Luận án tiến sĩ nghiên cứu giá trị của cộng hưởng từ 1 5 tesla trong đánh giá phân loại giai đoạn và theo dõi điều trị ung thư cổ tử cung

Luận án tiến sĩ nghiên cứu nghiên cứu giá trị của cộng hưởng từ 1 5 tesla trong đánh giá phân loại giai đoạn và theo dõi điều, phát triển phương pháp mới, đánh giá hiệu quả ứng

Chuyên ngành

Y học

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

nghiên cứu
171
2
0

Phí lưu trữ

45 Point

Mục lục chi tiết

1. ĐẶT VẤN ĐỀ

2. Hệ thống phân loại giai đoạn UT CTC của Liên đoàn Sản phụ khoa quốc tế (FIGO)

3. Đặc điểm giải phẫu, mô học cổ tử cung và phân loại giải phẫu bệnh ung thư cổ tử cung

3.1. Giải phẫu cổ tử cung

3.2. Giải phẫu cộng hưởng từ tiểu khung, tử cung và cổ tử cung

3.3. Biểu mô ống cổ tử cung

3.4. Phân loại mô bệnh học ung thư cổ tử cung

4. Chẩn đoán ung thư cổ tử cung

4.1. Triệu chứng lâm sàng

4.1.1. Triệu chứng cơ năng

4.1.2. Triệu chứng thực thể

4.2. Khám sàng lọc và chẩn đoán sớm ung thư cổ tử cung

4.2.1. Khám cổ tử cung bằng mỏ vịt

4.2.2. Soi cổ tử cung

4.2.3. Xét nghiệm tế bào học

4.2.4. Xét nghiệm HPV

4.2.5. Sinh thiết

4.2.6. Các xét nghiệm máu

Tóm tắt

I. ĐẶT VẤN ĐỀ

Ung thư cổ tử cung (UT CTC) là một trong những loại ung thư phổ biến nhất ở phụ nữ, đứng thứ hai sau ung thư vú. Việc phát hiện sớm UT CTC thông qua xét nghiệm tế bào học đã giúp giảm tỷ lệ tử vong đáng kể. Tuy nhiên, UT CTC vẫn là nguyên nhân hàng đầu gây tử vong ở phụ nữ. Theo thống kê, năm 2012, có khoảng 527.600 trường hợp mới mắc và 265.700 trường hợp tử vong trên toàn thế giới. Tại Việt Nam, UT CTC cũng nằm trong nhóm ung thư thường gặp, với 5.664 ca mới mắc và hơn 3.000 ca tử vong vào năm 2010. Việc chẩn đoán và điều trị kịp thời có vai trò quan trọng trong việc cải thiện tiên lượng bệnh nhân. Hệ thống phân loại giai đoạn UT CTC của Liên đoàn Sản phụ khoa quốc tế (FIGO) được sử dụng rộng rãi, tuy nhiên, việc đánh giá giai đoạn bệnh qua thăm khám lâm sàng có tỷ lệ sai sót cao. Cộng hưởng từ (CHT) với độ phân giải cao đã trở thành công cụ hữu ích trong việc đánh giá và phân loại giai đoạn UT CTC.

1.1. Tình trạng ung thư cổ tử cung

Tình trạng ung thư cổ tử cung đang gia tăng, đặc biệt ở độ tuổi từ 40 đến 60. Việc phát hiện sớm thông qua các phương pháp như xét nghiệm tế bào học và chẩn đoán hình ảnh là rất cần thiết. CHT 1.5 Tesla đã cho thấy khả năng đánh giá chính xác giai đoạn bệnh, với độ chính xác lên đến 92% so với các phương pháp khác. Điều này cho thấy giá trị của công nghệ MRI trong việc chẩn đoán và theo dõi điều trị UT CTC.

1.2. Phân loại giai đoạn và chẩn đoán

Phân loại giai đoạn UT CTC theo FIGO là rất quan trọng trong việc lập kế hoạch điều trị. CHT giúp cải thiện độ chính xác trong việc phân loại giai đoạn, với độ chính xác từ 85-96%. Việc sử dụng CHT trong chẩn đoán không chỉ giúp xác định giai đoạn mà còn theo dõi hiệu quả điều trị, đặc biệt trong xạ trị và hóa xạ trị. Điều này cho thấy giá trị cộng hưởng từ 1.5 Tesla trong việc đánh giá và điều trị UT CTC.

II. GIẢI PHẨU VÀ MÔ BỆNH HỌC CỔ TỬ CUNG

Giải phẫu cổ tử cung có hình nón cụt, với các phần được phân chia rõ ràng. Cổ tử cung có cấu trúc phức tạp, bao gồm các lớp mô khác nhau. Việc hiểu rõ về giải phẫu và mô bệnh học của cổ tử cung là rất quan trọng trong việc chẩn đoán và điều trị UT CTC. Các loại ung thư cổ tử cung được phân loại theo WHO, với nhiều loại khác nhau như ung thư biểu mô vẩy và ung thư tuyến. Việc phân loại này giúp xác định phương pháp điều trị phù hợp cho từng loại ung thư.

2.1. Giải phẫu cổ tử cung

Cổ tử cung được chia thành hai phần: phần trên âm đạo và phần âm đạo. Phần trên âm đạo có liên quan đến bàng quang và trực tràng, trong khi phần âm đạo có cấu trúc đặc biệt giúp nhận diện các tổn thương. Việc nắm rõ giải phẫu này giúp bác sĩ có thể đánh giá chính xác hơn trong quá trình chẩn đoán và điều trị. CHT giúp hình ảnh hóa rõ ràng các cấu trúc này, từ đó hỗ trợ trong việc phát hiện sớm các tổn thương.

2.2. Mô bệnh học ung thư cổ tử cung

Mô bệnh học của UT CTC được phân loại theo nhiều tiêu chí khác nhau. Các tổn thương tiền ung thư và ung thư tại chỗ thường không có triệu chứng rõ ràng ở giai đoạn đầu. Việc phát hiện sớm thông qua xét nghiệm tế bào học và sinh thiết là rất quan trọng. CHT có thể hỗ trợ trong việc xác định các tổn thương này, từ đó giúp bác sĩ đưa ra phương pháp điều trị hiệu quả hơn.

III. CHẨN ĐOÁN VÀ ĐIỀU TRỊ UNG THƯ CỔ TỬ CUNG

Chẩn đoán UT CTC bao gồm nhiều phương pháp khác nhau, từ thăm khám lâm sàng đến các xét nghiệm hình ảnh. Việc sử dụng CHT 1.5 Tesla đã cho thấy hiệu quả cao trong việc phát hiện và theo dõi điều trị. Các phương pháp điều trị như phẫu thuật, xạ trị và hóa trị đều cần được cân nhắc kỹ lưỡng dựa trên giai đoạn bệnh và tình trạng sức khỏe của bệnh nhân. CHT không chỉ giúp chẩn đoán mà còn theo dõi hiệu quả điều trị, từ đó cải thiện tiên lượng cho bệnh nhân.

3.1. Phương pháp chẩn đoán

Chẩn đoán UT CTC thường bắt đầu bằng việc thăm khám lâm sàng và xét nghiệm tế bào học. CHT 1.5 Tesla đã chứng minh được giá trị trong việc phát hiện các tổn thương sớm, với độ chính xác cao. Việc kết hợp nhiều phương pháp chẩn đoán sẽ giúp tăng cường khả năng phát hiện và giảm thiểu tỷ lệ âm tính giả.

3.2. Phương pháp điều trị

Điều trị UT CTC bao gồm phẫu thuật, xạ trị và hóa trị. Việc lựa chọn phương pháp điều trị phụ thuộc vào giai đoạn bệnh và tình trạng sức khỏe của bệnh nhân. CHT có vai trò quan trọng trong việc theo dõi hiệu quả điều trị, giúp bác sĩ điều chỉnh kế hoạch điều trị kịp thời. Điều này không chỉ giúp cải thiện chất lượng sống mà còn tăng cường khả năng sống sót cho bệnh nhân.

01/03/2025
Luận án tiến sĩ nghiên cứu giá trị của cộng hưởng từ 1 5 tesla trong đánh giá phân loại giai đoạn và theo dõi điều trị ung thư cổ tử cung

Trích đoạn nội dung tài liệu

ĐẶT VẤN ĐỀ Ung thư cổ tử cung (UT CTC) là khối u ác tính thường gặp ở phụ nữ, đứng thứ hai sau ung thư vú. Xét nghiệm tế bào học (test Papanicolaou) sàng lọc phát hiện sớm UT CTC đã được áp dụng ở Mỹ từ những năm 40 của thế kỷ trước, góp phần giảm tỉ lệ tử vong do UT CTC tới 70% vào những năm 80. Tuy vậy cho đến nay UT CTC vẫn là một trong những nguyên nhân gây tử vong thường gặp nhất ở phụ nữ. Năm 2012 trên thế giới có khoảng 527.600 trường hợp mới mắc và khoảng 265.700 trường hợp tử vong [1].900 trường hợp mới mắc và 4.100 trường hợp tử vong [2].

Tại Việt Nam, UT CTC là một trong 5 ung thư thường gặp ở nữ, năm 2010 có 5.664 ca mới mắc và hơn 3000 ca tử vong [3]. Giai đoạn 2004-2008 tại Hà Nội tần suất mắc chuẩn theo tuổi là 10,5/100.000, trong khi đó tại Thành Phố Hồ Chí Minh là 15,3/100. Độ tuổi thường gặp là 40-60, tuổi trung bình 48-52 [3]. Về mô bệnh học, trước năm 1960 ung thư biểu mô (UTBM) vẩy chiếm trên 90%, số còn lại là các loại UTBM tuyến, UTBM tuyến vẩy, UTBM không biệt hóa, ung thư thần kinh nội tiết.

Những năm gần đây, do sử dụng xét nghiệm tế bào học trong tầm soát UT CTC nên tỷ lệ chung của UT CTC cũng như tỷ lệ mắc UTBM vẩy đã giảm nhưng tỉ lệ mắc UTBM tuyến lại tăng lên [5],[6] vì xét nghiệm tế bào học dễ dàng phát hiện UTBM tế bào vẩy [7]. Tiên lượng bệnh nhân UT CTC phụ thuộc vào giai đoạn (GĐ) bệnh, tỷ lệ sống sót sau 5 năm ở GĐ I trên 90%, GĐ II từ 60% đến 80%, GĐ III khoảng 50% và GĐ IV dưới 30% [8]. Việc chẩn đoán phát hiện sớm và điều trị kịp thời có vai trò đặc biệt quan trọng trong cải thiện tiên lượng bệnh. 2 Hệ thống phân loại giai đoạn UT CTC của Liên đoàn Sản phụ khoa quốc tế (FIGO) được sử dụng rộng rãi trên thế giới cũng như ở Việt Nam trong lập kế hoạch điều trị UT CTC.

Nếu chỉ dựa vào thăm khám lâm sàng, việc đánh giá và phân loại GĐ bệnh theo tiêu chuẩn FIGO có tỷ lệ sai sót rất cao: trên 25% ở GĐ I, II từ 50%-65% ở GĐ IIA đến IIIB và 67% ở GĐ IVA [9],[10]. Hiện nay nhờ có chụp cắt lớp vi tính (CLVT) và cộng hưởng từ (CHT) việc phân loại, đánh giá giai đoạn UT CTC trở nên chính xác hơn. FIGO trong lần sửa đổi gần đây nhất (năm 2009) đã đề nghị sử dụng chẩn đoán hình ảnh trong đó có CLVT và CHT trong đánh giá phân loại giai đoạn UT CTC [11],[12],[13],[14]. CHT có độ phân giải cao trong đánh giá mô mềm tốt hơn CLVT, hơn nữa với nhiều chuỗi xung, có thể quan sát ở nhiều hướng cắt nên có thể xác định rõ khối u nguyên phát từ GĐ sớm, đồng thời đánh giá rất tốt mức độ xâm lấn của khối u [15].

Nếu so sánh CHT, CLVT và thăm khám lâm sàng để đánh giá UT CTC thì độ chính xác lần lượt là 92%, 70% và 78% [16]. Một số nghiên cứu cho rằng CHT có thể xác định UT CTC xâm lấn các mô lân cận tử cung với độ chính xác 88% - 97%, độ đặc hiệu 93% và giá trị dự báo âm tính 94% - 100% [17]. Trong phân loại giai đoạn UT CTC cộng hưởng từ có độ chính xác từ 85-96% [6],[18],[19]. Ngoài ra CHT còn có giá trị trong theo dõi điều trị UT CTC đặc biệt trong xạ trị và hóa xạ trị, cung cấp cho lâm sàng các thông tin cần thiết để lập kế hoạch điều trị chuẩn xác hơn.

Hiện nay tại Việt Nam máy CHT 1.5 Tesla đã được trang bị khá rộng rãi ở các bệnh viện, bước đầu góp phần vào chẩn đoán, phân loại giai đoạn và theo dõi điều trị ung thư nói chung và UT CTC nói riêng. Để góp phần tìm hiểu về chẩn đoán và điều trị UT CTC, chúng tôi thực hiện đề tài này với mục tiêu: 1. Phân tích đặc điểm hình ảnh cộng hưởng từ 1.5Tesla của UT CTC. Đánh giá giá trị của cộng hưởng từ 1.5Tesla trong phân loại giai đoạn theo FIGO và theo dõi điều trị UT CTC.

Đặc điểm giải phẫu, mô học cổ tử cung và phân loại giải phẫu bệnh ung thư cổ tử cung 1. Giải phẫu CTC có hình nón cụt, đáy ở phần tiếp giáp với eo TC, còn đỉnh chúc vào trong âm đạo. CTC có âm đạo bám vào chia CTC thành hai phần: phần trên âm đạo và phần âm đạo. Âm đạo bám vòng quanh CTC theo một đường chếch xuống dưới và ra trước, phía sau bám vào khoảng giữa CTC, còn ở phía trước bám thấp hơn vào 1/3 dưới cổ.

+ Phần trên âm đạo: ở mặt trước CTC dính vào mặt sau dưới bàng quang bởi một tổ chức lỏng lẻo dễ bóc tách, còn ở mặt sau có phúc mạc phủ, qua túi cùng trực tràng – tử cung CTC liên quan với trực tràng. Ở hai bên cổ, gần eo, trong đáy dây chằng rộng, động mạch tử cung bắt chéo phía trước niệu quản cách CTC độ 1,5cm. + Phần âm đạo: phần âm đạo của CTC trông như mõm cá mè thò vào trong âm đạo. Ở đỉnh của mõm có lỗ tử cung (hay lỗ ngoài của CTC).

Lỗ được giới hạn bởi hai mép: mép trước và mép sau. Lỗ thông vào ống CTC, ống này ở trong thông vào buồng tử cung. Ở thành trước và và sau ống có một nếp dọc và các nếp ngang gọi là nếp lá cọ và có các tuyến CTC [20],[21]. Thành âm đạo quây xung quanh mõm cá mè tạo thành vòm âm đạo.

Vòm âm đạo là một túi bịt vòng bao gồm túi bịt trước, túi bịt sau và hai túi bịt bên. Túi bịt sau sâu hơn cả và liên quan ở sau với túi cùng tử cung – trực tràng. Ống CTC là một khoang ảo dài 2,5 – 3cm, giới hạn trên bởi lỗ trong CTC, giới hạn dưới bởi lỗ ngoài CTC. Mặt trong ống CTC có các nếp lượn sóng ngang theo hướng chếch phải vòng từ phía trước và phía sau lại chếch 4 sang trái, nó như hình gân lá xuất phát từ một đường gờ nổi rõ theo chiều dọc ống CTC [21],[22].

Dây chằng rộng: là một nếp gồm hai lá phúc mạc liên tiếp với phúc mạc ở mặt bàng quang và mặt ruột của tử cung, bám từ hai bên tử cung và vòi trứng tới thành bên chậu hông. Đáy dây chằng rộng có động mạch tử cung bắt chéo niệu quản cách CTC 1,5 cm. Cổ tử cung và các dây chằng tử cung liên quan. Netter [23] Dây chằng tử cung – cùng: là một dải mô liên kết và cơ trơn bám từ mặt sau CTC ở gần hai bên rồi tỏa ra sau và lên trên đi hai bên trực tràng đội phúc mạc lên tạo thành nếp trực tràng – tử cung.

Nếp này là giới hạn bên của túi cùng trực tràng – tử cung. Sau cùng dây chằng tử cung cùng bám vào mặt trước xương cùng. Dây chằng ngang CTC: là một dải mô liên kết bám từ bờ bên CTC ngay phần trên vòm âm đạo rồi đi ngang sang hai bên chậu hông ngay dưới đáy dây chằng rộng và trên hoành chậu hông. 5 Bạch huyết CTC: bạch mạch ở CTC và thân tử cung nối thông với nhau và đổ về một thân chung chạy dọc bên ngoài động mạch tử cung và cuối cùng đổ về các hạch bạch huyết của các động mạch chậu hoặc động mạch chủ bụng.

Giải phẫu cộng hưởng từ tiểu khung, tử cung và cổ tử cung Trên ảnh CHT tử cung có thể được chia thành thân tử cung và cổ tử cung. Trên ảnh T1W toàn bộ TC và CTC đồng tín hiệu, không phân biệt rõ ranh giới các vùng giải phẫu khác nhau. Trên ảnh T2W thân TC có thể quan sát thấy 3 vùng riêng biệt: lớp nội mạc TC tăng tín hiệu, lớp chuyển tiếp giảm tín hiệu và lớp cơ tử cung có tín hiệu trung gian, ngoài cùng là lớp thanh mạc và dưới thanh mạc giảm tín hiệu (hình 1. Trên ảnh T2W cổ tử cung cũng có thể quan sát thấy 3 vùng riêng biệt: trong cùng là lớp nội mạc và chất nhầy trong ống CTC có tín hiệu cao (mũi tên số 3 hình 1.2), bao quanh là lớp mô xơ giảm tín hiệu (mũi tên số 2 hình 1.2), tiếp đến là lớp cơ trơn thành CTC có tín hiệu trung gian (mũi tên số 1 hình 1.2), ngoài cùng là lớp thanh mạc, dưới thanh mạc và dây chằng rộng giảm tín hiệu.

Hình ảnh cộng hưởng từ cổ tử cung bình thường trên ảnh T2WI. Nguồn Sidath HL [24] 6 Sau đây là hình ảnh giải phẫu cộng hưởng từ vùng tiểu khung nữ trên 3 hướng cắt. Giải phẫu cộng hưởng từ tiểu khung nữ, T2WI cắt đứng dọc qua đường giữa. Nguồn Moeller TB [25].

Tĩnh mạch chậu chung 9. Thân xương mu 2. Động mạch chậu trong 10. Cơ mu trực tràng 4.

Cổ tử cung 6. Lớp chuyển tiếp 14. Niêm mạc tử cung 15. Dây chằng trên gai 8.

Cơ nhiều chân 7 Hình 1. Giải phẫu cộng hưởng từ tiểu khung nữ, T2WI cắt ngang qua cổ tử cung. Nguồn Moeller TB [25]. Niệu quản trái 2.

Động, tĩnh mạch thượng vị dưới 15. Động mạch chậu ngoài phải 16. Gân cơ mông nhỡ 5. Tĩnh mạch chậu ngoài phải 17.

Gân cơ mông bé 6. Chỏm xương đùi 7. Cổ tử cung 19. Gân cơ thắt lưng chậu 8.

Thần kinh hông to phải 20. Động mạch chậu ngoài trái 11. Tĩnh mạch chậu ngoài trái 12. Mạc treo trực tràng 24.

Lớp mỡ dưới da 8 Hình 1. Giải phẫu cộng hưởng từ tiểu khung nữ, cắt đứng ngang qua cổ tử cung. Niêm mạc tử cung 2. Tĩnh mạch chậu ngoài 7.

Vùng chuyển tiếp 3. Động mạch chậu ngoài 8. Buồng trứng trái 5. Buồng trứng phải 10.

Biểu mô ống cổ tử cung Biểu mô tuyến CTC bao gồm một hàng tế bào trụ đơn với tế bào nhân tròn, bầu dục, mịn và đều nhau, chất chế nhầy nằm ở cực ngọn tế bào giàu nước và một số muối khoáng. Xen kẽ là tế bào trụ có lông ở cực nhọn. Giữa hai loại tế bào trên là các tế bào dự trữ, kích thước nhỏ, bào tương khó xác định, ít biệt hóa, chúng có thể tái tạo biểu mô CTC và có thể dị sản và loạn sản khi có những tác động. Biểu mô cổ tử cung phía âm đạo Biểu mô cổ ngoài CTC: biểu mô phủ CTC có cấu tạo giống với biểu mô phủ ở âm đạo.

Đó là biểu mô vẩy lát tầng không sừng hóa, các tế bào này chứa nhiều glycogen. Sự tăng sinh của của biểu mô cổ ngoài được kích thích bởi estrogen và bị ức chế bởi progesteron [22].

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Nghiên cứu giá trị cộng hưởng từ 1.5 Tesla trong đánh giá và điều trị ung thư cổ tử cung là một tài liệu chuyên sâu tập trung vào việc ứng dụng công nghệ cộng hưởng từ (MRI) 1.5 Tesla trong chẩn đoán và điều trị ung thư cổ tử cung. Nghiên cứu này nhấn mạnh vai trò của MRI trong việc cung cấp hình ảnh chi tiết, giúp xác định chính xác vị trí, kích thước và mức độ xâm lấn của khối u, từ đó hỗ trợ quyết định điều trị hiệu quả. Đặc biệt, tài liệu cũng phân tích các lợi ích của việc sử dụng MRI 1.5 Tesla so với các phương pháp chẩn đoán khác, bao gồm độ phân giải cao và khả năng giảm thiểu rủi ro cho bệnh nhân.

Để mở rộng kiến thức về các ứng dụng công nghệ trong y học, bạn có thể tham khảo thêm Luận văn thạc sĩ vật lý kỹ thuật ứng dụng laser bán dẫn công suất thấp trong điều trị chứng đau cổ tay do bao hoạt dịch gân bị sưng, Luận văn thạc sĩ vật lý kỹ thuật ứng dụng laser bán dẫn công suất thấp trong điều trị đau khớp vai, và Luận văn thạc sĩ vật lý kỹ thuật ứng dụng laser bán dẫn công suất thấp trong điều trị thoát vị đĩa đệm vùng thắt lưng. Những tài liệu này sẽ cung cấp thêm góc nhìn về cách công nghệ hiện đại được áp dụng trong điều trị các bệnh lý khác nhau.