Tổng quan luận án
Bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính (BPTNMT) là bệnh lý hô hấp phổ biến với gánh nặng bệnh tật và tỷ lệ tử vong cao trên quy mô toàn cầu. Khí phế thũng (KPT) là một trong những tổn thương giải phẫu bệnh và sinh lý bệnh cơ bản của BPTNMT, đặc trưng bởi sự căng giãn quá mức của phổi, hiện tượng bẫy khí và phá hủy cấu trúc phế nang. Những thay đổi này làm giảm tính đàn hồi hồi phục của nhu mô phổi, chèn ép các phần phổi lành lân cận và đẩy phẳng cơ hoành, dẫn đến khó thở tiến triển và suy giảm nghiêm trọng chất lượng cuộc sống của người bệnh.
Phương pháp phẫu thuật giảm thể tích phổi (LVRS) nhằm cắt bỏ vùng phổi khí phế thũng nặng đã được chứng minh có hiệu quả cải thiện chức năng thông khí nhưng lại đi kèm tỷ lệ tử vong và tai biến chu phẫu cao. Để giảm thiểu rủi ro phẫu thuật, kỹ thuật can thiệp giảm thể tích phổi qua nội soi phế quản bằng đặt van một chiều đã được phát triển trên thế giới từ đầu những năm 2000. Tại Việt Nam, kỹ thuật đặt van phế quản một chiều được bắt đầu triển khai từ tháng 1 năm 2014 tại Bệnh viện Quân y 103. Luận án tiến sĩ y học của nghiên cứu sinh Đào Ngọc Bằng, thực hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của GS.TS. Đồng Khắc Hưng và PGS.TS. Tạ Bá Thắng tại Học viện Quân y (năm 2018), được thực hiện nhằm giải quyết khoảng trống dữ liệu về đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng và đánh giá hiệu quả can thiệp của phương pháp này trên bệnh nhân Việt Nam.
Luận án xác định 2 mục tiêu nghiên cứu cụ thể:
- Xác định một số đặc điểm lâm sàng, hình ảnh cắt lớp vi tính lồng ngực và rối loạn chức năng hô hấp ở bệnh nhân bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính có khí phế thũng nặng ngoài đợt cấp.
- Đánh giá hiệu quả điều trị giảm thể tích phổi bằng đặt van một chiều qua nội soi phế quản ở bệnh nhân bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính có khí phế thũng nặng ngoài đợt cấp.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
- Đối tượng: Gồm 66 bệnh nhân được chẩn đoán xác định BPTNMT có khí phế thũng nặng ngoài đợt cấp. Trong đó, toàn bộ 66 bệnh nhân được sử dụng để thực hiện Mục tiêu 1; đối với Mục tiêu 2, bệnh nhân được chia thành 2 nhóm: nhóm can thiệp đặt van gồm 33 bệnh nhân (được nội soi phế quản đặt van một chiều kết hợp điều trị nội khoa duy trì) và nhóm chứng gồm 33 bệnh nhân (chỉ điều trị nội khoa duy trì).
- Địa điểm nghiên cứu: Trung tâm Hô hấp - Bệnh viện Quân y 103 và Khoa Lao và Bệnh phổi - Bệnh viện Trung ương Quân đội 108.
- Thời gian nghiên cứu: Từ tháng 12 năm 2013 đến tháng 6 năm 2017.
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Luận án đã hệ thống hóa các công trình dịch tễ học và sinh lý bệnh học tiêu biểu trong và ngoài nước:
- Về dịch tễ học: Các nghiên cứu toàn cầu như nghiên cứu PLATINO (2005) tại 5 thành phố lớn ở Mỹ Latinh, nghiên cứu BOLD của Buist A. và cộng sự (2007) tại 12 quốc gia ghi nhận tỷ lệ mắc BPTNMT giai đoạn II chiếm 10,1% và khu vực Đông Nam Á có tỷ lệ mắc cao (12,5%). Tổng hợp của Adeloye D. và cộng sự (2015) chỉ ra xu hướng gia tăng tỷ lệ mắc trên toàn cầu, nam nhiều hơn nữ. Tại Việt Nam, nghiên cứu cấp nhà nước của Bệnh viện Phổi Trung ương (2006-2007) ghi nhận tỷ lệ BPTNMT chung là 2,2% (nam 3,4%, nữ 1,1%), ở lứa tuổi trên 40 là 4,1%.
- Về chẩn đoán hình ảnh và phân loại khí phế thũng: Luận án phân tích cơ sở phân loại giải phẫu bệnh của Lynch D. (2014) gồm ba thể: KPT trung tâm tiểu thùy, KPT toàn bộ tiểu thùy và KPT cạnh vách. Phương pháp đánh giá mức độ KPT trực quan trên cắt lớp vi tính (CLVT) ngực qua 3 lát cắt chuẩn của Makita H. và cộng sự (2007) chia thang điểm từ 0 đến 4. Tính chất đồng nhất của tổn thương được đánh giá theo tiêu chuẩn thử nghiệm NETT (Criner G. và cộng sự, 2011) và chỉ số đồng nhất HI (Heterogeneity Index), trong đó HI > 1,15 được xác định là KPT không đồng nhất.
- Về rối loạn chức năng hô hấp và cơ học phổi: Tổng hợp các kết quả của Nguyễn Huy Lực (2010), Phạm Kim Liên (2012), Grippi M. (2004), Pauls S., Mahut B., Ju J. (2014) và Litmanovich D. về mối tương quan giữa sự gia tăng thể tích khí cặn (RV), dung tích toàn phổi (TLC), sức cản đường thở (Raw) và suy giảm thể tích thở ra tối đa giây đầu tiên (FEV1), dung tích khuếch tán khí qua màng phế nang mao mạch (DLCO).
- Về các kỹ thuật can thiệp giảm thể tích phổi: Luận án điểm lại lịch sử từ phẫu thuật cắt bóng khí và phẫu thuật tạo hình phổi (Brantigan, Cooper) đến 5 nhóm kỹ thuật nội soi can thiệp hiện đại:
- Nút phế quản silicon (Watanabe Spigots): tỷ lệ di lệch cao, hiệu quả hạn chế.
- Dây xoắn kim loại nitinol (Sha P. - nghiên cứu RESET 2013, Herth F. 2010, RENEW): phù hợp trường hợp có thông khí bàng hệ nhưng hiệu quả còn cần kiểm chứng thêm.
- Keo sinh học hydrogel và bọt polymer tổng hợp BioLVR (Reilly J. 2007, Criner G. 2009, Herth F. 2011): cơ chế gây viêm tạo xơ sẹo không hồi phục, thường gây phản ứng giả cúm.
- Hơi nước nhiệt (Snell G. 2009, Gompelmann D. 2013): dùng nhiệt năng làm xẹp mô phổi, không phụ thuộc thông khí bàng hệ nhưng có nguy cơ đợt cấp và viêm phổi.
- Đặt stent xuyên thành tạo cầu nối by-pass (Cardoso P. 2007, Sha P. 2011): giải áp khí cặn nhưng chỉ duy trì hiệu quả ngắn hạn (dưới 6 tháng) và nguy cơ chảy máu cao.
- Đặt van phế quản một chiều (Zephyr, Intrabronchial): Toma (2003), Snell (2003), Sciurba F. (nghiên cứu VENT 2006, 2010), Wan I. (2006), Hopkinson N. (2011), Venuta F. (2005, 2012), Herth F. (Euro-VENT 2012), Wood D. (2014), Park T. (2014) và Eberhart R. (2012).
| Tác giả |
Năm |
Cỡ mẫu |
Số van trung bình/BN |
Kết quả cải thiện chính |
Biến chứng ghi nhận |
| Sciurba F. và CS |
2006 |
220 |
3,8 |
FEV1 tăng 5,8%, SMWD tăng 15 m |
Viêm phổi (4,2%), ho máu (6,1%), đợt cấp (7,9%) |
| Wan I. và CS |
2006 |
98 |
4,0 |
FEV1 tăng 10,7 ± 26,2%, RV giảm 4,9 ± 17,4% |
Tràn khí màng phổi (8,2%), tử vong (1,02%) |
| Herth F. và CS |
2012 |
111 |
3,0 |
FEV1 tăng 7 ± 20%, RV giảm 80 ± 0,3% SLT |
Tràn khí màng phổi (4,5%), di lệch van (7,2%) |
| Wood D. và CS |
2014 |
142 |
6,6 |
Thể tích thùy phổi đích giảm có ý nghĩa (p < 0,01) |
Viêm phổi (2,1%), đợt cấp (1,41%), suy hô hấp (1,41%) |
| Park T. và CS |
2014 |
43 |
3,0 |
FEV1 tăng 32,4 ± 34,2%, SMWD tăng 54,3 ± 97,5 m |
Tràn khí màng phổi (30,2%), ho máu (9,3%), tử vong (2,33%) |
Khoảng trống nghiên cứu: Kỹ thuật đặt van một chiều Zephyr đã được áp dụng rộng rãi tại châu Âu nhưng còn tương đối mới tại khu vực châu Á và Việt Nam. Luận án là công trình nghiên cứu lâm sàng có nhóm chứng đầu tiên tại Việt Nam đánh giá bài bản từ đặc điểm giải phẫu bệnh - sinh lý bệnh đến kết quả can thiệp thực tế của phương pháp đặt van một chiều qua nội soi.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Luận án áp dụng khung lý thuyết về cơ học phổi và khí động học đường thở trong BPTNMT có khí phế thũng nặng:
- Nguyên lý hoạt động của van phế quản một chiều (Zephyr): Van có cấu trúc hình mỏ vịt bọc màng silicon tự mở gắn trên khung hợp kim Nitinol. Khi đặt vào phế quản thùy hoặc phân thùy đích, van chỉ mở ra cho phép khí cặn và dịch tiết thoát ra ngoài ở thì thở ra, đồng thời đóng kín hoàn toàn ở thì hít vào để ngăn không khí đi vào phân thùy tổn thương. Nhờ đó, phân thùy đích xẹp dần, làm giảm thể tích phổi ứ khí, giảm áp lực trong lồng ngực và tái lập vị trí giải phẫu thuận lợi cho cơ hoành và các phần phổi lành hoạt động.
- Nguyên lý thông khí bàng hệ: Sự tồn tại của các đường thông khí bàng hệ qua kênh Lambert, lỗ Kohn hoặc rãnh liên thùy không hoàn chỉnh sẽ cung cấp khí đi vòng vào thùy phổi đặt van, làm mất hiệu quả gây xẹp phổi. Do đó, việc đo thông khí bàng hệ âm tính bằng hệ thống Chartis là điều kiện tiên quyết.
Tiêu chuẩn lựa chọn bệnh nhân:
- Bệnh nhân BPTNMT giai đoạn ổn định theo tiêu chuẩn GOLD (2013), FEV1/FVC < 0,7 sau test hồi phục phế quản.
- Tuổi từ 18 trở lên, đã ngừng hút thuốc lá trên 6 tháng.
- Có khí phế thũng nặng trên CLVT lồng ngực (vùng giảm tỷ trọng dưới -950 HU), thể không thuần nhất hoặc có bóng khí lớn.
- Bẫy khí nặng đo trên thể tích ký thân: RV ≥ 150% số lý thuyết (SLT), TLC ≥ 100% SLT; FEV1 từ 20% đến 45% SLT.
- Khoảng cách đi bộ 6 phút (SMWD) > 140 mét.
- Đánh giá thông khí bàng hệ âm tính dưới vị trí đặt van bằng hệ thống Chartis.
Tiêu chuẩn loại trừ:
- Đang trong đợt cấp BPTNMT; giãn phế nang thuần nhất; có bóng khí khổng lồ chiếm > 1/3 thể tích một bên phổi.
- Mắc các bệnh lý phối hợp: ung thư phổi, lao phổi tiến triển, hen phế quản.
- Chống chỉ định soi phế quản và đo CNHH: nhồi máu cơ tim dưới 6 tháng, rối loạn nhịp tim nặng, suy hô hấp nặng không kiểm soát, suy tim nặng, suy thận nặng, rối loạn đông máu, dị ứng niken/titanium/silicon.
Thiết bị và phương tiện thu thập dữ liệu:
- Máy chụp cắt lớp vi tính SOMATOM Spirit (Siemens).
- Máy đo chức năng hô hấp và thể tích ký thân Vmax 20 Encore (SensorMedics).
- Máy phân tích khí máu động mạch GEM Premier 3000.
- Hệ thống đo thông khí bàng hệ Chartis (Pulmonx), ống nội soi phế quản mềm, catheter chuyên dụng, bộ nạp van và van phế quản một chiều Zephyr (kích cỡ 4.0 và 5.5).
Phương pháp nghiên cứu:
- Thiết kế nghiên cứu: Can thiệp lâm sàng có đối chứng không ngẫu nhiên kết hợp mô tả cắt ngang và theo dõi dọc thuần tập.
- Đánh giá lâm sàng và cận lâm sàng tại các thời điểm: Trước can thiệp (T0), sau 1 tháng (T1), sau 3 tháng (T3) và sau 6 tháng (T6).
- Các biến số đánh giá: Điểm khó thở mMRC, điểm chất lượng cuộc sống CAT, quãng đường SMWD, các thông số CNHH (FEV1, FVC, FEV1/FVC), thể tích ký thân (RV, TLC, FRC, RV/TLC, Raw), khí máu động mạch (PaO2, PaCO2, SaO2, pH, HCO3-) và các biến cố bất lợi.
- Xử lý số liệu: Sử dụng phần mềm thống kê y học (so sánh bắt cặp trước - sau bằng paired t-test hoặc Wilcoxon test, so sánh giữa hai nhóm bằng Student's t-test hoặc Mann-Whitney U test; phân tích tương quan tuyến tính Pearson/Spearman; mức ý nghĩa thống kê p < 0,05).
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Tổng quan về bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính và điều trị giảm thể tích phổi
Chương này tập trung trình bày dịch tễ học bệnh BPTNMT toàn cầu và tại Việt Nam. Tác giả phân tích sâu cơ chế sinh lý bệnh của hiện tượng căng giãn phổi quá mức: khi các sợi elastin bị phá hủy, sức đàn hồi co hồi của phổi mất đi, dẫn đến sự xẹp sớm của các đường thở nhỏ trong thì thở ra. Điều này gây bẫy khí, làm tăng dung tích cặn chức năng (FRC) và thể tích khí cặn (RV).
Chương 1 cũng tổng quan chi tiết lịch sử can thiệp giảm thể tích phổi, so sánh ưu nhược điểm của các kỹ thuật nội soi hiện hành (nút phế quản, dây xoắn kim loại, keo sinh học, nhiệt hơi nước, tạo cầu nối by-pass và van một chiều), đồng thời phân tích cơ chế giải phẫu của 3 thể KPT và vai trò của chỉ số đồng nhất HI cùng hệ thống đo thông khí bàng hệ Chartis.
Chương 2: Đối tượng và phương pháp nghiên cứu
Trình bày chi tiết quy trình chọn mẫu gồm 66 bệnh nhân tại Bệnh viện Quân y 103 và Bệnh viện Trung ương Quân đội 108. Tác giả mô tả chi tiết:
- Quy trình chuẩn bị bệnh nhân: điều trị nội khoa tối ưu giai đoạn ổn định, ngừng hút thuốc lá > 6 tháng, tập phục hồi chức năng hô hấp.
- Kỹ thuật đo thông khí bàng hệ bằng hệ thống Chartis qua ống nội soi mềm để xác định thùy đích có thông khí bàng hệ âm tính.
- Kỹ thuật chọn cỡ van Zephyr (4.0/5.5) dựa trên đường kính lòng phế quản đích đo bằng catheter chuyên dụng.
- Kỹ thuật nạp và phóng thích van Zephyr vào các phân thùy của thùy phổi tổn thương nặng nhất (ưu tiên thùy trên).
- Quy trình theo dõi, chăm sóc sau can thiệp và phát hiện sớm các biến chứng (đặc biệt là tràn khí màng phổi trong 72 giờ đầu).
- Các tiêu chuẩn đạo đức nghiên cứu y sinh học được hội đồng chuyên môn thông qua.
Chương 3: Kết quả nghiên cứu
Kết quả nghiên cứu được trình bày thông qua hệ thống các bảng và biểu đồ số liệu:
- Đặc điểm lâm sàng, hình ảnh CLVT và CNHH của 66 bệnh nhân nghiên cứu:
- Tuổi trung bình cao, đa số là nam giới có tiền sử hút thuốc lá nhiều năm; triệu chứng khó thở mMRC ở mức cao, điểm CAT thể hiện chất lượng cuộc sống suy giảm rõ rệt.
- Hình ảnh CLVT ngực cho thấy tỷ lệ KPT không đồng nhất chiếm ưu thế, vị trí tổn thương nặng tập trung chủ yếu ở hai thùy trên; điểm KPT theo thang điểm Makita H. ở mức độ nặng (độ 3, độ 4 chiếm tỷ lệ cao).
- Thăm dò chức năng hô hấp ghi nhận tắc nghẽn đường thở rất nặng (FEV1 giảm sâu), ứ khí phổi nặng nề với RV và TLC tăng cao trên 150% SLT; sức cản đường thở (Raw) tăng rõ rệt; khí máu động mạch có tình trạng giảm PaO2 máu.
- Phân tích tương quan: Điểm khí phế thũng trên CLVT có mối tương quan nghịch với FEV1 (r < 0, p < 0,05) và tương quan thuận có ý nghĩa thống kê với RV, TLC và RV/TLC (r > 0, p < 0,05).
- Kết quả can thiệp đặt van phế quản một chiều (33 bệnh nhân nhóm đặt van so với 33 bệnh nhân nhóm chứng):
- Số lượng và vị trí đặt van: Trung bình mỗi bệnh nhân được đặt từ 1 đến 4 van Zephyr (chủ yếu là 3-4 van để bịt kín hoàn toàn một thùy phổi đích, vị trí hay gặp nhất là thùy trên phổi phải và thùy trên phổi trái).
- Thay đổi lâm sàng: Sau can thiệp 1 tháng, 3 tháng và 6 tháng, nhóm đặt van có sự cải thiện rõ rệt: điểm khó thở mMRC giảm mạnh, điểm CAT giảm có ý nghĩa thống kê, quãng đường đi bộ 6 phút (SMWD) tăng đáng kể so với trước can thiệp và vượt trội so với nhóm chứng (p < 0,01).
- Thay đổi CNHH và thể tích ký thân: Nhóm can thiệp ghi nhận FEV1 và FVC tăng lên có ý nghĩa sau 1, 3 và 6 tháng; thể tích khí cặn (RV), dung tích toàn phổi (TLC) và tỷ lệ RV/TLC giảm rõ rệt sau 3 và 6 tháng (p < 0,001), chứng tỏ giảm bẫy khí phổi thành công; sức cản đường thở Raw giảm.
- Thay đổi khí máu: Phân áp oxy động mạch (PaO2) và độ bão hòa oxy máu (SaO2) cải thiện sau can thiệp ở nhóm đặt van so với nhóm chứng.
- Biến chứng: Ghi nhận một số trường hợp tràn khí màng phổi sớm sau đặt van (được xử trí dẫn lưu khí màng phổi ổn định), đợt bùng phát BPTNMT, ho máu nhẹ thoáng qua; biến chứng muộn có thể gặp mô hạt tại vị trí đặt van hoặc viêm phổi nhẹ, không ghi nhận tử vong trực tiếp do thủ thuật.
Chương 4: Bàn luận
Tác giả bàn luận, so sánh các phát hiện với y văn:
- Đặc điểm bệnh nhân BPTNMT có KPT nặng tại Việt Nam có nhiều điểm tương đồng với các nghiên cứu quốc tế về mức độ ứ khí và suy giảm chức năng thông khí.
- Luận án khẳng định sự cần thiết của việc đánh giá toàn diện bằng thể tích ký thân thay vì chỉ đo thông khí phổi đơn thuần, bởi chỉ số RV và TLC phản ánh trung thực mức độ bẫy khí và căng giãn quá mức.
- Bàn luận sâu về cơ chế cải thiện chức năng sau đặt van: Việc bịt kín hoàn toàn thùy phổi tổn thương không có thông khí bàng hệ giúp làm xẹp thùy đích, giảm thể tích vùng khoảng chết, tái lập tính đàn hồi của phần phổi còn lại và cải thiện biên độ co bóp cơ hoành. Kết quả cải thiện FEV1, RV và khoảng cách đi bộ 6 phút tương đương với kết quả thử nghiệm VENT (Sciurba F., 2010) và Euro-VENT (Herth F., 2012).
- Phân tích nguyên nhân và cách xử trí biến chứng tràn khí màng phổi: Xảy ra do sự giãn nở đột ngột của thùy phổi lành còn lại sau khi thùy bệnh xẹp xuống nhanh chóng, khẳng định đây là một chỉ dấu gián tiếp cho thấy thủ thuật đặt van đã đạt hiệu quả cơ học tốt.
Kết quả và những đóng góp mới
- Đóng góp về mặt khoa học:
- Cung cấp số liệu hệ thống và toàn diện về đặc điểm lâm sàng, hình ảnh CLVT độ phân giải cao, các biến đổi cơ học phổi đo bằng thể tích ký thân và rối loạn trao đổi khí ở nhóm bệnh nhân BPTNMT có khí phế thũng nặng ngoài đợt cấp tại Việt Nam.
- Chứng minh mối tương quan chặt chẽ giữa mức độ phá hủy cấu trúc nhu mô phổi trên CLVT với mức độ bẫy khí (RV, TLC) và mức độ tắc nghẽn thông khí (FEV1).
- Đóng góp về mặt thực tiễn:
- Đánh giá thành công hiệu quả lâm sàng và chức năng của kỹ thuật nội soi đặt van phế quản một chiều Zephyr kết hợp điều trị nội khoa tại Việt Nam thông qua nghiên cứu có đối chứng. Kỹ thuật giúp cải thiện rõ rệt triệu chứng khó thở, nâng cao khả năng gắng sức, tăng thông khí FEV1, giảm đáng kể thể tích khí cặn RV và cải thiện oxy máu động mạch sau 1, 3 và 6 tháng theo dõi.
- Chuẩn hóa quy trình sàng lọc chỉ định đặt van tại Việt Nam: nhấn mạnh vai trò bắt buộc của chụp CLVT đánh giá tính không đồng nhất, đo thể tích ký thân xác định bẫy khí và đo thông khí bàng hệ bằng hệ thống Chartis trước can thiệp.
- Khuyến nghị ứng dụng:
- Đưa kỹ thuật đặt van phế quản một chiều thành phương pháp điều trị can thiệp chuyên sâu tại các trung tâm hô hấp lớn cho bệnh nhân BPTNMT có khí phế thũng nặng không đáp ứng tối ưu với điều trị nội khoa.
- Cần theo dõi sát bệnh nhân trong 72 giờ đầu sau thủ thuật tại cơ sở y tế có khả năng can thiệp lồng ngực để phát hiện và xử trí kịp thời biến chứng tràn khí màng phổi.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
- Hạn chế: Thời gian theo dõi dọc trong luận án dừng lại ở mốc 6 tháng; cỡ mẫu nhóm can thiệp (n = 33) còn ở mức vừa phải do kỹ thuật mới triển khai và chi phí vật tư can thiệp (van Zephyr, hệ thống Chartis) còn cao đối với điều kiện kinh tế của người bệnh.
- Hướng nghiên cứu tiếp: Tiếp tục theo dõi dài hạn nhóm bệnh nhân đã đặt van (từ 12 tháng đến 3-5 năm) để đánh giá độ bền của van, tỷ lệ xuất hiện mô hạt phế quản, nguy cơ di lệch van và tỷ lệ sống còn tích lũy; mở rộng nghiên cứu đánh giá hiệu quả chi phí - y tế của kỹ thuật trong bối cảnh bảo hiểm y tế tại Việt Nam.
Giá trị tham khảo
- Đối với bác sĩ chuyên khoa Hô hấp và Nội soi can thiệp: Luận án cung cấp hướng dẫn thực hành chi tiết về quy trình chọn bệnh, kỹ thuật đo Chartis loại trừ thông khí bàng hệ, kỹ thuật thả van Zephyr và phác đồ xử trí tai biến chu phẫu.
- Đối với bác sĩ thăm dò chức năng hô hấp: Tài liệu là nguồn tham khảo giá trị về phương pháp ứng dụng thể tích ký thân (Body Plethysmography) để lượng giá bẫy khí (RV, FRC, TLC) và sức cản đường thở (Raw) trong đánh giá bệnh lý tắc nghẽn mạn tính.
- Đối với học viên sau đại học và nghiên cứu sinh: Cung cấp mô hình thiết kế nghiên cứu can thiệp lâm sàng có nhóm chứng, quy trình thu thập và phân tích dữ liệu đa thông số từ lâm sàng, hình ảnh học đến huyết động và khí máu.
Câu hỏi thường gặp
-
Tiêu chuẩn bắt buộc để chỉ định can thiệp đặt van phế quản một chiều trong nghiên cứu là gì?
Bệnh nhân BPTNMT giai đoạn ổn định, đã bỏ thuốc lá trên 6 tháng; FEV1 từ 20% đến 45% SLT; RV ≥ 150% SLT, TLC ≥ 100% SLT đo bằng thể tích ký thân; khoảng cách đi bộ 6 phút (SMWD) > 140 mét; hình ảnh CLVT có KPT nặng không đồng nhất hoặc bóng khí lớn; và bắt buộc phải có kết quả đo thông khí bàng hệ âm tính qua hệ thống Chartis.
-
Tại sao phải đo thông khí bàng hệ bằng hệ thống Chartis trước khi quyết định đặt van?
Nếu giữa thùy phổi đích và các thùy phổi lân cận có các cầu nối thông khí bàng hệ (qua lỗ Kohn, ống Lambert hoặc rãnh liên thùy không hoàn chỉnh), không khí từ vùng khác vẫn sẽ đi vòng vào thùy phổi sau khi đặt van. Khi đó, thùy đích không thể xẹp xuống, làm mất hoàn toàn hiệu quả giảm thể tích phổi của thủ thuật.
-
Cơ chế nào giúp bệnh nhân cải thiện triệu chứng khó thở và tăng khả năng gắng sức sau khi đặt van một chiều?
Van một chiều Zephyr ngăn không khí đi vào nhưng cho phép khí cặn và dịch nhầy thoát ra ở thì thở ra, làm xẹp thùy phổi khí phế thũng nặng. Việc giảm thể tích này giúp giảm áp lực khoang lồng ngực, tạo không gian cho các phân thùy phổi lành còn lại nở ra trao đổi khí, đồng thời đưa vòm hoành trở lại hình dạng vồng tự nhiên, giúp các cơ hô hấp hoạt động hiệu quả hơn.
-
Biến chứng nào thường gặp nhất sau can thiệp đặt van phế quản một chiều và nguyên nhân do đâu?
Biến chứng sớm đáng chú ý nhất là tràn khí màng phổi (thường xuất hiện trong 72 giờ đầu). Nguyên nhân là do thùy phổi đích xẹp xuống nhanh chóng, làm cho thùy phổi lành còn lại phải giãn nở đột ngột để bù đắp thể tích trong khoang màng phổi, dẫn đến nguy cơ rách màng phổi tạng ở những vị trí có bóng khí nhỏ.
Kết luận
Luận án tiến sĩ của tác giả Đào Ngọc Bằng đã khảo sát toàn diện các đặc điểm lâm sàng, hình ảnh cắt lớp vi tính và rối loạn chức năng hô hấp ở 66 bệnh nhân BPTNMT có khí phế thũng nặng ngoài đợt cấp. Công trình đã chứng minh tính an toàn và hiệu quả vượt trội của kỹ thuật nội soi đặt van phế quản một chiều Zephyr kết hợp điều trị nội khoa so với nhóm chứng chỉ điều trị nội khoa đơn thuần trên các khía cạnh cải thiện lâm sàng, tăng thông khí FEV1, giảm bẫy khí RV và nâng cao khả năng gắng sức sau 6 tháng theo dõi. Kết quả nghiên cứu khẳng định giá trị thực tiễn của quy trình thăm dò thông khí bàng hệ Chartis và đặt nền tảng khoa học vững chắc cho việc ứng dụng kỹ thuật giảm thể tích phổi qua nội soi tại Việt Nam.