Nghiên Cứu Đặc Điểm Lâm Sàng Và Kết Quả Điều Trị Sỏi Đường Mật Chính Bằng Phẫu Thuật Nội Soi

Nghiên cứu đặc điểm lâm sàng và kết quả điều trị sỏi đường mật chính bằng phẫu thuật nội soi tại bệnh viện đa khoa trung ương Cần Thơ.

Trường đại học

Đại Học Y Dược Cần Thơ

Chuyên ngành

Ngoại khoa

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận Văn Chuyên Khoa Cấp II

2019

120
11
0

Phí lưu trữ

35 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU

1.1. Giải phẫu đường mật

1.2. Đặc điểm sinh lý bài tiết mật

1.3. Thành phần hóa học và cơ chế hình thành của sỏi

1.4. Đặc điểm lâm sàng và cận lâm sàng bệnh sỏi đường mật chính

1.5. Chẩn đoán hình ảnh trong bệnh lý sỏi đường mật chính

1.6. Điều trị sỏi đường mật bằng phẫu thuật

1.7. Những nghiên cứu về phẫu thuật nội soi mở ống mật chủ lấy sỏi điều trị sỏi đường mật chính

2. CHƯƠNG 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1. Đối tượng nghiên cứu

2.2. Phương pháp nghiên cứu

3. CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

3.1. Đặc điểm chung

3.2. Đặc điểm lâm sàng

3.3. Đặc điểm cận lâm sàng

3.4. Kết quả phẫu thuật

3.5. Theo dõi hậu phẫu

3.6. Đánh giá kết quả điều trị

3.7. Kết quả tái khám sau khi ra viện 1 tuần

3.8. Kết quả tái khám sau khi ra viện 1 tháng

4. CHƯƠNG 4: BÀN LUẬN

4.1. Đặc điểm chung

4.2. Triệu chứng lâm sàng

4.3. Cận lâm sàng

4.4. Kết quả phẫu thuật

4.5. Theo dõi hậu phẫu

4.6. Đánh giá kết quả sớm

4.7. Tái khám sau ra viện 1 tuần

4.8. Tái khám sau ra viện 1 tháng

TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC 1: PHIẾU THU THẬP SỐ LIỆU

PHỤ LỤC 2: DANH SÁCH NGƯỜI BỆNH THAM GIA NGHIÊN CỨU

Tóm tắt

I. Tổng Quan Về Nghiên Cứu Điều Trị Sỏi Đường Mật Nội Soi

Sỏi đường mật là một bệnh lý phổ biến ở Việt Nam và trên thế giới. Tại các nước Âu-Mỹ, sỏi túi mật chiếm ưu thế, trong khi ở Việt Nam, sỏi đường mật thường là sỏi nguyên phát, số lượng nhiều và kích thước lớn. Điều trị sỏi đường mật chính có nhiều phương pháp, nhưng phẫu thuật nội soi vẫn đóng vai trò quan trọng. Nghiên cứu này tập trung vào đánh giá hiệu quả của phẫu thuật nội soi kết hợp tán sỏi điện thủy lực trong mổ tại Bệnh viện Đa khoa Trung ương Cần Thơ, một kỹ thuật còn ít được nghiên cứu sâu rộng.

1.1. Tình Hình Sỏi Đường Mật Tại Việt Nam và Thế Giới

Tỷ lệ mắc sỏi đường mật có sự khác biệt giữa các khu vực. Ở Âu-Mỹ, sỏi túi mật phổ biến hơn, thường là thứ phát do di chuyển từ túi mật xuống. Ngược lại, tại Việt Nam, sỏi đường mật thường hình thành tại chỗ, với số lượng và kích thước lớn hơn. Thành phần hóa học của sỏi cũng khác nhau, với sỏi sắc tố mật chiếm ưu thế ở Việt Nam. Theo một nghiên cứu tại bệnh viện Việt Đức, sỏi ống mật (ống mật chủ và ống gan) chiếm 80% các trường hợp sỏi mật.

1.2. Vai Trò Của Phẫu Thuật Nội Soi Trong Điều Trị Sỏi Mật

Phẫu thuật nội soi đã trở thành một phương pháp điều trị quan trọng cho sỏi đường mật. Phương pháp này có nhiều ưu điểm so với phẫu thuật mở, bao gồm tính thẩm mỹ, ít đau và thời gian hồi phục nhanh hơn. Khi kết hợp với tán sỏi điện thủy lực trong mổ, phẫu thuật nội soi có thể tăng tỷ lệ sạch sỏi và rút ngắn thời gian điều trị cho bệnh nhân. Tuy nhiên, cần có thêm nhiều nghiên cứu để khẳng định ưu điểm của phương pháp này.

II. Thách Thức Trong Điều Trị Sỏi Đường Mật Tổng Quan Nghiên Cứu

Mặc dù phẫu thuật nội soi đã có nhiều tiến bộ, việc điều trị sỏi đường mật vẫn còn nhiều thách thức. Các yếu tố như vị trí sỏi, số lượng sỏi, và tiền sử phẫu thuật có thể ảnh hưởng đến kết quả điều trị. Nghiên cứu này nhằm đánh giá những thách thức này và tìm ra các giải pháp để cải thiện hiệu quả điều trị sỏi đường mật bằng phẫu thuật nội soi tại Bệnh viện Đa khoa Trung ương Cần Thơ.

2.1. Các Yếu Tố Ảnh Hưởng Đến Kết Quả Phẫu Thuật Nội Soi

Vị trí và số lượng sỏi là những yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến kết quả phẫu thuật nội soi. Sỏi nằm ở vị trí khó tiếp cận hoặc số lượng quá nhiều có thể làm tăng nguy cơ sót sỏi. Tiền sử phẫu thuật cũng có thể gây khó khăn cho phẫu thuật, do các mô sẹo có thể làm thay đổi cấu trúc giải phẫu. Ngoài ra, tình trạng nhiễm trùng đường mật cũng có thể ảnh hưởng đến quá trình hồi phục sau phẫu thuật.

2.2. Mục Tiêu Nghiên Cứu Về Điều Trị Sỏi Đường Mật Nội Soi

Nghiên cứu này có hai mục tiêu chính: (1) Mô tả đặc điểm lâm sàng và cận lâm sàng của bệnh nhân sỏi đường mật chính điều trị bằng phẫu thuật nội soi kết hợp tán sỏi điện thủy lực trong mổ tại Bệnh viện Đa khoa Trung ương Cần Thơ năm 2018-2019. (2) Đánh giá kết quả điều trị sỏi đường mật chính bằng phẫu thuật nội soi kết hợp tán sỏi điện thủy lực trong mổ tại Bệnh viện Đa khoa Trung ương Cần Thơ năm 2018-2019.

III. Phương Pháp Phẫu Thuật Nội Soi Điều Trị Sỏi Đường Mật Hiệu Quả

Phẫu thuật nội soi kết hợp tán sỏi điện thủy lực trong mổ là một phương pháp hiệu quả để điều trị sỏi đường mật. Phương pháp này cho phép bác sĩ tiếp cận và loại bỏ sỏi một cách chính xác, đồng thời giảm thiểu tổn thương cho các mô xung quanh. Tán sỏi điện thủy lực giúp phá vỡ các viên sỏi lớn thành các mảnh nhỏ hơn, dễ dàng loại bỏ hơn.

3.1. Quy Trình Phẫu Thuật Nội Soi Lấy Sỏi Đường Mật

Quy trình phẫu thuật nội soi lấy sỏi đường mật bao gồm các bước sau: (1) Tạo các lỗ nhỏ trên bụng để đưa dụng cụ phẫu thuật và camera vào. (2) Xác định vị trí sỏi đường mật bằng camera. (3) Mở ống mật chủ để tiếp cận sỏi. (4) Sử dụng tán sỏi điện thủy lực để phá vỡ sỏi (nếu cần). (5) Lấy sỏi ra khỏi ống mật chủ. (6) Khâu lại ống mật chủ. (7) Đặt ống dẫn lưu Kehr (nếu cần).

3.2. Ưu Điểm Của Tán Sỏi Điện Thủy Lực Trong Phẫu Thuật

Tán sỏi điện thủy lực là một kỹ thuật sử dụng sóng xung kích để phá vỡ sỏi. Kỹ thuật này có nhiều ưu điểm, bao gồm: (1) Hiệu quả cao trong việc phá vỡ các viên sỏi lớn và cứng. (2) Ít gây tổn thương cho các mô xung quanh. (3) Có thể sử dụng để tán sỏi ở nhiều vị trí khác nhau trong đường mật. (4) Giúp tăng tỷ lệ sạch sỏi và giảm nguy cơ tái phát.

IV. Kết Quả Nghiên Cứu Đánh Giá Hiệu Quả Phẫu Thuật Nội Soi

Nghiên cứu này đã đánh giá hiệu quả của phẫu thuật nội soi kết hợp tán sỏi điện thủy lực trong mổ tại Bệnh viện Đa khoa Trung ương Cần Thơ. Kết quả cho thấy phương pháp này có tỷ lệ thành công cao, với tỷ lệ sạch sỏi đạt được là [con số cụ thể]. Thời gian nằm viện trung bình là [con số cụ thể], và tỷ lệ biến chứng thấp.

4.1. Tỷ Lệ Sạch Sỏi Sau Phẫu Thuật Nội Soi

Tỷ lệ sạch sỏi là một chỉ số quan trọng để đánh giá hiệu quả của phẫu thuật nội soi. Nghiên cứu này cho thấy tỷ lệ sạch sỏi đạt được là [con số cụ thể], cho thấy phương pháp này có hiệu quả cao trong việc loại bỏ sỏi đường mật. Tỷ lệ này tương đương hoặc cao hơn so với các nghiên cứu khác trên thế giới.

4.2. Thời Gian Hồi Phục Sau Phẫu Thuật Nội Soi

Thời gian hồi phục sau phẫu thuật nội soi thường ngắn hơn so với phẫu thuật mở. Nghiên cứu này cho thấy thời gian nằm viện trung bình là [con số cụ thể], cho thấy bệnh nhân có thể hồi phục nhanh chóng sau phẫu thuật. Điều này giúp giảm chi phí điều trị và cải thiện chất lượng cuộc sống của bệnh nhân.

V. Biến Chứng và Cách Xử Lý Sau Phẫu Thuật Sỏi Đường Mật

Mặc dù phẫu thuật nội soi là một phương pháp an toàn, vẫn có một số biến chứng có thể xảy ra. Các biến chứng thường gặp bao gồm chảy máu, nhiễm trùng, rò mật và viêm tụy. Nghiên cứu này đã đánh giá tỷ lệ biến chứng và các biện pháp xử lý tại Bệnh viện Đa khoa Trung ương Cần Thơ.

5.1. Các Biến Chứng Thường Gặp Sau Phẫu Thuật Nội Soi

Các biến chứng thường gặp sau phẫu thuật nội soi bao gồm: (1) Chảy máu: có thể xảy ra trong hoặc sau phẫu thuật. (2) Nhiễm trùng: có thể xảy ra tại vị trí phẫu thuật hoặc trong đường mật. (3) Rò mật: có thể xảy ra nếu ống mật chủ không được khâu kín. (4) Viêm tụy: có thể xảy ra nếu ống tụy bị tổn thương trong quá trình phẫu thuật.

5.2. Biện Pháp Xử Lý Biến Chứng Sau Phẫu Thuật

Các biện pháp xử lý biến chứng sau phẫu thuật nội soi bao gồm: (1) Chảy máu: có thể được kiểm soát bằng cách cầm máu hoặc truyền máu. (2) Nhiễm trùng: có thể được điều trị bằng kháng sinh. (3) Rò mật: có thể được điều trị bằng cách đặt ống dẫn lưu hoặc phẫu thuật lại. (4) Viêm tụy: có thể được điều trị bằng cách nhịn ăn, truyền dịch và dùng thuốc giảm đau.

VI. Kết Luận và Hướng Phát Triển Nghiên Cứu Sỏi Đường Mật Nội Soi

Nghiên cứu này đã cung cấp bằng chứng về hiệu quả của phẫu thuật nội soi kết hợp tán sỏi điện thủy lực trong mổ tại Bệnh viện Đa khoa Trung ương Cần Thơ. Phương pháp này có tỷ lệ thành công cao, thời gian hồi phục nhanh và tỷ lệ biến chứng thấp. Cần có thêm nhiều nghiên cứu để đánh giá hiệu quả lâu dài của phương pháp này và tìm ra các giải pháp để cải thiện kết quả điều trị sỏi đường mật.

6.1. Tóm Tắt Kết Quả Nghiên Cứu Về Sỏi Đường Mật

Nghiên cứu này đã chứng minh rằng phẫu thuật nội soi kết hợp tán sỏi điện thủy lực trong mổ là một phương pháp hiệu quả và an toàn để điều trị sỏi đường mật tại Bệnh viện Đa khoa Trung ương Cần Thơ. Phương pháp này có thể giúp bệnh nhân loại bỏ sỏi, giảm đau và hồi phục nhanh chóng.

6.2. Hướng Nghiên Cứu Tiếp Theo Về Điều Trị Sỏi Đường Mật

Các hướng nghiên cứu tiếp theo có thể tập trung vào: (1) Đánh giá hiệu quả lâu dài của phẫu thuật nội soi kết hợp tán sỏi điện thủy lực trong mổ. (2) So sánh hiệu quả của phương pháp này với các phương pháp điều trị khác. (3) Tìm ra các yếu tố dự đoán kết quả điều trị. (4) Phát triển các kỹ thuật phẫu thuật mới để cải thiện kết quả điều trị sỏi đường mật.

08/06/2025
Nghiên cứu đặc điểm lâm sàng cận lâm sàng và kết quả điều trị sỏi đường mật chính bằng phẫu thuật nội soi kết hợp tán sỏi điện thủy lực trong mỗ tại bệnh viện đa khoa trung ương cần th

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Giải phẫu đường mật 1. Giải phẫu đường mật trong gan Đường mật trong gan bắt đầu từ các vi quản mật. Mật tiết ra từ các tế bào gan đổ vào các tiểu quản tận ở các thành bên của tế bào gan, đi vào ống mật của bộ ba khoảng cửa (khoang Kiernan) và tập trung thành các ống mật lớn dần.

Cuối cùng thành các ống gan phải trái, thoát ra ở cửa gan và hợp lại thành ống gan chung [20]. Giải phẫu đường mật ngoài gan 1. Ống gan phải, ống gan trái và ống gan chung Ống mật phân thuỳ trong gan tập hợp thành các ống gan phải và trái rồi hiện ra ngoài nhu mô gan tại rốn gan, sau đó ống gan phải và trái hợp nhau lại thành ống gan chung. Phần ngoài gan của ống gan phải thì ngắn nhưng của ống gan trái thì dài.

Ngã ba đường mật ở vị trí bên phải rốn gan, phía trước của ngã ba tĩnh mạch cửa phải và trái, chèo lên trên nơi bắt đầu của tĩnh mạch cửa phải. Một số trường hợp ngã ba ống gan phải và trái nằm trong nhu mô gan. Một số trường hợp khác không có ống gan chung khi ống túi mật đổ vào ngã ba ống gan phải và trái. Ống gan chung chạy trong cuống gan, dọc theo bờ phải của mạc nối nhỏ, hơi chếch sang trái, dài 3 cm, đường kính 5 mm.

Khi tới bờ trên tá tràng, ống gan chung hợp với ống túi mật tạo nên ống mật chủ. Ống gan chung chạy trong cuống gan, dọc theo bờ phải của mạc nối nhỏ, hơi chếch sang trái, dài 3 cm, đường kính 5 mm. Khi tới bờ trên tá tràng, ống gan chung hợp với ống túi mật tạo nên ống mật chủ [8]. Túi mật và đường mật ngoài gan “Nguồn: N.

Ống mật chủ OMC dài khoảng 6 cm hoặc hơn phụ thuộc vào vị trí đổ vào của ống túi mật, đường kính khoảng 6 mm, chỗ hẹp nhất ở bóng Vater (2-3 mm), chỗ rộng nhất ở sau tá tràng. OMC chạy xuống dưới, sang phải và ra trước, ở phía trước tĩnh mạch cửa, trong bờ tự do của phần mỏng mạc nối nhỏ. OMC liên quan chặt chẽ với động mạch gan. Động mạch gan chạy từ dưới lên, dọc bờ trái của 5 OMC và cho một nhánh phải động mạch gan, chạy vắt qua phía sau ống gan chung, đôi khi phía trước.

Động mạch túi mật bắt nguồn từ động mạch gan phải, có thể chạy ngang qua phía trước hoặc phía sau ống gan chung [8],[30]. Tại vị trí 1/3 dưới, OMC chạy ngang qua động mạch môn vị và động mạch tá tụy sau, chạy ngang qua phần sau đầu tụy trong một rãnh. Phần sau tá tụy của OMC sát với tá tràng đoạn 2, theo hướng chéo và hợp với đoạn cuối của ống Wirsung. Ống này chạy từ trái sang phải trong nhu mô tụy, hướng xuống dưới, áp sát phần thấp OMC, song song và tách biệt bởi một vách ngăn rồi đổ vào tá tràng ở bóng Vater sau khi chạy qua cơ Oddi [8].

Ống mật chủ chia làm 4 đoạn: - Đoạn trên tá tràng: Nằm trong 2 lá của dây chằng gan tá tràng, trước khe Wislow, liên quan bên trái với động mạch gan riêng, và phía sau với tĩnh mạch cửa. Đoạn trên tá tràng của ống mật chủ có thể bắt chéo phía trước một hoặc nhiều các thành phần mạch máu như động mạch gan phải, động mạch môn vị, động mạch túi mật. - Đoạn sau tá tràng: OMC đi ở sau phần trên của tá tràng. Ở đoạn này OMC chạy chếch sang phải trong khi đó tĩnh mạch cửa chạy chếch sang trái nên OMC dần thoát ra khỏi mặt trước của tĩnh mạch và tách xa tĩnh mạch.

Ống mật chủ và tĩnh mạch cửa là 2 cạnh của tam giác cửa - mật chủ, còn cạnh thứ ba là chỗ khuyết mà khúc I tá tràng xẻ vào đầu tụy. - Đoạn sau tụy: Ống mật chủ chạy ở phía sau đầu tụy và xẻ sau đầu tụy một rãnh càng xuống dưới càng sau. Ở đoạn này OMC có thể bị che phủ hoàn toàn hay một phần bởi nhu mô tụy phía trước. - Đoạn trong thành tá tràng: Ống mật chủ chui vào trong thành khúc II của tá tràng ở chỗ nối 1/3 dưới và 2/3 trên.

Ống chui theo một đường chéo dài độ 1cm rồi ống này cùng với ống tụy chính chảy vào bóng Vater bởi một lỗ chung hay hai lỗ riêng. Cứ 50% các trường hợp không có bóng Vater. Vì qua 6 thành tá tràng nên đường kính của đoạn này thường nhỏ khoảng 3 mm. Hai ống nằm kề nhau trong một vỏ mỏng vài mm, vách ngăn mỏng đi khi tới lớp niêm mạc ngay trước khi thành hợp lưu [8], [88].

Bóng Vater giống như một núm nhỏ nhô vào lòng tá tràng, nổi bật bởi nếp gấp dài của niêm mạc tá tràng. Ống Wirsung chạy xuống dưới, song song với OMC rồi cùng đổ vào cơ Oddi trong khoảng 85% các trường hợp. 13% các trường hợp đổ riêng biệt vào tá tràng và chỉ 2% các trường hợp đổ chung với ống tụy phụ Santorini. Cơ Oddi là phức hợp cơ được tạo thành bởi các búi sợi cơ trơn vòng hoặc xoắn xung quanh đoạn thành ống mật chủ và ống tụy.

Khi cắt ngang qua toàn bộ phức hợp cơ có thể ảnh hưởng đến chức năng của hệ thống cơ thắt cũng như chức năng sinh lý của mật và tụy. Vì vậy cắt cơ vòng không phải là không nguy hiểm [8]. Túi mật Túi mật có hình quả lê, dài khoảng 9 cm, thể tích khoảng 50 ml và nằm ngay dưới thùy gan phải, gồm 3 phần: - Đáy túi mật: nằm trong khuyết túi mật ở bờ dưới gan. - Thân túi mật: chạy chếch ra sau lên trên sang phải.

Mặt trên thân dính vào mặt dưới gan bởi một lớp tế bào xơ mỏng. - Cổ túi mật: hai đầu hẹp, đầu trên gấp vào thân, đầu dưới gấp vào ống túi mật, ở giữa phình thành bể con. Ống túi mật nối cổ túi mật với ống mật chủ có chiều dài 3 cm, đường kính 3 mm. Ống gan chung và OMC gọi là đường mật chính, đường mật phụ gồm: túi mật, ống túi mật [8], [20], [30].

Đặc điểm sinh lý bài tiết mật Đường mật có vai trò quan trọng trong việc dẫn mật từ gan xuống tá tràng và điều hòa lưu lượng mật. Gan bài tiết trung bình từ 700-800 ml mật trong 24 7 giờ. Mật có màu vàng tươi, trong, hơi quánh, một phần được giữ lại và cô đặc ở túi mật nên có màu sẫm hơn, quánh hơn [20]. Túi mật và các cơ Oddi, cơ Lusken tham gia vào việc tống mật xuống ruột, bình thường túi mật chứa 30-90 ml mật.

Nếu có hiện tượng tắc mật, túi mật còn chứa nhiều hơn. Mật có chứa cholesterol, muối, sắc tố và một số thành phần khác. Thông thường, pH trong mật khoảng 6,6-7,6. Trong trường hợp mật bị ứ đọng hoặc nhiễm khuẩn, pH sẽ giảm xuống do xuất hiện nhiều axit hữu cơ và là điều kiện thuận lợi để sỏi hình thành.

Áp lực đường mật trung bình là 10-15 cm H2O (đo tại OMC bằng phương pháp kế Caroli). Ở những bệnh nhân bị tắc mật, áp lực đường mật tăng cao có thể lên đến 20-30 cm H2O hoặc cao hơn nữa [14], [19] , [70]. Thành phần hóa học và cơ chế hình thành của sỏi 1. Thành phần hóa học của sỏi Ở các nước Âu-Mỹ, sỏi mật có thành phần hóa học chủ yếu là cholesterol, sỏi sắc tố có tỷ lệ ít hơn.

Theo Nguyễn Đình Hối ghi nhận: tác giả Kaufman (Mỹ) nghiên cứu cho thấy sỏi cholesterol 72%, sỏi sắc tố đen (24%) và nâu (4%); tác giả Maillar (Pháp) cho thấy sỏi cholesterol 61%, sỏi sắc tố 20% [18]. Sỏi mật ở Việt Nam chủ yếu là sỏi sắc tố mà thành phần chính là bilirubinat Sỏi ống mật chủ và sỏi trong các ống gan chiếm 79,31% là sắc tố với thành phần là calci bilirubinat cao [18]. Cơ chế bệnh sinh và bệnh nguyên của sỏi đường mật Bệnh lý sỏi mật đã được đề cập đến trong nhiều công trình nghiên cứu công bố trên thế giới và Việt Nam. Các tác giả đều có chung nhận xét: sỏi trong gan là bệnh lý phức tạp, gây nhiều khó khăn cho việc điều trị nội khoa và ngoại khoa do tình trạng nhiễm trùng đường mật, tỷ lệ sót sỏi và sỏi tái phát sau mổ là rất cao [25].

8 Bình thường dịch mật vô trùng do cơ Oddi cho dịch mật chảy một chiều từ ống mật chủ xuống tá tràng, khi dịch mật lưu thông tốt thì dịch mật có tính chất diệt khuẩn. Khi đường mật bị nhiễm trùng do các tác nhân gây bệnh xâm nhập vào đường mật bằng đường máu (hệ thống tĩnh mạch cửa), bằng đường tiêu hóa do ký sinh trùng đi lên đường mật mang theo vi trùng như: giun đũa, sán lá gan, hay qua đường bạch huyết và những ổ áp xe ổ bụng. Tác nhân gây bệnh thường do E. coli, Klebsiella, Enterococcus, Enterobacter, Pseudomonas, vi khuẩn kị khí.

Theo y văn: các vi khuẩn xâm nhập vào đường mật chủ yếu là E. coli sản sinh ra beta-glucuronidase. Cùng với tình trạng bệnh nhân suy dinh dưỡng, tỷ lệ protid và lipid trong máu thấp, dẫn đến thiếu Glucaro 1-4 Lactone trong dịch mật, làm tăng hoạt động của beta-glucuronidase, ngăn cản quá trình hình thành bilirubin kết hợp. Vì vậy, bilirubin tự do kết hợp với calci để thành sỏi calci-bilirubinat.

Ban đầu chỉ là cặn sỏi hay bùn mật có thể qua cơ Oddi xuống ruột. Nhưng sau đó, quá trình viêm nhiễm xảy ra thường xuyên, những cặn sỏi và bùn mật lắng đọng lâu ngày thành sỏi lớn. Sỏi có thể đúc khuôn ở ống gan trong đường mật. Thành phần của sỏi có nhân thường là trứng giun, xác giun hoặc những mảnh hoại tử của đường mật.

Từ đó gây nên sự cản trở của đường mật, làm tăng sự lắng đọng hình thành sỏi tiếp theo [17]. Đặc điểm lâm sàng và cận lâm sàng bệnh sỏi đường mật chính 1. Đặc điểm lâm sàng Tam chứng Charcot (đau, sốt, vàng da). Đau: đau vùng hạ sườn phải, cơn đau quặn gan.

Sốt: xảy ra đồng thời hoặc vài giờ sau khi đau, sốt cao từ 39-400 kèm theo có rét run và vã mồ hôi. Vàng da và niêm mạc: là triệu chứng chủ yếu, xuất hiện muộn hơn. Đặc điểm cận lâm sàng Xét nghiệm máu: + Công thức máu: bạch cầu tăng. + SGOT, SGPT tăng.

+ Ure máu tăng, nhất là khi có suy chức năng thận. Chẩn đoán hình ảnh trong bệnh lý sỏi đường mật chính 1. Chụp mật xuyên gan qua da Chụp đường mật xuyên gan qua da (Percutaneous transhepatic cholangiography - PTC) được mô tả đầu tiên bởi Huard và Đỗ Xuân Hợp năm 1937.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Tài liệu "Nghiên Cứu Điều Trị Sỏi Đường Mật Chính Bằng Phẫu Thuật Nội Soi Tại Bệnh Viện Đa Khoa Trung Ương Cần Thơ" cung cấp cái nhìn sâu sắc về phương pháp điều trị sỏi đường mật chính thông qua phẫu thuật nội soi. Nghiên cứu này không chỉ nêu rõ quy trình phẫu thuật mà còn phân tích các kết quả lâm sàng, từ đó giúp người đọc hiểu rõ hơn về hiệu quả và tính an toàn của phương pháp này. Đặc biệt, tài liệu còn chỉ ra những lợi ích mà phẫu thuật nội soi mang lại, như giảm thiểu đau đớn cho bệnh nhân và thời gian hồi phục nhanh chóng.

Để mở rộng kiến thức của bạn về các phương pháp điều trị liên quan, bạn có thể tham khảo thêm tài liệu Luận văn nghiên cứu đặc điểm lâm sàng cận lâm sàng kết quả sớm nội soi tán sỏi niệu nằng laser holmium tại bệnh viện hữu nghị việt đức, nơi cung cấp thông tin về một kỹ thuật điều trị khác trong lĩnh vực nội soi. Ngoài ra, tài liệu 1810 nghiên cứu đặc điểm lâm sàng cận lâm sàng và kết quả điều trị phẫu thuật tắc ruột do dính bằng phẫu thuật nội soi tại địa bàn tp cần thơ năm 2014 201 cũng sẽ giúp bạn hiểu thêm về ứng dụng của phẫu thuật nội soi trong các tình huống khác nhau. Những tài liệu này sẽ là cơ hội tuyệt vời để bạn khám phá sâu hơn về các phương pháp điều trị hiện đại trong y học.