PHẦN MỞ ĐẦU 1. Lý do lựa chọn đề tài Sau khoảng ba thập kỷ đổi mới, nền kinh tế Việt Nam đã có nhiều bước chuyển mình đáng kể: Sự thay đổi cơ cấu kinh tế theo hướng tăng tỷ trọng ngành công nghiệp dịch vụ, nông nghiệp thay đổi theo hướng công nghiệp hóa của ngành, khoa học công nghệ phát triển tương đối mạnh mẽ, tốc độ tăng trưởng kinh tế năm 2016 đạt 6,21% (Tổng cục Thống kê, 2016). Việc phát triển mạnh mẽ về mặt kinh tế đặt ra yêu cầu ngày càng sâu và rộng về mặt cơ sở hạ tầng xét trên cả khía cạnh về chất lượng và số lượng, trong đó hệ thống giao thông là một trong những khía cạnh được quan tâm lớn nhất khi nói đến hệ thống cơ sở hạ tầng. Thực tế cho thấy, giao thông vận tải nói chung và giao thông đường bộ nói riêng đã thể hiện được vị trí và vai trò quan trọng trong việc tạo điều kiện thuận lợi cho phát triển kinh tế xã hội của đất nước, giao thông thuận lợi tạo điều kiện cho quá trình sản xuất và di chuyển được thông suốt, tạo ra những giá trị gia trong quá trình thực hiện chức năng của mình.
Với vị trí và vai trò của mình đối với sự phát triển kinh tế xã hội của quốc gia, đồng thời để đáp ứng những yêu cầu của ngành, ngành Giao thông vận tải đã đề ra những chính sách, chiến lược phát triển giao thông đến năm 2020 và tầm nhìn đến năm 2030, với những nỗ lực không ngừng trong việc thực hiện mục tiêu phát triển kết cấu hạ tầng giao thông về mặt số lượng bên cạnh đó là nâng cao chất lượng các công trình giao thông trên toàn lãnh thổ. Cụ thể, Bộ Giao thông vận tải đã tập trung giải quyết các vấn đề như tái cơ cấu, cổ phần hoá các doanh nghiệp Nhà nước, cải cách thủ tục hành chính để nâng cao hiệu quả kinh doanh, tạo cơ chế thuận lợi thu hút các dòng vốn đầu tư vào lĩnh vực giao thông vận tải. Thành quả thu được từ những nỗ lực đó là hàng loạt các công trình giao thông trọng điểm ra đời, tạo ra nền tảng và đóng góp một phần không nhỏ cho sự phát triển của các ngành khác, cụ thể như tính đến hết năm 2016, tổng chiều dài đường bộ nước ta vào khoảng 417204 km (Tổng cục Đường bộ Việt Nam, 2016), trong đó chiều dài đường quốc lộ khoảng 22660 km và chiều dài cao tốc khoảng 114146 km. Tuy nhiên, với đặc điểm đầu tư phát triển giao thông vận tải nói riêng, đầu tư phát triển trong các lĩnh vực khác nói chung, nhu cầu vốn cho hoạt động đầu tư này thường rất lớn, thời gian thu hồi vốn dài, các công trình được xây dựng chiếm một tỷ trọng không nhỏ là các dự án, công trình công cộng… Thêm vào đó, các dự án này với nhu cầu vốn lớn cộng thêm thời gian thực hiện dài, khả năng rủi ro của các dự án là không tránh khỏi, chính vì vậy việc huy động và sử dụng vốn là một vấn đề được quan 2 tâm của không chỉ với các nhà hoạch định chính sách mà còn của các nhà nghiên cứu trong lĩnh vực này.
Ngoài ra, việc thực hiện các hoạt động đầu tư phát triển trong lĩnh vực giao thông vận tải như thế nào cũng là một câu hỏi cần những câu trả lời cho cả các nhà hoạch định chính sách và các nhà nghiên cứu. Chính vì những lý do như vậy, vốn ngân sách Nhà nước có vị trí và vai trò vô cùng quan trọng trong lĩnh vực giao thông đặc biệt là giao thông đường bộ, vốn ngân sách Nhà nước hỗ trợ và đảm bảo việc thực hiện những dự án mang tính rủi ro và yêu cầu dòng vốn lớn của đầu tư kết cấu hạ tầng giao thông đường bộ. Để đạt được những kết quả tích cực cho hoạt động đầu tư phát triển nói chung và đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng giao thông đường bộ nói riêng, các nhân tố ảnh hưởng đến hoạt động này có vị trí tương đối quan trọng. Có các nhân tố khác nhau ảnh hưởng đến đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng giao thông đường bộ như các nhân tố về vốn đầu tư, các nhân tố về điều kiện tự nhiên, điều kiện xã hội, các nhân tố thuộc về các đơn vị liên quan thực hiện dự án (Chủ đầu tư, nhà thầu, đơn vị thi công…), các nhân tố này có mức độ ảnh hưởng khác nhau đến quyết định đầu tư và kết quả đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng giao thông đường bộ.
Vì vậy, cần phát huy những nhân tố ảnh hưởng tích cực, hạn chế những nhân tố ảnh hưởng tiêu cực có ý nghĩa quan trọng trong quá trình thực hiện hoạt động đầu tư phát triển nhằm đạt được những kết quả đầu ra theo mong muốn. Thực tế đã chứng minh vị trí và vai trò của đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng giao thông đường bộ và các nhân tố ảnh hưởng đến hoạt động này, mảng vấn đề này không chỉ nhận được sự quan tâm của các nhà hoạch định chính sách mà còn của các nhà nghiên cứu. Cụ thể, Các nhà hoạch định chính sách quan tâm đến việc huy động và sử dụng sao cho hiệu quả các nguồn lực, trong khi đó các nhà nghiên cứu khai thác nhiều khía cạnh khác nhau trong phạm trù đầu tư này, với những mảng kiến thức khác nhau, những phương pháp nghiên cứu khác nhau được lựa chọn để có thể tìm ra những quy luật cho vấn đề nghiên cứu. Trong nghiên cứu này, tác giả tập trung xem xét đến khía cạnh đầu tư phát triển.
Về đầu tư phát triển có khá nhiều nghiên cứu đã được thực hiện từ hệ thống những lý luận, những chỉ tiêu nền tảng khi nghiên cứu về đầu tư phát triển theo ngành, theo lĩnh vực như nghiên cứu của tác giả Từ Quang Phương, Phạm Văn Hùng (2013), đến những nghiên cứu cụ thể trong từng lĩnh vực như trong đầu tư phát triển cảng biển của tác giả Nguyễn Thị Thu Hà (2013), hay xem xét đến việc quản lý hoạt động đầu tư xây dựng cơ bản, quản lý dự án đầu tư của tác giả Nguyễn Thị Bình (2009) khi nghiên cứu trong ngành giao thông vận tải. 3 Tuy nhiên, những nghiên cứu đang dừng lại ở việc xem xét chủ yếu về thực trạng đầu tư tại các ngành, chưa đi sâu nghiên cứu về lĩnh vực cụ thể: Kết cấu hạ tầng giao thông đường bộ, chưa có nhiều nghiên cứu xem xét về mặt định lượng, lượng hóa mối quan hệ giữa các nhân tố tác động tới hoạt động đầu tư phát triển như: Mức độ ảnh hưởng của các nhân tố như thế nào đến quyết định đầu tư, kết quả đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng giao thông đường bộ sử dụng vốn ngân sách Nhà nước? Do vậy, việc lựa chọn đề tài nghiên cứu: “Nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng giao thông đường bộ sử dụng vốn ngân sách Nhà nước ở Việt Nam” theo tác giả là cần thiết. Mục tiêu nghiên cứu Mục tiêu của nghiên cứu này là tìm hiểu mức độ ảnh hưởng của các nhân tố tới đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng giao thông đường bộ sử dụng vốn ngân sách Nhà nước ở Việt Nam, xác định những nhân tố có ảnh hưởng tích cực và những nhân tố có ảnh hưởng tiêu cực đến hoạt động đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng giao thông đường bộ sử dụng ngân sách Nhà nước ở Việt Nam, nguyên nhân của những tác động tiêu cực đó. Từ đó, tác giả đề xuất một số kiến nghị nhằm đẩy mạnh hoạt động đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng giao thông đường bộ sử dụng vốn ngân sách Nhà nước ở Việt Nam.
Bởi vậy, nghiên cứu này sẽ trả lời các câu hỏi: • Nhận diện và kiểm định mức độ ảnh hưởng của các nhân tố đến quyết định đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng giao thông đường bộ sử dụng vốn ngân sách Nhà nước ở Việt Nam? • Thực trạng hoạt động đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng giao thông đường bộ sử dụng vốn ngân sách Nhà nước? • Nhận diện và kiểm định mức độ ảnh hưởng của các nhân tố đến kết quả đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng giao thông đường bộ sử dụng vốn ngân sách Nhà nước ở Việt Nam? 3. Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu 3. Đối tượng nghiên cứu Các nhân tố ảnh hưởng đến hoạt động đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng giao thông đường bộ sử dụng vốn ngân sách Nhà nước ở Việt Nam. Phạm vi nghiên cứu Phạm vi thời gian: Nghiên cứu trong khoảng thời gian từ năm 2012 đến năm 2016 Phạm vi không gian: Nghiên cứu tiến hành trong lĩnh vực kết cấu hạ tầng giao thông đường bộ sử dụng vốn ngân sách Nhà nước Nguồn vốn của các dự án đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng giao thông đường bộ từ vốn Trung ương Phạm vi nội dung: Nghiên cứu xem xét đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng giao thông đường bộ sử dụng vốn ngân sách Nhà nước 4.
Phương pháp nghiên cứu 4. Cách tiếp cận a. Cơ sở lý thuyết *) Hàm sản xuất Cobb - Douglas Trong hoạt động sản xuất có ba yếu tố quan trọng đảm bảo cho sự phát triển: Vốn, lao động, khoa học kỹ thuật và khả năng tổ chức quản lý của doanh nghiệp, cơ quan quản lý Nhà nước hay toàn xã hội nói chung. Sản xuất nhanh hay chậm phụ thuộc vào việc sử dụng các yếu tố đầu vào của quá trình sản xuất.
Để đo lường tác động của các yếu tố này đến kết quả sản xuất sử dụng hàm sản xuất Cobb - Douglas để đo lường: Hàm sản xuất Cobb - Douglas có dạng: Y = f(X1, X2, …, Xn, D1, D2, …, Dm, u) Trong đó: Y là kết quả sản xuất (output) Xi là các yếu tố đầu vào (inputs) Hàm CD được viết lại dưới dạng: Y = AX1b1 X2b2 … Xibi … Xnbn +u (1) Trong đó: Y: Là biến phụ thuộc X1, X2, …, Xi, Xn: Là các biến giải thích có tác động ảnh hưởng tới biến phụ thuộc Y. bi : Là các tham số cần ước lượng của bài toán và hệ số ảnh hưởng của từng nhân tố định lượng tới biến phụ thuộc Y 5 U: Là sai số ngẫu nhiên, nói lên ảnh hưởng của các yếu tố khác ngoài các Xi và Dj tới Y.