CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 1. Tổng quan các công trình nghiên cứu về các yếu tố ảnh hưởng đến xuất khẩu của các quốc gia 1. Tổng quan khung lý thuyết 1. Các trường phái lý thuyết về trao đổi thương mại Lý thuyết thương mại đã được nghiên cứu từ lâu và là một trong những luận cứ quan trọng trong việc nghiên cứu các hoạt động ngoại thương, trong đó xuất khẩu là hoạt động cơ bản.
Các mô hình lý thuyết thương mại quốc tế kể từ truyền thống đến hiện đại đều có mục tiêu đi tìm câu trả lời cho ba câu hỏi lớn: (1) Nguồn gốc của các dòng thương mại quốc tế là gì?; (2) Các dòng thương mại dịch chuyển như thế nào giữa các quốc gia?; (3) Tác động của các dòng thương mại này đến năng suất và hiệu quả phân bổ nguồn lực giữa các quốc gia như thế nào? Các mô hình lý thuyết chủ chốt sẽ có những khác biệt cơ bản liên quan đến các giả định và câu trả lời cho các câu hỏi lớn. Sự tương tác giữa mô hình lý thuyết, nghiên cứu thực nghiệm và sự tiến bộ của khoa học thống kê đã thúc đẩy sự phát triển của lý thuyết thương mại quốc tế. Nhìn lại tiến trình phát triển của của hệ thống lý thuyết thương mại có thể thấy vai trò to lớn của các tác giả như Adam Smith với tác phẩm “Wealth of Nations” (1776) và David Ricacdo với tác phẩm “On the Principles of Political Economy and Taxation” (1817) và sau này là tác phẩm“Principle of Economics” (1951) là cơ sở lý thuyết quan trọng cho việc giải thích sự hình thành hoạt động thương mại trên thế giới. Trong tác phẩm “Wealth of Nations” (1776), Smith đã trình bày lý thuyết về thương mại quốc tế dựa trên cơ sở về phân công lao động.
Theo Smith, phân công lao động, bằng cách khai thác quy mô kinh tế, dẫn đến sự gia tăng sản lượng lớn hơn và qua đó gia tăng của cải quốc gia. Thương mại quốc tế tăng cường phân công lao động và do đó làm tăng sự giàu có của một quốc gia. Do đó, các quốc gia cần có sự trao đổi hàng hóa với nhau để làm gia tăng thêm của cải. Và cơ sở để các quốc gia tiến hành trao đổi hàng hóa với nhau chính là dựa trên lợi thế tuyệt đối của mỗi nước.
Lợi thế tuyệt đối phát biểu rằng mỗi một quốc gia sẽ chỉ có lợi thế trong sản xuất một mặt hàng so với nước khác nhưng lại không có lợi thế sản xuất đối với những hàng hóa khác bằng nước thứ hai, do đó hai nước có thể trao đổi với nhau xuất khẩu những hàng hóa mình có lợi thế và nhập khẩu từ nước khác những hàng hóa kém lợi thế hơn. Với quan điểm trao đổi như vậy sẽ đưa đến việc các quốc gia sẽ dần thực hiện việc chuyên môn hóa sản xuất và xuất khẩu những mặt hàng mà mình có lợi thế. Để thực hiện trao 11 đổi hàng hóa thuận lợi nhất, tự do hóa thương mại chính là điều kiện quan trọng, điều đó đồng nghĩa với việc Smith ủng hộ việc chính phủ các nước hạn chế việc can thiệp vào các hoạt động ngoại thương mà thay vào đó hãy để cho nó diễn ra theo đúng quy luật trao đổi của nó. Thương mại tự do sẽ giúp cho nguồn lực của thế giới được phân bổ một cách hữu hiệu nhất và có thể tối đa hóa phúc lợi trao đổi thương mại.
Tuy nhiên, hạn chế trong lý thuyết lợi thế tuyệt đối của Adam Smith là ông vẫn chưa giải thích được hiện tượng thực tế rằng tại sao có những nước có lợi thế hơn hẳn các nước khác và những nước không có lợi thế gì đều vẫn thực hiện trao đổi thương mại. Nguồn gốc của lợi thế ấy là từ đâu? Lý giải những vấn đề này, David Ricacdo trong tác phẩm “On the Principles of Political Economy and Taxation” (1817) và sau này John Stuart Mill trong tác phẩm “Essay on Some Unsettled Questions of Political Economy” (1844) đã đưa ra lý thuyết lợi thế so sánh nhằm lý giải một cách chính xác nhất về sự xuất hiện lợi ích trong thương mại quốc tế. Lý thuyết này được phát triển dựa trên quan điểm lợi thế tuyệt đối của Adam Smith. Theo đó, Ricacdo nhấn mạnh: Sở dĩ một nước có lợi thế hơn hẳn nước khác hay một nước không có lợi thế tuyệt đối về một loại sản phẩm nào vẫn có thể tham gia hoạt động trao đổi và hưởng lợi từ thương mại do các nước đều có lợi thế so sánh của mình.
Như vậy, lợi thế so sánh là cơ sở để các nước buôn bán với nhau và là cơ sở để thực hiện phân công lao động quốc tế. Lý thuyết của Ricacdo được xây dựng dựa trên một số giả thiết: Mỗi nước có lợi thế về một loại tài nguyên và tất cả các tài nguyên đã được xác định; Các yếu tố sản xuất dịch chuyển trong phạm vi một quốc gia; Các yếu tố sản xuất không được dịch chuyển ra bên ngoài; Mô hình của Ricacdo dựa trên học thuyết về giá trị lao động; Công nghệ của hai quốc gia như nhau; Chi phí sản xuất là cố định; Sử dụng hết lao động (Lao động được thuê mướn toàn bộ); Nền kinh tế cạnh tranh hoàn hảo; Chính phủ không can thiệp vào nền kinh tế; Chi phí thương mại bằng không. Hạn chế trong lý thuyết của David Ricacdo chính là việc ông không đưa ra được những phân tích để xác định giá cả thương mại. Điều này đã được John Stuart Mill trong nghiên cứu của mình “Essay on Some Unsettled Questions of Political Economy” (1844) phân tích làm thế nào để xác định giá thương mại bằng cung và cầu và cung cấp bằng chứng chân thật và chính xác sự tồn tại “trạng thái cân bằng”.
John Stuart Mill cũng đã phân tích điều kiện từng phần và điều kiện đầy đủ của sự chuyên môn hóa. Với giả định của Mill rằng mỗi quốc gia xuất khẩu cho quốc gia khác 1 đơn vị hàng hóa trên cơ sở giá sản xuất tương đối trong nước thấp hơn giá ở trạng thái không có thương mại và thu nhập thực tế khi không có thương mại tăng lên đồng loạt sau khi có trao đổi thương mại, Sraffa (1960) và Paul Samuelson (2001) đã làm rõ giả định này bằng việc đưa ra những minh chứng cho thấy nhiều hàng hóa có 12 thể hình thành bằng việc sử dụng sản phẩm của các hàng hóa khác với mục đích lý giải sự tăng lên của khả năng sản xuất từ việc kết hợp lao động và các đầu vào khác trong đó có vốn là yếu tố thiếu trong học thuyết về giá trị lao động cổ điển. Như vậy, lợi thế so sánh là cơ sở để các quốc gia thực hiện thương mại quốc tế chứ không phải là lợi thế tuyệt đối. Nhìn chung, quan điểm của David Ricacdo và Adam Smith không có nhiều khác biệt, có nghĩa là cả hai ông đều ủng hộ tự do hóa thương mại đặc biệt là hoạt động xuất nhập khẩu, và đều cho rằng các chính phủ nên thúc đẩy tự do hóa thương mại hơn là sử dụng những biện pháp nhằm hạn chế thương mại.
Bước sang giai đoạn phát triển mới (đầu thế kỷ XX) lý thuyết thương mại cổ điển đã bộc lộ những hạn chế và không thể lý giải được: Nguồn gốc của lợi thế tương đối ở đâu? Tại sao các quốc gia khác nhau lại có chi phí cơ hội khác nhau?.Để lý giải cho những câu hỏi trên, hai nhà kinh tế học: Heckscher E. (1919) “The effects of foreign trade on the distribution of income”, Ohlin B. Mô hình Heckscher – Ohlin nhấn mạnh sự khác biệt về nguồn lực (lao động, vốn, đất đai) là nguồn gốc của ngoại thương. Mô hình này cho thấy lợi thế so sánh của một nước được quyết định bởi: (i) Sự dồi dào tương đối các yếu tố sản xuất của một nước; (ii) Sự thâm dụng các yếu tố tương đối của một loại hàng hóa.
Mô hình này có những dự đoán tương đối phù hợp với thực tế hơn so với mô hình Ricacdo, đó là: Các nước có xu hướng sản xuất hai loại hàng hóa (không có chuyên môn hóa hoàn toàn). Ngoại thương mang lại lợi ích cho một nước nhưng đồng thời cũng gây ra tác động phân phối lại thu nhập bên trong một nước. Với quan điểm: thương mại quốc tế là tự do hóa thương mại nhằm mang lại lợi ích cho các quốc gia. Lợi ích của thương mại quốc tế là khai thác các lợi thế so sánh dựa trên các nguồn lực mà một quốc gia sẵn có như đất đai, lao động và vốn.
Lý thuyết Heckscher – Ohlin đã lý giải được bản chất của trao đổi thương mại là trao đổi các yếu tố dư thừa để lấy các yếu tố khan hiếm. Nhưng lý thuyết này lại cho thấy những hạn chế về mặt lý luận và chưa lý giải được những vấn đề thương mại quốc tế trong bối cảnh diễn biến phức tạp của thị trường thế giới. Cùng với sự phát triển mạnh mẽ của thương mại quốc tế, lý thuyết thương mại quốc tế hiện đại đã không chỉ dừng lại ở việc giải thích nguồn gốc của thương mại và sự dịch chuyển của các dòng thương mại giữa các quốc gia với nhau, mà đã đạt được những thành tựu quan trọng trong việc giải thích tác động của thương mại đến năng suất và hiệu quả phân bổ nguồn lực giữa các quốc gia. Bên cạnh đó, đặc điểm của các 13 dòng thương mại đã trở nên phức tạp hơn rất nhiều so với thời kỳ của Ricardo.
Thực tiễn trao đổi thương mại không chỉ dừng lại giữa các quốc gia có sự khác biệt (trong năng suất như Lý thuyết của Ricardo) mà trao đổi vẫn diễn ra ở các quốc gia có đặc điểm tương tự nhau (Grubel và Lloyd, 1975). Thực tiễn này đã dẫn đến sự phát triển của các mô hình lý thuyết giải thích thương mại ngay trong nội bộ ngành (intra- industry trade), so với lý thuyết truyền thống giải thích thương mại liên ngành (inter- industry trade) trước đây. Hơn một thập kỷ gần đây chứng kiến sự phát triển vượt bậc của lý thuyết thương mại hiện đại khi các nhà kinh tế đã thành công trong việc giải thích hành vi xuất khẩu của các doanh nghiệp trong cùng một ngành. Thành tựu này đã làm dịch chuyển đối tượng nghiên cứu cơ bản của thương mại quốc tế từ cấp quốc gia và cấp ngành xuống đơn vị kinh tế vi mô cơ bản là cấp doanh nghiệp.
Grubel và Lloyd (1975) cho thấy thương mại có thể diễn ra giữa các quốc gia tương tự nhau thông qua số liệu thương mại giữa các quốc gia trong Cộng đồng kinh tế Châu Âu (EC).