Chương 1: Giới thiệu chung về nghiên cứu Chương 2: Tổng quan nghiên cứu, khoảng trống và mô hình nghiên cứu Chương 3: Phương pháp nghiên cứu Chương 4: Kết quả nghiên cứu Chương 5: Kết luận và khuyến nghị LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 8 CHƯƠNG 2. TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU, KHOẢNG TRỐNG VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU 2. Một số vấn đề chung về thực hiện CSR 2. Lịch sử hình thành và phát triển của CSR * CSR trong những năm 1950 Những năm 1950 đánh dấu sự ra đời của một khái niệm mới – CSR của DN khi Bowen xuất bản cuốn sách của mình với nhan đề "CSR của Doanh nhân" vào năm 1953.
Ông định nghĩa "CSR đề cập đến nghĩa vụ của DN theo đuổi các chính sách, để thực hiện những quyết định, hoặc theo đuổi các hành động đó là mong muốn về các mục tiêu và các giá trị của xã hội" (Bowen, 1953). Các DN tham gia vào CSR cần thực hiện một cách tự nguyện với sự can thiệp tối thiểu của chính phủ. Tuy nhiên, một vài năm sau đó, ông đặt câu hỏi về suy nghĩ đầu tiên của mình bằng cách lập luận rằng "tôi đã xem đó là CSR tự nguyện không thể dựa vào hình thức quan trọng của việc kiểm soát DN. Sức mạnh của kinh doanh lấn át CSR tự nguyện" (Frederick, 2006).
Sau nghiên cứu của Bowen, Theodore Levitt đã nghiên cứu về CSR với tuyên bố "Công việc của chính phủ không phải là kinh doanh và công việc kinh doanh không phải là của Chính phủ" (Levitt, 1958). Kế thừa từ lập luận trên của Levitt, Friedman cho rằng "CSR duy nhất của một DN là theo đuổi mục tiêu tối đa hóa lợi nhuận cho các cổ đông trong ranh giới quy định bởi luật” (Friedman, 1970). Quan điểm này đã bị chỉ trích nặng nề trong quá trình hình thành cơ sở lý thuyết về CSR và thậm chí ngày nay nhiều học giả vẫn đưa ra lập luận nhằm mục đích để chứng minh rằng Friedman sai. Cách tiếp cận của ông dựa trên lý thuyết đại lý và ngụ ý rằng các DN "chỉ có nghĩa vụ đáp ứng lợi ích của các cổ đông, chính phủ là người chịu trách nhiệm chăm sóc các khía cạnh xã hội và các khía cạnh môi trường thông qua áp dụng luật”.
"Cách lập luận này xem CSR là một sự lãng phí nguồn lực có thể được sử dụng như lợi nhuận cho các cổ đông hoặc làm phương tiện đầu tư nội bộ” (McWilliams et al. Mặc dù Bowen và Friedman có cách tiếp cận khác nhau đáng kể về CSR, nhưng giả định cơ bản của họ là giống nhau. Cả hai đều quan tâm đến mục tiêu tối đa hóa lợi nhuận để cải thiện hoạt động tài chính. Sự khác biệt của 2 nghiên cứu đó là Bowen công nhận CSR như một cơ hội cho các DN nhằm tăng cường lợi ích của chính họ, trong khi đó Friedman xem CSR như là một mối đe dọa.
LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 9 * CSR trong những năm 1960 và 1970 Davis (1960) cho rằng "CSR cần được phân tích từ một quan điểm khác, quan điểm mới này bổ sung thêm nghĩa vụ đạo đức” (Davis, 1960). "Các DN nên tham gia vào hoạt động CSR vì vừa là quyền, cũng là điều kiện cần” (Davis, 1973). Ủy ban phát triển kinh tế (CED-Commission Economic Development, 1970) tuyên bố "các Tổng công ty nên là tổ chức hoạt động trong toàn xã hội thay vì chỉ trên thị trường” (Frederick, 2006). Sau này CED cho rằng CSR của DN không chỉ để sản xuất các sản phẩm, dịch vụ và hành động từ thiện, mà thực hiện CSR cần hoạt động theo chiều hướng thỏa mãn nhu cầu và mong đợi của xã hội.
CED đề cập rõ các khái niệm về khế ước xã hội và cho rằng CSR là một yêu cầu bắt buộc chứ không phải là tự nguyện. Các DN cần tập trung vào 10 lĩnh vực chủ yếu như tăng trưởng kinh tế và hiệu quả, giáo dục, việc làm và đào tạo, dân quyền và cơ hội bình đẳng, đổi mới đô thị và phát triển, ngăn chặn ô nhiễm, bảo tồn và vui chơi giải trí, văn hóa và nghệ thuật, chăm sóc y tế và mối quan hệ với chính phủ (Frederick, 2006). Sự nổi bật trong báo cáo của CED về CSR là đã đề xuất các DN nên hợp tác với chính phủ. Xu hướng này trùng với các tiếp cận nhiều năm sau đó, "CSR cần được thực hiện bằng việc hợp tác với chính phủ nhằm thể hiện một ưu tiên đối với việc bảo vệ quyền tự chủ của thị trường tự do” (Eilbert and Parket, 1973).
Thời gian sau xuất hiện mô hình khái niệm ba chiều của Carroll (Carroll, 1979). Trong mô hình này, tương tự như hệ thống cấp bậc nhu cầu của Maslow, Carroll lập luận "CSR của DN nên bao gồm bốn trách nhiệm kinh tế, pháp lý, đạo đức và nhân văn”. Các DN nên xác định các trách nhiệm CSR của mình, xác định các lĩnh vực CSR và sau đó quyết định xem nên đáp ứng chủ động hoặc thụ động. Mặc dù mô hình có thể đơn giản, nhưng lần đầu tiên vạch ra cho các DN một chiến lược cụ thể để làm theo.
Các đề xuất của Carroll tạo thành 3 chủ đề chính đến nay vẫn còn được tranh luận trong tổng quan về CSR (Blowfield and Murray, 2008). * CSR trong những năm 1990 Các yếu tố đạo đức bắt đầu được đề cập nhiều hơn nữa sau sự xuất hiện nhiều vụ tai tiếng ở các công ty nổi tiếng như Bhopal, Chernobyl và Exxon Valdez. Chính vì vậy, vào đầu những năm 1990 các học giả như (Donaldson and Davis, 1991) lập luận rằng các DN nên tham gia vào hoạt động CSR vì đó là điều phải làm và không phải vì bất kỳ mối quan hệ với hoạt động tài chính của DN. Trong một nhận thức tương tự, Wood đề xuất tầm quan trọng của thực hiện CSR sẽ cho kết quả rõ rệt về cải thiện kinh doanh, xây dựng mối quan hệ tốt với cộng đồng và cho rằng trách nhiệm của DN LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 10 ngoài tài chính và pháp lý, thì các nhà quản lý cần quan tâm đến các hành động như đạo đức và từ thiện.
Các DN nên thay đổi để hướng đến "sản xuất ít gây hại và kết quả mang lại lợi ích nhiều hơn cho xã hội và con người" (Wood, 1991). Nghiên cứu này đã dẫn đến các khái niệm về quyền công dân DN mà sau này đã trở thành một hướng đi riêng trong thực hiện CSR. Năm 1999 Archie Carroll đã phát triển một khái niệm khác biệt về CSR, theo đó, CSR "là tất các vấn đề kinh tế, pháp lý, đạo đức, nhân văn và những lĩnh vực khác mà xã hội trông đợi ở DN trong mỗi thời điểm nhất định" (Carroll, 1999). Tuy nhiên cách diễn đạt này của Carroll khiến nhiều người hiểu lầm rằng để phấn đấu thực hiện được nghĩa vụ cao hơn thì DN phải thỏa mãn được nghĩa vụ thấp hơn trước và các nghĩa vụ này cũng có sự phân biệt khá rạch ròi giữa đạo đức và từ thiện, giữa nghĩa vụ pháp lý và nghĩa vụ kinh tế.
Trên thực tế khi thực hiện các nghĩa vụ vẫn phải lồng ghép vào nhau và nhiều khi tồn tại song song trong cùng một sự việc. * CSR trong thế kỷ 21 Giai đoạn này các nhà nghiên cứu tập trung phân tích mối quan hệ giữa CSR với chiến lược, sau đó kết luận rằng các DN thực hiện CSR theo hướng hợp nhất vào chiến lược kinh doanh nhằm sử dụng CSR có lợi cho DN. CSR vị tha đề cập đến hành động thực hiện bởi các DN nhằm đáp ứng nhu cầu của xã hội, trong khi CSR chiến lược đề cập đến việc DN sử dụng CSR để nắm bắt giá trị. Castka và cộng sự đã tiết lộ rằng DN nhỏ có thể được hưởng lợi từ CSR, cải thiện kết quả kinh doanh của họ và phát triển lợi thế cạnh tranh, ISO 9001 được xem là một phương tiện để hội nhập vào các hoạt động CSR của DN (Castka et al.
Tương tự như vậy, Cambra-Fierro và cộng sự kết luận rằng quy mô của DN không ảnh hưởng đến hành vi của DN đối với CSR (Cambra- Fierro et al. Trong một suy nghĩ tương tự, Jenkins cho rằng DN nhỏ cần có sự hỗ trợ trong việc áp dụng CSR và có thể tận dụng được các cơ hội do thực hiện CSR cũng như tối đa hóa lợi ích kinh doanh từ các cơ hội như vậy (Jenkins, 2009). Tiếp tục tập trung rà soát lại khái niệm CSR và các nhà quản lý cần thiết phải có kiến thức về CSR (Lockett et al. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 11 Các vụ bê bối của DN Nhiều chủ và vấn đề Ít định nghĩa đề về CSR toàn cầu.
hơn, tập trung trong quản Ảnh hưởng phân tích sâu lý chiến lược của CSR đối Sự thay đổi các khái niệm Wood với các lĩnh lớn trong CSR – kỷ (1991) vực kinh nghiên cứu nguyên thực Carroll doanh về CSR và hiện các vấn (1991,1999) Margolis & Phát triển sự tự phát đề xã hội của Walsh Jones CSR và tìm triển về mặt DN (2001) (1995), kiếm sự hợp học thuật Freeman Suchman Porter & Kỷ nguyên lý CSR (1984) Kramer (1995) hiện đại về Davis (1960) Fredman Warwick & (2002) trách nhiệm Hart (1997) McGuire Milton Cochran Kotler & xã hội Quản lý các (1963) (1970) (1985) Lee (2005) Bowen bên liên Các phản Carroll Xem xét các quan và lý Chiến lược (1953) ứng bên (1977, 1979, bên liên quan thuyết thể CSR là lợi Các vấn đề ngoài của tổ 1999) và sự kết hợp thế cạnh chế. CSR đạo đức chức được Sự tranh chặt chẽ hơn được xem tranh được đề cập xem là định luận của 2 với hiệu quả như một Trách nhiệm hướng trường phái của DN công cụ xã hội của nghiên cứu đối lập. Nổi chiến lược những bật là mô Những người kinh hình thực năm 2000 doanh dụng Những Những năm 1990 Những năm 1980 Những năm 1970 Những năm 1960 năm 1950 Hình 2.1: Sự phát triển của CSR giai đoạn 1950 -2000 Nguồn: Nada Kakabadse, Cécile Rozuel, Linda Lee-Davies (2005), "Corporate social responsibility and stakeholder approach: a conceptual review", International Journal of Business Governance and Ethics, Vol. Lợi ích của thực hiện CSR Theo nghiên cứu của McKensey vào năm 2007 cho thấy, 95% trong số 391 CEOs tại Hoa Kỳ được phỏng vấn trả lời rằng xã hội mong đợi DN thực hiện hoạt động CSR nhiều hơn so với 5 năm trước và 50% trong số họ khẳng định mong đợi này sẽ tăng rất cao trong vòng 5 năm tới 2012.
Người tiêu dùng ngày càng đặt ít niềm tin vào sản LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 12 phẩm và vào DN, điều này tạo nên áp lực cho các DN phải hành xử đúng mực để gây dựng lòng tin.