm trù “giao tế” cơ bản và nêu lên những đặc trưng của các hành vi ngôn ngữ như: hành vi xưng hô, chào hỏi, tiễn biệt, cảm ơn, xin lỗi, mời, yêu cầu, v.
Đồng thời, luận án còn nêu điều kiện dùng các phát ngôn, các mã tín hiệu kèm theo ngôn ngữ đặc thù trong những bối cảnh giao tiếp tương đồng xét trên bình diện dụng học. Phạm Thị Thành (1995) [63] nghiên cứu tìm hiểu các phát ngôn chào, cám ơn, xin lỗi bằng cách phân loại theo nội dung ngữ nghĩa giao tiếp và cấu trúc của các phát ngôn trong hoạt động giao tiếp mang tính nghi thức. Từ việc hình thành lên các khuôn mẫu theo từng hành vi, tác giả phân tích những tác động của hoạt động giao tiếp tới sự hình thành nội dung ngữ nghĩa và cấu trúc cú pháp của các phát ngôn này. Luận án có một ngữ liệu nghiên cứu khá đa dạng như trong các tiểu thuyết, truyện ngắn, tạp chí trong các giáo trình dạy tiếng Việt hiện đại đến các cuộc đối thoại trong phim, kịch, tiểu phẩm trên truyền hình và trong đời thường được ghi âm lại.
Nguyễn Văn Khang (1996)[41] đã đề cập đến một loại nghi thức lời nói thể hiện hành vi xưng gọi trong giao tiếp gia đình người Việt. Tác giả tập trung mô tả và đưa ra các kiểu chào thường gặp trong gia đình người Việt. Nguyễn Văn Lập (2005) [46] miêu tả và phân loại nghi thức lời nói khẩu ngữ tự nhiên của tiếng Việt theo các nhóm thông dụng nhất. Đặc biệt tác giả đối chiếu hai loại khuôn mẫu nghi thức lời nói trong tiếng Việt và tiếng Anh-Mỹ về nghi thức lời nói biểu thị hành vi yêu cầu và nghi thức lời nói biểu thị hành vi cảm ơn.
Hướng nghiên cứu lời nói theo dụng học Trên thế giới, Austin (1965) và Searle (1969), Hymes (1964), Grice (1975), Levinson (1983), Schmidt & Richards (1985), Yule (1996),v.v, có những nghiên cứu về lý thuyết hành vi ngôn ngữ, cho thấy được “một sự điều chỉnh sâu sắc và cơ bản đối với quan niệm của F.de Sausure về mối quan hệ giữa ngôn ngữ và lời nói” [16]. Austin [46] phát hiện ra bản chất hành vi ngôn ngữ là hành vi được thực hiện ngay khi nói năng và ngôn ngữ là phương tiện thực hiện hành vi đó. Nói như tác giả Nguyễn Văn Hiệp về tư tưởng cốt lõi của Austin một cách đầy đủ “nói là hành vi” [38]. Austin chia hành vi ngôn ngữ làm ba tiểu hành vi: Hành vi tạo lời (locutionary act), hành vi ở lời (illocutionary act), hành vi mượn lời (perlocutionary act).
Khi phát ngôn của người nói kết thúc thì cũng là lúc người nói thực hiện xong hành vi ngôn ngữ. Searle [107] hoàn thiện và phát triển thêm khái niệm hành vi ngôn ngữ. Theo tác giả các qui tắc mà con người tuân thủ cũng đồng thời là những quy tắc mà hành vi ngôn ngữ phải tuân theo. Để phân biệt các hành vi ngôn ngữ Searle đưa ra mười hai điểm khác biệt và dựa vào bốn tiêu chí quan trọng hơn cả là đích ở lời, hướng khớp ghép giữa lời và hiện thực, trạng thái tâm lý, nội dung mệnh đề để phân lập thành năm nhóm hành vi ở lời.
Đã có một số nhà ngôn ngữ nghiên cứu đưa ra những quan điểm, những bài viết liên quan đến hành vi ngôn ngữ như: Searle J. Ở Việt Nam, lý thuyết về hành vi ngôn ngữ cũng được bàn luận khá nhiều trong những công trình của Đỗ Hữu Châu, Bùi Minh Toán (1993), Nguyễn Đức Dân (1998), Nguyễn Thiện Giáp (2004), v. Các tác giả không những giới thiệu các quan điểm tiêu biểu của các nhà nghiên cứu trên thế giới mà còn đưa ra những lập luận riêng trên cứ liệu tiếng Việt. Sự xuất hiện của lý thuyết hành vi ngôn ngữ có tác động mạnh mẽ tới các nghiên cứu ứng dụng thực tiễn ở Việt Nam.
Một số nghiên cứu về hành vi cảm 8 ơn (Ngô Hữu Hoàng, 1998; Đỗ Thị Thuý Vân, 2019), hành vi khen (Nguyễn Văn Quang, 1999; Phạm Thị Hà, 2013); sự kiện lời nói cho, tặng (Chử Thị Bích, 2008); các phát ngôn chào, cảm ơn, xin lỗi (Huỳnh Thị Nhĩ, 2010; Nguyễn Văn Khang, 2014); hành vi chê, hành vi từ chối, hành vi yêu cầu, hành vi nhờ v. được coi là những hành vi ngôn ngữ để nghiên cứu các hành vi trực tiếp, hành vi gián tiếp; các biểu thức ngôn ngữ, các biến thể; các yếu tố ngôn ngữ và thực tế sử dụng các hành vi ngôn ngữ đó. Sau đây là những nghiên cứu tiêu biểu: Nguyễn Văn Quang (1999) [50] đã chỉ ra một số khác biệt giao tiếp lời nói trong cách thức khen và tiếp nhận lời khen của người Việt và người Mỹ. “Khen” được coi là một hành vi ngôn trung giao tiếp.
Xét theo các thông số giao tiếp, tác giả mô tả việc sử dụng cách thức khen trực tiếp và gián tiếp trong từng ngôn ngữ, các dấu hiệu từ vựng tình thái, đồng thời nêu ra những điểm tương đồng và dị biệt. Kết quả nghiên cứu này giúp cho những người sử dụng ngôn ngữ tránh được các xung đột văn hóa tiềm năng trong giao tiếp. Đây là một sự khẳng định tầm quan trọng của dụng học giao thoa văn hóa nhằm phục vụ cho giảng dạy ngoại ngữ theo đường hướng giao tiếp và các lĩnh vực có liên quan. Dương Tuyết Hạnh (2006) [8] khảo sát hành vi nhờ trong hội thoại hàng ngày và các tác phẩm văn học Việt Nam hiện đại, tiểu thuyết, truyện ngắn, kịch bản phim (đã được văn bản hoá) để chỉ ra các biểu thức ngữ vi nhờ, cách rào đón và phép lịch sự trong sự kiện lời nói nhờ.
Huỳnh Thị Nhĩ (2010) [16] đã vận dụng một số kết luận về nghi thức tiếng Việt của Phạm Thị Thành [63] đưa ra cấu trúc, tình huống và chiến lược thực hiện các phát ngôn chào, cám ơn, xin lỗi dựa theo lý thuyết về hành vi ngôn ngữ và lý thuyết lịch sự và xác định các yếu tố ảnh hưởng đến cách sử dụng các phát ngôn đó trên cứ liệu tiếng Anh và tiếng Việt. Đồng thời tác giả có những gợi ý hướng dẫn sinh viên Việt Nam học tiếng Anh-Mỹ theo đúng cách của người Mỹ khi giao tiếp với họ, giúp sinh viên nâng cao năng lực giao tiếp. Ngô Hương Lan (2014) [58] chỉ ra đặc điểm hành vi từ chối lời cầu khiến trong tiếng Nhật và biểu hiện của nó bằng ngôn ngữ tiếng Nhật với những biểu 9 thức cụ thể; những điểm giống và khác nhau giữa tiếng Nhật và tiếng Việt và ứng dụng kết quả nghiên cứu vào việc giảng dạy tiếng Nhật như một ngoại ngữ đối với người Việt dưới ánh sáng của lí thuyết lịch sự và góc nhìn của giao tiếp liên văn hoá. Hướng nghiên cứu theo ngôn ngữ học xã hội Từ khi ngôn ngữ học xã hội (sociolinguistics) xuất hiện, đã có nhiều nội dung được nghiên cứu gắn liền với tên các tác giả như: Fasold (1990), Labov (1967), Trudgill (2000),v.v, trong đó nổi bật có một số nghiên cứu theo hướng giao tiếp tương tác của các tác giả như Saville-Troike (1986), Hymes (1974), v.
Ngôn ngữ học xã hội tương tác được phát triển trên cơ sở của dân tộc học giao tiếp (Ethnography of Communication) với mục đích là dùng tri thức ngôn ngữ để lý giải quá trình và kết quả giao tiếp giữa con người với con người; chỉ ra được những đặc trưng trong sử dụng ngôn ngữ trong nền văn hóa khác nhau; giải thích phương thức giao tiếp giữa những người có nền văn hóa khác nhau. Ở Việt Nam cũng đã có một số nhà nghiên cứu quan tâm và đi sâu vào nghiên cứu về ngôn ngữ học xã hội cả những nghiên cứu lý thuyết và thực hành. Nguyễn Văn Khang (2014) [44] đề cập đến nghi thức lời nói với các nhân tố chi phối: trường hợp chào gặp mặt và chào từ biệt, cảm ơn và xin lỗi. Tác giả liệt kê các mô hình từ hạt nhân đến mở rộng tối đa và phân tích đặc điểm những nghi thức đó với các nhân tố xã hội chi phối như: nhân tố thời đại, nhân tố phân tầng xã hội (giới, tuổi, vùng miền, quyền lực, nhóm xã hội khác tác động đến cách chọn ngôn ngữ).