Luận án tiến sĩ ngoại khoa: Đánh giá kết quả phẫu thuật mở bể thận có nội soi hỗ trợ điều trị sỏi thận nhiều viên - Học viện Quân Y 2019

Tôi có thể giúp bạn tạo meta tags cho bài viết theo yêu cầu. Dưới đây là kết quả: { "ai_description": "Đánh giá kết quả phẫu thuật mở bể thận có nội soi hỗ

Trường đại học

Học viện Quân y

Chuyên ngành

Ngoại khoa

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận án tiến sĩ

2019

190
0
0

Phí lưu trữ

45 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan về phẫu thuật mở bể thận nội soi hỗ trợ

Phẫu thuật mở bể thận là kỹ thuật kinh điển trong điều trị sỏi thận. Kỹ thuật này được lựa chọn khi sỏi nằm trong bể thận hoặc sỏi thận nhiều viên phức tạp. Ưu điểm nổi bật là kỹ thuật tương đối đơn giản, ít chảy máu, không tổn thương nhu mô thận. Phẫu thuật không làm ảnh hưởng đến chức năng và hình thái thận. Tỷ lệ mở bể thận lấy sỏi không khó khăn chiếm khoảng 63%. Điều kiện thuận lợi gồm bể thận và rốn thận rộng, không viêm dính quanh thận, sỏi nằm ngoài xoang. Khi có nội soi hỗ trợ, phẫu thuật viên quan sát trực tiếp các đài thận. Điều này giúp lấy triệt để sỏi nhiều viên ở các đài thận khó tiếp cận. Nội soi hỗ trợ khắc phục nhược điểm mù của mổ mở truyền thống. Nhờ đó, tỷ lệ sạch sỏi được cải thiện rõ rệt. Luận án tiến sĩ của Nguyễn Duy Thịnh tại Học viện Quân Y đã đánh giá kết quả phương pháp này. Nghiên cứu cung cấp bằng chứng khoa học về hiệu quả và an toàn. Đây là hướng điều trị đáng cân nhắc cho sỏi thận nhiều viên.

1.1. Giải phẫu đài bể thận liên quan phẫu thuật

Thận có hình thể chung và cấu trúc đài bể thận phức tạp. Đài bể thận gồm đài nhỏ, đài lớn và bể thận. Phẫu thuật viên cần nắm rõ hình thái đài bể thận. Tỷ lệ có một động mạch thận dao động theo từng nghiên cứu. Auson ghi nhận 36%, Perner ghi nhận 87,8%, Trịnh Xuân Đàn ghi nhận 69,8%. Mạch máu thận chia thành động mạch trước bể và sau bể. Vị trí phân nhánh có thể ngoài xoang, trong xoang hoặc tại rốn thận. Kiến thức giải phẫu giúp tránh tổn thương cuống mạch lớn. Đường mở bể thận cần phù hợp với phân bố mạch máu. Điều này giảm nguy cơ chảy máu trong mổ.

1.2. Đặc điểm sỏi thận nhiều viên

Sỏi thận nhiều viên là tình trạng xuất hiện từ hai viên sỏi trở lên trong đài bể thận. Sỏi phân bố rải rác ở bể thận và các đài thận. Kích thước và số lượng sỏi rất đa dạng. Một số trường hợp sỏi kết hợp với sỏi san hô. Hình thái sỏi ảnh hưởng trực tiếp đến phương pháp xử lý. Sỏi nằm ở đài dưới thường khó tiếp cận hơn. Góc bể thận đài dưới quyết định khả năng đưa dụng cụ vào. Sỏi nhiều viên thường đi kèm tình trạng nhiễm khuẩn tiết niệu. Vì vậy, cần đánh giá toàn diện trước phẫu thuật. Phân loại vị trí, số lượng, kích thước sỏi giúp lựa chọn chiến thuật mổ hợp lý.

II. Sỏi thận nhiều viên và thách thức điều trị ngoại khoa

Sỏi thận nhiều viên đặt ra nhiều thách thức trong điều trị ngoại khoa. Phương pháp kinh điển mở bể thận lấy sỏi chỉ định cho sỏi dưới 2cm. Sỏi nằm đơn thuần trong bể thận không viêm dính là trường hợp lý tưởng. Tuy nhiên, sỏi nhiều viên thường nằm sâu trong xoang thận. Sỏi ở các đài thận khó lấy bằng dụng cụ thông thường. Phẫu thuật viên dễ bỏ sót sỏi khi mổ mở đơn thuần. Cố gắng lấy sỏi lớn nằm sâu có thể gây tai biến. Kéo dài đường rạch bể thận vào nhu mô rất nguy hiểm. Nguy cơ tổn thương cuống mạch lớn gần rốn thận luôn hiện hữu. Các phương pháp ít xâm lấn như tán sỏi ngoài cơ thể có hạn chế. Lấy sỏi thận qua da khó xử lý sỏi nhiều viên phân tán. Vì vậy, cần phương pháp kết hợp hiệu quả và an toàn. Phẫu thuật mở bể thận có nội soi hỗ trợ giải quyết bài toán này. Phương pháp kết hợp ưu điểm mổ mở và khả năng quan sát trực tiếp. Nhờ đó, xử lý triệt để sỏi nhiều viên trong một thì mổ.

2.1. Chỉ định và chống chỉ định phẫu thuật

Phẫu thuật mở bể thận có nội soi hỗ trợ phù hợp với sỏi thận nhiều viên. Chỉ định gồm sỏi bể thận kèm sỏi đài thận khó lấy. Phương pháp cũng dùng cho sỏi san hô không quá phức tạp. Bệnh nhân có bể thận và rốn thận rộng là điều kiện thuận lợi. Chống chỉ định khi có rối loạn đông máu nặng. Nhiễm khuẩn tiết niệu cấp chưa kiểm soát cũng cần trì hoãn. Sỏi san hô phức tạp nhiều nhánh chùy ở đài thận không nên mổ. Chức năng thận đối bên suy giảm cần cân nhắc kỹ. Đánh giá toàn diện trước mổ giúp lựa chọn bệnh nhân chính xác. Phân loại mức độ suy thận theo KDIGO được áp dụng.

2.2. So sánh với các phương pháp điều trị khác

Tán sỏi ngoài cơ thể ít xâm lấn nhưng khó trị sỏi nhiều viên. Hiệu quả giảm với sỏi lớn và sỏi đài dưới. Lấy sỏi thận qua da hiệu quả nhưng xâm lấn nhu mô thận. Phương pháp này nguy cơ chảy máu và tổn thương mạch máu. Nội soi niệu quản ngược dòng khó lấy sỏi ở đài dưới. Mở bể thận kinh điển có thể bỏ sót sỏi đài thận. Phẫu thuật mở bể thận có nội soi hỗ trợ khắc phục nhược điểm trên. Nội soi ống mềm quan sát toàn bộ đài thận. Laser Holmium tán nhỏ sỏi ngay trong lòng đài thận. Phương pháp bảo tồn nhu mô thận và ít chảy máu. Đây là lựa chọn phù hợp cho sỏi thận nhiều viên phức tạp.

III. Phương pháp phẫu thuật mở bể thận nội soi hỗ trợ

Quy trình phẫu thuật mở bể thận có nội soi hỗ trợ được tiến hành có hệ thống. Bệnh nhân được gây mê toàn thân hoặc tê tủy sống. Phẫu thuật viên bộc lộ thận và bể thận qua đường mổ thích hợp. Bể thận được mở theo kỹ thuật kinh điển. Dụng cụ gắp sỏi lấy sỏi trong bể thận trước. Sau đó, đưa ống soi mềm vào các đài thận. Nội soi giúp quan sát trực tiếp sỏi còn sót lại. Sỏi ở đài thận được xử lý bằng laser Holmium. Trường hợp cổ đài hẹp, phẫu thuật viên nong cổ đài trong mổ. Bơm rửa lấy sỏi đài thận qua đường mở bể thận cũng được áp dụng. Kiểm tra lại toàn bộ hệ thống đài bể thận trước khi đóng. Đặt thông niệu quản và dẫn lưu nếu cần thiết. Kỹ thuật đòi hỏi phẫu thuật viên giàu kinh nghiệm. Sự phối hợp giữa mổ mở và nội soi cần nhịp nhàng. Mục tiêu là lấy sạch sỏi và bảo tồn tối đa chức năng thận.

3.1. Kỹ thuật mở bể thận và đưa ống soi

Đường mở bể thận được lựa chọn dựa trên vị trí sỏi. Mở bể thận mặt trước ít được sử dụng vì mạch máu che phủ. Mở bể thận mặt sau phổ biến và an toàn hơn. Phẫu thuật viên bộc lộ bể thận và vùng rốn thận. Cần tránh tổn thương động mạch và tĩnh mạch thận. Sau khi mở bể thận, lấy sỏi nằm trong bể thận. Ống soi mềm được đưa qua đường mở vào các đài thận. Góc bể thận đài dưới ảnh hưởng đến thao tác nội soi. Nong cổ đài giúp đưa ống soi vào đài thận dễ dàng. Kết hợp bơm rửa làm bật sỏi nhỏ ra khỏi đài thận.

3.2. Xử lý sỏi trong mổ bằng laser Holmium

Nội soi ống mềm hỗ trợ xác định chính xác vị trí sỏi. Sỏi nhỏ được lấy trực tiếp bằng rọ hoặc kẹp qua ống soi. Sỏi lớn được tán nhỏ bằng laser Holmium. Năng lượng laser phá vỡ cấu trúc sỏi thành mảnh nhỏ. Thời gian tán sỏi phụ thuộc vào kích thước và độ cứng sỏi. Mảnh sỏi sau tán được bơm rửa ra ngoài. Trong quá trình làm thủ thuật, sỏi có thể di chuyển. Phẫu thuật viên cần theo dõi và kiểm soát liên tục. Laser Holmium ít gây tổn thương tổ chức quanh sỏi. Đây là công cụ quan trọng giúp đạt sạch sỏi tối đa.

IV. Kết quả và ứng dụng phẫu thuật mở bể thận nội soi

Đánh giá kết quả phẫu thuật cần xem xét nhiều tiêu chí khác nhau. Tiêu chí quan trọng nhất là tỷ lệ sạch sỏi sau mổ. Kết quả được kiểm tra bằng chụp X quang hoặc nội soi. Thời gian phẫu thuật phản ánh mức độ phức tạp ca mổ. Lượng máu mất và biến chứng đánh giá tính an toàn. Chức năng thận được theo dõi qua xét nghiệm trước và sau mổ. Nồng độ ure, creatinin huyết thanh là chỉ số quan trọng. Độ thanh thải creatinin phản ánh mức lọc cầu thận. Suy thận được phân độ theo thang điểm KDIGO. Kết quả lâu dài đánh giá nguy cơ tái phát sỏi. Phẫu thuật mở bể thận có nội soi hỗ trợ cho tỷ lệ sạch sỏi cao. Phương pháp ít tai biến và bảo tồn chức năng thận. Nghiên cứu tại Học viện Quân Y khẳng định hiệu quả. Đây là phương pháp đáng ứng dụng rộng rãi trong lâm sàng.

4.1. Đánh giá kết quả sớm và kết quả lâu dài

Kết quả sớm được đánh giá ngay sau phẫu thuật. Các chỉ số gồm thời gian mổ, lượng máu mất, biến chứng. Tỷ lệ sạch sỏi được xác định trên phim chụp sau mổ. Kết quả lâu dài theo dõi sự phục hồi chức năng thận. Cần đánh giá mức độ suy thận theo phân loại KDIGO. Tái phát sỏi là chỉ số quan trọng trong theo dõi lâu dài. Yếu tố nhiễm khuẩn tiết niệu ảnh hưởng đến kết quả. Việc tuân thủ điều trị sau mổ quyết định hiệu quả bền vững. Chế độ dinh dưỡng và uống đủ nước giúp phòng ngừa tái phát. Nghiên cứu cho thấy phương pháp đạt kết quả khả quan. Hầu hết bệnh nhân phục hồi chức năng thận tốt sau mổ.

4.2. Giá trị ứng dụng trong thực hành lâm sàng

Phẫu thuật mở bể thận có nội soi hỗ trợ có giá trị thực tiễn cao. Phương pháp phù hợp với điều kiện bệnh viện tuyến tỉnh. Trang thiết bị nội soi ống mềm và laser ngày càng phổ biến. Kỹ thuật giúp xử lý triệt để sỏi thận nhiều viên. Bệnh nhân tránh được nhiều lần can thiệp phẫu thuật. Phương pháp giảm chi phí điều trị và thời gian nằm viện. Kết quả tốt góp phần nâng cao chất lượng điều trị ngoại khoa. Luận án tiến sĩ y học cung cấp bằng chứng khoa học vững chắc. Kết quả nghiên cứu giúp phẫu thuật viên lựa chọn phương pháp phù hợp. Đây là tài liệu tham khảo hữu ích cho đào tạo và thực hành.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI. Nếu bạn thấy nội dung không chính xác hoặc có vấn đề, vui lòng Báo lỗi nội dung.

19/05/2026
Luận án tiến sĩ ngoại khoa đánh giá kết quả phẫu thuật mở bể thận có nội soi hỗ trợ điều trị sỏi thận nhiều viên

Trích đoạn nội dung tài liệu

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ QUỐC PHÒNG HỌC VIỆN QUÂN Y NGUYỄN DUY THỊNH ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ PHẪU THUẬT MỞ BỂ THẬN CÓ NỘI SOI HỖ TRỢ ĐIỀU TRỊ SỎI THẬN NHIỀU VIÊN LUẬN ÁN TIẾN SĨ Y HỌC HÀ NỘI ­ 2019 BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ QUỐC PHÒNG HỌC VIỆN QUÂN Y NGUYỄN DUY THỊNH ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ PHẪU THUẬT MỞ BỂ THẬN CÓ NỘI SOI HỖ TRỢ ĐIỀU TRỊ SỎI THẬN NHIỀU VIÊN Chuyên ngành: NGOẠI KHOA Mã số : 9720104 LUẬN ÁN TIẾN SĨ Y HỌC NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: 1.TS Đào Quang Minh 2.TS Nguyễn Phú Việt HÀ NỘI ­ 2019 LỜI CAM ĐOAN Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của tôi với sự hướng dẫn khoa học của tập thể cán bộ hướng dẫn. Các kết quả nêu trong luận án là trung thực và được công bố một phần trong các bài báo khoa học. Luận án chưa từng được công bố. Nếu có điều gì sai tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm.

Tác giả Nguyễn Duy Thịnh MỤC LỤC Trang phụ bìa Lời cam đoan Mục lục Danh mục chữ viết tắt trong luận án Danh mục các bảng Danh mục các biểu đồ Danh mục các hình MỤC LỤC.5 DANH MỤC BẢNG. 29 DANH MỤC BIỂU ĐỒ. 31 DANH MỤC HÌNH.3 TỔNG QUAN TÀI LIỆU. Đặc điểm giải phẫu thận liên quan tới phẫu thuật.

Hình thể chung của thận. Giải phẫu đài bể thận liên quan đến phẫu thuật. Giải phẫu mạch máu liên quan đến phẫu thuật. 6 Tỷ lệ có một ĐM cho mỗi thận dao động theo các tác giả: Auson (1936) là 36%, Perner (1973) là 87,8% (dẫn theo [15]), Trịnh Xuân Đàn (1999) là 69,8% [11].

Ngoài ĐM thận chính, có thêm một ĐM chiếm 17,7%, hai ĐM chiếm 2,4%, còn nhiều hơn nữa thì hiếm. Một bên thận có nhiều ĐM chiếm 76,5%, cả hai bên có hai ĐM chiếm 37,5%, cả hai bên thận có ba ĐM là 11% [15].7 Theo đa số các tác giả, nguyên ủy ĐM thận không quan trọng, mà điều đáng quan tâm là cách phân nhánh của ĐM thận: ĐM thận chính sau khi vào rốn thận, chia làm 2 ngành trước và sau bể; ĐM thận phụ là những ĐM đi vào rốn thận chỉ cấp máu cho một vùng thận, ĐM không đi vào rốn thận cấp máu cho một vùng thận là ĐM xiên hay ĐM cực. Theo quan điểm này đôi khi khó phân biệt giữa ĐM thận chính và ĐM thận phụ. (1978) phân biệt: nhiều ĐM thận là trường hợp các ĐM có nguyên uỷ từ ĐM chủ bụng đi vào rốn thận, ĐM thận phụ là ĐM không xuất phát từ động mạch chủ bụng nhưng đi vào rốn thận, quan điểm của Aivazian A.

7 Tỷ lệ thận có ĐM cực dao động từ 14,2 ­ 31,7%, trong đó ĐM cực trên nhiều hơn ĐM cực dưới, về nguyên ủy của ĐM cực: trong 31,7% trường hợp có động mạch cực thì: 23,5% có nguyên ủy từ ĐM thận, ĐM trước bể hoặc ĐM sau bể; 8,2% có các nguồn gốc khác [17]. 8 70 ­ 80% các trường hợp, ĐM thận chia thành 2 ngành: ĐM trước bể và ĐM sau bể khi còn cách rốn thận 1­3 cm [15], [18], số còn lại chia thành chùm: 3­5 ngành tận, trong xoang hay sát rốn thận [15]. ĐM thận chia ngoài xoang chiếm tỷ lệ 68­ 80%; chia trong xoang: 18%; chia tại rốn thận: 14% [18], [19]. 8 Do vậy, tại rốn thận có thể tìm thấy một ĐM: 53,3%, hai ĐM: 7,9%, ba ĐM: 1,9%.

Tỷ lệ thấy một ĐM sau khi đã tách ra ĐM cực trên là 14,3% [17]. Nhánh ĐM đầu tiên tách từ ĐM thận theo tỷ lệ: ĐM cho phân thuỳ sau 50%, ĐM cực trên 33%, ĐM phân thuỳ trước trên 8,7% [18].8 ĐM trước bể chạy chếch xuống dưới, sau đó chia thành 3­5 nhánh thường ỏ ngoài xoang, 64,6% các trường hợp các nhánh này tỏa ra che phủ kín mặt trước bể thận, sau đó mới đi vào rốn thận [12]. ĐM sau bể có hai đoạn: đoạn thứ nhất chạy ngang đi theo bờ trên bể thận, sau đó ĐM này đổi hướng trở thành đoạn thứ hai chạy thẳng xuống dưới và bắt chéo mép sau rốn thận hình chữ X để vào trong xoang, khi vào trong xoang ĐM sau bể mới chia thành 3­5 nhánh chi phối phân thuỳ sau [15]. 8 Trong xoang, ĐM phân thuỳ nằm trong tổ chức mỡ nằm giữa đài bể thận và nhu mô.

Ở mặt trước, các ĐM phân thuỳ che phủ kín bể thận, đặc biệt ĐM cho phân thuỳ cực dưới thường bắt chéo mặt trước bể thận sau đó đi qua góc trước dưới rốn thận (62,2%) và chi phối cực dưới thận. Do đó phẫu thuật vào mặt trước thận rất nguy hiểm [12]. 8 Ở mặt sau thận, sau khi vào trong xoang, đoạn thứ hai của ĐM sau bể có phần đi hơi ngang hơn, do đó ĐM phân thuỳ sau và các nhánh của nó thường chỉ che phủ phần sau trên bể thận và liên quan phần trên mép sau rốn thận; 57,3% các ĐM này liên quan chỗ tiếp giáp bể thận và đài trên; 42,7% còn lại ĐM sau bể và các nhánh của nó liên quan 1/3 giữa bể thận [12]. Các nhánh của ĐM phân thuỳ sau thường tận hết trước khi đi tới góc sau dưới rốn thận.

Do đó phẫu thuật vào mặt sau thận đặc biệt là góc sau dưới rốn thận là phù hợp với giải phẫu của thận [12]. Trong thực tế ĐM sau bể vẫn có các nhánh xuống chi phối cho cực dưới với tỷ lệ khoảng 30% tùy theo thống kê [8], [11], [20], khi đó phẫu thuật vào vùng góc sau dưới rốn thận nhiều khi cũng gặp khó khăn.9 Trong thận, mỗi ĐM thùy đảm nhiệm một thùy (tháp Malpighi) và vùng vỏ tương ứng. Trước khi đi vào nhu mô, mỗi ĐM thuỳ chia thành vài ĐM liên (gian) thùy, các ĐM này chạy quanh tháp và đi về phía đáy tháp, sau đó tách ra ĐM cung nằm giữa vùng vỏ và vùng tủy [12]. ĐM cung có kích thước và nhánh bên lớn nhất ở hai mặt thận, rồi tới bờ lồi thận và bé nhất ở vùng sát mép rốn thận.

ĐM cung tách: nhánh thẳng đi vào trong tháp Malpighi để nối với TM thẳng và ĐM liên tiểu thùy đi giữa các tháp Ferrein, từ đó cho các nhánh ĐM tới đi vào cuộn mạch của tiểu cầu thận.9 Hệ tĩnh mạch (TM) ngoài thận được hình thành khi phôi dài 3 cm, tới tháng cuối trước khi sinh, mới hình thành và hoàn thiện hệ thống tĩnh mạch trong thận.9 Gần giống như nghiên cứu ĐM, nghiên cứu phân chia hệ TM thận có thể dùng các phương pháp: làm tiêu bản ăn mòn và phẫu tích kinh điển. Mới đầu, từ mạng lưới mao mạch bao quanh ống lượn gần, ống lượn xa, một phần quai Henlé và ống góp, các TM này nối với nhau thành mạng lưới tĩnh mạch hình sao ở vùng vỏ. Các TM hình sao cùng với TM thẳng trong tháp Malpighi đổ vào TM cung nằm ở đáy tháp Malpighi. TM cung nối thông với nhau thành mạng lưới, sau đó TM chạy tùy hành ĐM đi ra rốn thận.9 Hệ thống TM thận được nối thông trong mỗi nửa thận (trước hoặc sau) nhờ ba đám rối: TM hình sao, TM mạch cung, TM liên thùy.

Nối thông giữa hai nửa thận do tĩnh mạch thùy ở cổ đài (cung TM sâu) [21].10 Các nhánh TM chính trước khi chập thành TM thận còn gọi là tĩnh mạch phân thuỳ, có thể tìm thấy ở xung quanh rốn thận [21]. Tỷ lệ là 53,8% có 3 nhánh TM chính, tỷ lệ là 28,8% có hai nhánh TM chính [21]. Các nhánh tĩnh mạch chính thường che phủ kín mặt trước rốn thận sau đó kết hợp với nhau trong hoặc ngoài xoang tạo thành TM thận, 40% TM thận có liên quan tận tới khúc nối bể thận ­ niệu quản [21].10 69,2% có nhánh TM sau bể, trong đó TM này nhận máu của phân thuỳ sau và cực trên là 48,9%; 21,1% còn lại TM sau bể chỉ nhận máu của riêng phân thuỳ sau [21]. Phân loại sỏi thận.10 * Nguồn: Dẫn theo Trần Văn Hinh (2001) [15].

Các phương pháp điều trị sỏi thận. Tán sỏi ngoài cơ thể. Lấy sỏi thận qua da đơn trị và phối hợp với tán sỏi ngoài cơ thể. Phẫu thuật mở điều trị soỉ thận.

Cać đường mở bể thân ̣ trong phẫu thuật mở lấy sỏi thận. Mở bể thận mặt trước lấy sỏi. Mở bể thận mặt sau lấy sỏi. Đường mở bể thận theo chiều ngang.

Đường mở bể thận theo chiều dọc. Mở bể thận trong xoang có vén rốn thận. Các nghiên cứu hạn chế sót sỏi trong phẫu thuật mở điều trị sỏi thận. Sử dụng Xquang trong mổ.

Ứng dụng siêu âm trong mổ. Nội soi trong mổ. Một số kết quả ứng dụng ống soi mềm và laser Holmium trong điều trị sỏi thận. Sơ lược lịch sử và sự phát triển của ống soi mềm.

Kết quả ứng dụng nội soi ống mềm trong điều trị sỏi thận 29 * Phẫu thuật nội soi lấy sỏi kết hợp với ống soi mềm. Vai tròcuả Laser Homium trong điêu ̀ trị. 35 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU. Đối tượng nghiên cứu.

Tiêu chuẩn chọn bệnh. Tiêu chuẩn loại trừ. Phương pháp nghiên cứu. Phương pháp nghiên cứu.

Công thức tính cỡ mẫu. Nội dung nghiên cứu. Ghi nhận các đặc điểm lâm sàng.41 + Tuổi và giới tính. 41 Tuổi bệnh nhân: tính theo năm và được chia thành các nhóm: [21­ 40]; [41­60]; [> 60].

41 Giới tính: chia thành 2 giới và xác định tỷ lệ nam/nữ.41 + Chỉ số BMI.41 ­ Chỉ số khối cơ thể (Body Mass Index) được tính theo công thức: .41 Trọng lượng cơ thể (kg).41 ­ Phân nhóm BMI theo 4 mức:. Bệnh nhân gày: < 18,5. Bệnh nhân trung bình: 18,5 ­ 22,9. Bệnh nhân béo: 23 ­ 24,9.

Bệnh nhân tiền béo phì: 25 ­ 29,9. Bệnh nhân béo phì: ≥ 30. 41 + Bệnh lý toàn thân kết hợp.41 Được chia thành các nhóm bệnh: Bệnh hô hấp, bệnh tim mạch, bệnh nội tiết, bệnh tiêu hóa, bệnh xương khớp.41 Tiêu chuẩn chẩn đoán bệnh kết hợp: được chẩn đoán theo ý kiến khám chuyên khoa. 41 + Bệnh lý tiết niệu kết hợp.

41 Tăng sản lành tính tuyến tiền liệt.41 42 + Các phương pháp điều trị sỏi đã áp dụng trước đó, chia thành các nhóm:.42 ­ Chưa điều trị. 42 ­ Điều trị nội khoa.42 ­ Tán sỏi ngoài cơ thể.42 ­ Điều trị ngoại khoa: Sau mổ mở lấy sỏi, sau mổ nội soi, sau lấy sỏi qua da. Ghi nhận các đặc điểm cận lâm sàng.42 Phân độ suy thận: Chúng tôi phân độ suy thận theo KDIGO [108] 43 ­ Thận ứ nước độ I: Bể thận căng nước tiểu, đáy các đài thận giãn nhẹ. Chỉ số nhu mô (parenchyma)/ bể thận (pelvis) vẫn bình thường bằng 2/1 (PPI = 2/1).

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ