Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Sau gần hai thập kỷ thực hiện đường lối Đổi mới, Việt Nam đã chuyển đổi mạnh mẽ sang cơ chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Trong chiến lược phát triển kinh tế – xã hội, Đảng và Nhà nước xác định quan điểm "kết cấu hạ tầng phải đi trước một bước để tạo thế phát triển vững chắc cho tương lai toàn bộ nền kinh tế". Mặc dù hệ thống kết cấu hạ tầng kỹ thuật đã có những chuyển biến rõ rệt, nguồn lực phát triển thời gian qua chủ yếu phụ thuộc vào ngân sách nhà nước hạn hẹp và nguồn vốn hỗ trợ phát triển chính thức (ODA). Thực tế quản lý và đầu tư công còn bộc lộ nhiều điểm bất cập, tình trạng thất thoát vốn, chất lượng công trình chưa cao và chưa tạo được sức hút mạnh mẽ đối với dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI).

Trong khi đó, khu vực tư nhân – vốn được coi là động lực quan trọng thúc đẩy tăng trưởng – mới chỉ đóng vai trò khiêm tốn trong lĩnh vực kết cấu hạ tầng kỹ thuật. Nguyên nhân sâu xa xuất phát từ sự khác biệt về mục đích đầu tư: Nhà nước hướng tới mục tiêu hiệu quả kinh tế – xã hội và nâng cao phúc lợi, trong khi khu vực tư nhân hướng tới hiệu quả tài chính và lợi nhuận. Việc giải quyết hài hòa xung đột lợi ích này nhằm thu hút nguồn lực tư nhân tham gia đầu tư phát triển hạ tầng, giảm gánh nặng ngân sách và nâng cao hiệu quả vận hành là lý do tác giả thực hiện chuyên đề tốt nghiệp này.

Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu:

  1. Hệ thống hóa các vấn đề lý luận cơ bản về đầu tư, phân loại đầu tư và đặc điểm kinh tế của kết cấu hạ tầng kỹ thuật; luận giải sự cần thiết của việc thu hút khu vực tư nhân tham gia.
  2. Tổng kết các bài học kinh nghiệm quốc tế về việc tư nhân hóa, nhượng quyền và xã hội hóa đầu tư hạ tầng trong các ngành điện, cấp nước, viễn thông, đường sắt và cảng biển.
  3. Phân tích thực trạng hệ thống kết cấu hạ tầng kỹ thuật tại Việt Nam (giao thông vận tải, bưu chính viễn thông, năng lượng điện, cấp nước) và đánh giá mức độ tham gia thực tế của khu vực tư nhân.
  4. Nhận diện các cơ hội đầu tư, những hạn chế về mặt thể chế, chính sách giải phóng mặt bằng, cơ chế điều tiết và đề xuất hệ thống giải pháp khuyến khích tư nhân đầu tư vào kết cấu hạ tầng kỹ thuật ở Việt Nam.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

  • Đối tượng nghiên cứu: Hoạt động đầu tư và các cơ chế khuyến khích sự tham gia của khu vực tư nhân vào lĩnh vực kết cấu hạ tầng kỹ thuật.
  • Phạm vi không gian: Tập trung vào các ngành hạ tầng kỹ thuật trọng điểm tại Việt Nam (giao thông, viễn thông, điện, nước), có đối chiếu kinh nghiệm tại các quốc gia như Pakistan, Bờ Biển Ngà, Philippines, Chile, Mexico, Ba Lan, Nhật Bản, New Zealand và Colombia.
  • Phạm vi thời gian: Đánh giá số liệu thực trạng giai đoạn 1991–2002 và định hướng nhu cầu vốn đầu tư đến các mốc năm 2005, 2008 và 2010.
  • Thông tin đề tài: Chuyên đề tốt nghiệp thực hiện tại Trường Đại học Kinh tế Quốc dân (Hà Nội, tháng 5/2004) bởi sinh viên Phạm Trường Thịnh, dưới sự hướng dẫn khoa học của TS. Nguyễn Tiến Dũng và sự hỗ trợ chuyên môn của TS. Trần Hồng Quang (Ban Nghiên cứu phát triển vùng – Viện Chiến lược phát triển – Bộ Kế hoạch và Đầu tư).

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Chuyên đề được xây dựng dựa trên các khung lý thuyết kinh tế học đầu tư, kinh tế công cộng và quản lý nhà nước về cơ sở hạ tầng.

Khung lý thuyết và các khái niệm cơ bản:

  • Đầu tư (Investment): Là hình thức bỏ vốn cùng các nguồn lực khác ở hiện tại để tiến hành một hoạt động nhằm tạo ra hoặc khai thác sử dụng tài sản với mục đích thu về các kết quả có lợi hơn trong tương lai. Tác giả phân loại đầu tư theo nguồn vốn (trong nước, nước ngoài), theo cơ cấu tái sản xuất (chiều rộng, chiều sâu), theo thời gian (ngắn hạn, trung hạn, dài hạn), theo bản chất (đầu tư tài chính, đầu tư thương mại, đầu tư phát triển) và theo lĩnh vực xã hội (sản xuất kinh doanh, khoa học kỹ thuật, kết cấu hạ tầng).
  • Kết cấu hạ tầng (KCHT): Tổng hợp các công trình vật chất kỹ thuật có chức năng phục vụ trực tiếp cho sản xuất và đời sống nhân dân, được bố trí trên một phạm vi lãnh thổ nhất định. KCHT được chia thành KCHT xã hội (giáo dục, y tế, văn hóa) và KCHT kỹ thuật/kinh tế (giao thông vận tải, bưu chính viễn thông, cấp thoát nước, cung cấp điện).
  • Đặc tính kinh tế của KCHT kỹ thuật:
    • Quy mô vốn rất lớn, tỷ trọng cao trong tổng vốn đầu tư toàn xã hội, thời gian hoàn vốn ban đầu kéo dài.
    • Mang tính chất hàng hóa công cộng (không kình địch, không ngăn cản, khó từ chối) hoặc hàng hóa tư được cung cấp dưới hình thức công cộng; có tính độc quyền tự nhiên do lợi thế kinh tế nhờ quy mô.
    • Gắn liền với 3 khái niệm tuổi thọ: Tuổi thọ thiết kế (thường từ 25 đến 50 năm), tuổi thọ kinh tế và tuổi thọ dịch vụ.
  • Mối quan hệ vĩ mô: Mối quan hệ giữa đầu tư KCHT kỹ thuật và tăng trưởng GDP thông qua hệ số $ICOR$ với công thức $g = I_{KCHT} / ICOR$ và cấu trúc tổng cầu vĩ mô $GDP = C + G + I + NX$. Dẫn chứng nhận định của Ngân hàng Thế giới: Tăng 1% đầu tư KCHT giúp GDP tăng thêm 1%, đồng thời bình quân hàng năm một người dân nhận được thêm 0,3% nước sạch, 0,8% mặt đường trải nhựa, 1,5% năng lượng và 1,7% thông tin liên lạc.

Văn bản pháp luật và chính sách áp dụng: Nghiên cứu khảo sát hệ thống pháp luật điều chỉnh đầu tư tại Việt Nam: Luật Đầu tư nước ngoài năm 1987; các Nghị định của Chính phủ về quy chế Hợp đồng Xây dựng – Kinh doanh – Chuyển giao (BOT) ban hành năm 1993, năm 1996 và sửa đổi vào tháng 1/1999; Nghị định số 44/1998/NĐ-CP về việc không cổ phần hóa các doanh nghiệp dịch vụ công cộng; Nghị định số 88/1999/NĐ-CP về ban hành Quy chế Đấu thầu.

Phương pháp nghiên cứu:

  • Phương pháp phân tích – tổng hợp: Hệ thống hóa lý luận và các quy định pháp luật điều chỉnh quan hệ đối tác công – tư.
  • Phương pháp thống kê mô tả và so sánh: Tổng hợp số liệu hiện trạng kỹ thuật các ngành giao thông, điện, nước, viễn thông giai đoạn 1991–2000; tính toán cơ cấu vốn đầu tư và mức độ đáp ứng hạ tầng.
  • Phương pháp phân tích tình huống (Case Study): Phân tích các mô hình tư nhân tham gia hạ tầng tại các quốc gia đang phát triển và các dự án thực nghiệm cụ thể tại Việt Nam.

Nguồn dữ liệu: Số liệu thứ cấp trích xuất từ các báo cáo chính thức của Bộ Giao thông Vận tải, Tổng cục Bưu điện, Tổng công ty Điện lực Việt Nam (EVN), Cục Hàng hải Việt Nam, Ngân hàng Thế giới (World Bank), đoàn nghiên cứu SAPS và các cơ sở dữ liệu của Ban Nghiên cứu phát triển vùng (Viện Chiến lược phát triển – Bộ Kế hoạch và Đầu tư).

Nội dung chính theo từng chương

Chương I: Những vấn đề lý luận chung về đầu tư và kết cấu hạ tầng kĩ thuật

Chương I tập trung giải quyết nền tảng lý luận về bản chất, vai trò của KCHT kỹ thuật và phân tích sự cần thiết phải mở rộng thành phần kinh tế tư nhân tham gia đầu tư:

  1. Lý giải khoảng trống tài chính vĩ mô: Dự báo nhu cầu đầu tư KCHT của Việt Nam giai đoạn đầu thập niên 2000 đòi hỏi khoảng 3 tỷ USD mỗi năm (tương đương 12% GDP). Khả năng cấp vốn từ ngân sách nhà nước chỉ đạt tối đa 3% GDP, vốn ODA giải ngân tối đa 2% GDP, để lại khoảng thiếu hụt lên tới 7% GDP (khoảng 2,1 tỷ USD/năm) bắt buộc phải huy động từ khu vực tư nhân.
  2. Nâng cao hiệu quả quản trị: Khu vực tư nhân giúp khắc phục tình trạng quản lý kém hiệu quả, tham nhũng, thất thoát nguyên vật liệu trong các dự án công, thúc đẩy cắt giảm chi phí và áp dụng nhanh quy trình kỹ thuật mới.
  3. Tổng kết kinh nghiệm quốc tế:
    • Ngành điện tại Pakistan: Mô hình tư nhân bán điện cho công ty nhà nước WAPDA thông qua bảo lãnh chính phủ gặp khủng hoảng nghiêm trọng do nhà nước vẫn duy trì độc quyền phân phối và định giá bán lẻ mang tính chính trị; giá cổ phiếu của tập đoàn BOT HUBCO sụt giảm 60%.
    • Ngành nước tại Bờ Biển Ngà (SODECI) và Manila (Philippines): Mô hình hợp đồng cho thuê của SODECI nâng tỷ lệ cấp nước đô thị lên 87% tại Abidjan, tỷ lệ thu tiền đạt 98% và giảm biên chế xuống còn 3 nhân viên/1.000 kết nối. Tại Manila, hợp đồng nhượng quyền MWSS 25 năm chia thành 2 vùng (Đông và Tây) qua đấu thầu cạnh tranh đã giúp giảm giá nước 74% ở miền Đông và 43% ở miền Tây.
    • Ngành viễn thông tại Chile, Mexico, Ba Lan: Xóa bỏ rào cản pháp lý và tư nhân hóa viễn thông tại Chile (1987–1990) giúp mật độ máy tăng từ 5 lên 17 máy/100 dân, cước cuộc gọi quốc tế sang Mỹ giảm từ 1,5 USD/phút xuống dưới 0,4 USD/phút.
    • Ngành đường sắt tại Nhật Bản (JNR), New Zealand và Cảng biển tại Colombia: Thành lập công ty xử lý tài sản để thanh lý nợ trước khi tư nhân hóa đường sắt; nhượng quyền khai thác cảng tại Colombia giúp giảm thời gian tàu chờ từ 10 ngày xuống 0 ngày, tăng năng suất bốc dỡ từ 750 lên 1.700 tấn/tàu/ngày và giảm cước bốc dỡ từ trên 600 USD xuống dưới 150 USD/container.
Chỉ số vận hành cảng biển thông thường tại Colombia Trước khi nhượng quyền Sau khi nhượng quyền
Thời gian tàu chờ trung bình 10 ngày Không (tính theo giờ)
Lượng bốc dỡ hàng thông thường / tàu / ngày 750 tấn 1.700 tấn
Số lượng bốc dỡ container / tàu / ngày 16 container 25 container
Cước phí bốc dỡ một container > 600 USD < 150 USD

Chương II: Thực trạng tham gia của tư nhân vào kết cấu hạ tầng kĩ thuật ở nước ta hiện nay

Chương II phân tích chi tiết quy mô hệ thống KCHT hiện hữu của Việt Nam và kết quả tham gia của khối tư nhân:

  1. Hiện trạng KCHT kỹ thuật Việt Nam đến năm 2000–2002:
    • Giao thông vận tải: Toàn quốc có trên 220.000 km đường bộ (quốc lộ trên 15.000 km), tỷ lệ rải nhựa đạt 70% ở quốc lộ nhưng tỉnh lộ chỉ đạt 30% và đường khác 10%. Có 920 cầu không an toàn trên các quốc lộ (tổng chiều dài 42.652 m). Mật độ đường đạt 0,65 km/km², cao hơn Thái Lan (0,2) và Philippines (0,45). Về hàng hải, cả nước có 70 cảng biển (22 km cầu bến, năng lực 50 triệu tấn/năm), trong đó 7 cảng chính có năng lực 23 triệu tấn/năm; đội tàu quốc gia có 305 chiếc (0,83 triệu DWT). Ngành hàng không vận hành 16 sân bay (3 sân bay quốc tế Nội Bài, Tân Sơn Nhất, Đà Nẵng). Mạng lưới đường sắt gồm 3 khổ đường (1.000 mm, 1.435 mm và khổ đường lồng).
    • Bưu chính viễn thông: Mạng lưới số hóa 100% truyền dẫn cấp 1; trục cáp quang Bắc – Nam đạt dung lượng 2,5 Gbps (30.000 kênh chuẩn), viba số 140 Mbps (1.920 kênh); mật độ điện thoại đạt gần 10 máy/100 dân; mạng bưu chính có 3.000 bưu cục, bán kính phục vụ bình quân 6 km.
    • Năng lượng điện: Có 13 nhà máy lớn (7 nhiệt điện, 6 thủy điện) với tổng công suất 5.500 MW, sản lượng 23 tỷ kWh/năm; hệ thống đường dây 500 kV Bắc – Nam dài gần 1.500 km; lưới 110–220 kV dài 12.000 km và lưới $\le$ 35 kV dài 22.000 km.
    • Cấp nước: 190 nhà máy nước đô thị với tổng công suất 2,6 triệu m³/ngày đêm, mới chỉ cấp nước cho 53% dân cư đô thị (tiêu chuẩn 60 lít/người/ngày); tỷ lệ thất thoát nước sạch trên 50%, công suất khai thác thực tế mới đạt 70% công suất thiết kế.
Lĩnh vực giao thông vận tải Vốn đầu tư thực hiện thời kỳ 1991–2000 (Tỷ đồng)
Đường bộ 32.652
Hàng không 3.845
Vận tải biển 2.728
Đường sắt 2.058
Đường sông 735

(Ghi chú: Số liệu theo Bộ Giao thông Vận tải; chưa bao gồm vốn vay thương mại mua tàu biển và máy bay)

  1. Thực tế tham gia của tư nhân trong từng lĩnh vực:
    • Ngành điện: Dự án tư nhân tự đầu tư là Nhà máy điện Hiệp Phước (375 MW, 100% vốn Đài Loan) bán điện cho EVN với giá 5,7 US cent/kWh (hợp đồng 3 năm). Dự án BOT Wartsila Bà Rịa (120 MW, ký hợp đồng BOT 19/9/1997, cấp phép 24/9/1997) có sự tham gia cấp vốn của IFC và bảo lãnh của Chính phủ. Dự án BOT Phú Mỹ 2-2 là dự án đầu tiên áp dụng đấu thầu cạnh tranh quốc tế (năm 1998, thu hút 6 tập đoàn quốc tế, chọn liên danh do EDF đứng đầu).
    • Ngành nước: Dự án BOT Cấp nước Bình An (BAWC - 100% vốn Malaysia) là dự án BOT cấp nước duy nhất, ký hợp đồng 20 năm công suất 100.000 m³/ngày phân phối cho KCN Biên Hòa và 10% nhu cầu TP.HCM; rủi ro bao tiêu và ngoại tệ do nhà nước bảo lãnh.
    • Ngành viễn thông: Chủ yếu triển khai qua hình thức Hợp đồng Hợp tác Kinh doanh (BCC) giữa Tổng công ty Bưu chính Viễn thông Việt Nam (VNPT) và các tập đoàn quốc tế để huy động vốn và công nghệ, đối tác nước ngoài không trực tiếp điều hành mạng.
Tên đối tác quốc tế (Dự án BCC) Dịch vụ viễn thông triển khai Giá trị cam kết (Triệu USD) Thời điểm cấp phép
FRC (Pháp) Mạng điện thoại khu vực phía Đông TP.HCM 467,00 12/11/1997
Telstra (Australia) Mạng viễn thông quốc tế 237,10 -
Cable & Wireless (Anh) Mạng điện thoại khu vực Tây Nam Hà Nội 207,06 08/08/1998
NTT (Nhật Bản) Mạng điện thoại khu vực phía Bắc Hà Nội 194,40 12/11/1997
Comvik (Thụy Điển) Dịch vụ điện thoại di động 127,50 -
Sapura (Malaysia) Điện thoại thẻ trả tiền 3,50 -
Worldcorp Danh bạ điện thoại 0,50 -
Voice Nhắn tin MCC 0,70 -
  • Ngành giao thông: Cảng Bà Rịa SERESE là cảng tư nhân đầu tiên (công suất 1,2 triệu tấn chuyên chở thép, phân bón); Cảng container VICT (công suất 5,5 triệu tấn); Cảng nước sâu KCN Đình Vũ (vốn đầu tư 560 triệu USD). Đối với đường sắt, kế hoạch gồm dự án BOT 173 (tàu điện ngầm Hà Nội, 600 triệu USD) và BOT 174 (nâng cấp tuyến Lào Cai – Cái Lân, 130 triệu USD) nhưng việc triển khai gặp khó khăn về mô hình hoàn vốn.
  1. Nhu cầu vốn giai đoạn đến năm 2010 và những rào cản chủ yếu:
    • Dự báo nhu cầu điện năng tăng trưởng 11,5%/năm (từ 16,949 TWh năm 1996 lên 77,406 TWh năm 2010), công suất cực đại tăng 11,3%/năm (từ 3,161 GW lên 14,123 GW), đòi hỏi bổ sung 10.000 MW nguồn điện mới với tổng nhu cầu vốn khoảng 9,5 tỷ USD. Nhu cầu vốn đầu tư cấp nước đô thị và nông thôn ước tính 16.000 tỷ đồng.
    • Các hạn chế cản trở tư nhân: Chậm giải phóng mặt bằng do thiếu tiêu chuẩn đền bù thống nhất (điển hình tại dự án Quốc lộ 5, cao tốc Láng – Hòa Lạc, Quốc lộ 21); khung pháp lý BOT còn nhiều vướng mắc về bảo lãnh chuyển đổi ngoại hối, quyền can thiệp của bên cho vay, cơ chế giải quyết tranh chấp; thiếu cơ quan điều tiết độc lập khi các cơ quan quản lý nhà nước kiêm nhiệm điều hành doanh nghiệp; phương thức chỉ định đàm phán trực tiếp vẫn lấn át đấu thầu cạnh tranh minh bạch.

Chương III: Một số giải pháp khuyến khích tư nhân tham gia đầu tư kết cấu hạ tầng kĩ thuật ở nước ta và kinh nghiệm nước ngoài

Chương III trình bày hệ thống các nhóm giải pháp chính sách mang tính liên ngành và chuyên ngành:

  1. Nhóm giải pháp liên ngành:
    • Hoàn thiện thể chế và môi trường pháp lý điều chỉnh hình thức đầu tư BOT, BTO, BT; ban hành quy chế rõ ràng về quyền can thiệp của tổ chức tín dụng quốc tế và cơ chế giải quyết tranh chấp thông qua trọng tài độc lập.
    • Thiết lập cơ chế chia sẻ rủi ro công bằng giữa Chính phủ và tư nhân đối với rủi ro thị trường, rủi ro chuyển đổi ngoại tệ và nghĩa vụ bao tiêu sản lượng tối thiểu.
    • Chuẩn hóa và thống nhất quy trình bồi thường, hỗ trợ di dời, giải phóng mặt bằng từ cấp Trung ương để bàn giao quỹ đất sạch đúng tiến độ.
    • Chuyển đổi căn bản phương thức lựa chọn nhà đầu tư từ đàm phán trực tiếp sang tổ chức đấu thầu cạnh tranh quốc tế công khai theo tinh thần Nghị định 88/1999/NĐ-CP.
  2. Nhóm giải pháp cho từng ngành chuyên biệt:
    • Ngành năng lượng: Từng bước tái cơ cấu ngành điện, tách bạch khâu phát điện, truyền tải và phân phối bán lẻ; thiết lập cơ chế định giá điện thị trường nhằm bù đắp chi phí vận hành và bảo đảm lợi nhuận hợp lý cho nhà đầu tư; giảm dần các nghĩa vụ bảo lãnh rủi ro tài chính của Chính phủ.
    • Ngành cấp thoát nước: Cải cách quy chế định giá nước theo hướng bù đắp chi phí; áp dụng cơ chế trợ cấp có định hướng trực tiếp tới đối tượng nghèo (học tập mô hình Chile); thí điểm nhượng quyền phân phối nước đô thị thay vì chỉ dừng lại ở các dự án BOT nhà máy sản xuất nước thô.
    • Ngành viễn thông: Đẩy mạnh tái cơ cấu Tổng công ty Bưu chính Viễn thông; mở rộng các hình thức cấp phép và nhượng quyền kinh doanh mạng; chuyển đổi dần các hợp đồng BCC hiện hữu sang mô hình liên doanh hoặc công ty cổ phần; tạo lập môi trường cạnh tranh bình đẳng giữa doanh nghiệp nhà nước và tư nhân.
    • Ngành giao thông: Đẩy nhanh tiến độ cổ phần hóa các doanh nghiệp xây dựng, tư vấn, thiết kế thuộc Bộ Giao thông Vận tải; hoàn thiện khung pháp lý nhượng quyền khai thác hạ tầng cảng biển và các tuyến đường cao tốc thu phí.

Kết quả và đóng góp

  • Hệ thống hóa dữ liệu chuyên sâu về thực trạng KCHT Việt Nam giai đoạn 1991–2002: Cung cấp bức tranh toàn diện có số liệu định lượng chi tiết về mạng lưới giao thông (220.000 km đường bộ, 70 cảng biển, 16 sân bay), công suất nguồn điện (5.500 MW), hạ tầng cấp nước đô thị (2,6 triệu m³/ngày đêm) và mật độ viễn thông (10 máy/100 dân).
  • Tổng hợp bức tranh đầu tư tư nhân sơ khởi tại Việt Nam: Thống kê đầy đủ danh mục các dự án BOT nguồn điện (Hiệp Phước 375 MW, Wartsila 120 MW, Phú Mỹ 2-2), dự án BOT cấp nước Bình An (100.000 m³/ngày), hệ thống 8 hợp đồng BCC viễn thông (tổng vốn cam kết trên 1,2 tỷ USD) và các bến cảng tư nhân đầu tiên (Bà Rịa SERESE, VICT, Đình Vũ).
  • Đối chiếu thực nghiệm với 9 quốc gia: Phân tích các mô hình thất bại (Pakistan về rủi ro bảo lãnh mua điện) và thành công (Chile về trợ cấp nước và cạnh tranh viễn thông, Bờ Biển Ngà về hợp đồng cho thuê nước, Colombia về nhượng quyền cảng biển, Philippines về đấu thầu nhượng quyền MWSS) để rút ra bài học cho Việt Nam.
  • Đóng góp về mặt chính sách: Làm rõ căn nguyên sự thiếu hụt vốn hạ tầng (khoảng trống tài chính 7% GDP/năm) và chỉ ra các điểm nghẽn cốt lõi về thể chế: giải phóng mặt bằng, quản lý ngoại hối, xung đột giữa chức năng quản lý nhà nước và kinh doanh của các tổng công ty nhà nước, đề xuất lộ trình chuyển đổi từ chỉ định đàm phán sang đấu thầu cạnh tranh.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế: Chuyên đề được thực hiện vào năm 2004, các số liệu tổng điều tra giao thông và hạ tầng đô thị chủ yếu kết thúc ở mốc năm 2000–2002. Nhiều dự án BOT và hợp đồng hợp tác kinh doanh thời điểm đó vẫn đang trong quá trình đàm phán hoặc mới vận hành thử nghiệm, chưa có đủ chuỗi số liệu thời gian để đánh giá toàn diện hiệu quả tài chính và xã hội dài hạn. Khung khổ pháp lý về Đối tác công – tư (PPP) lúc này chưa hoàn thiện (mới dừng ở quy chế BOT đơn lẻ).
  • Hướng nghiên cứu tiếp: Đánh giá hiệu quả kinh tế – tài chính thực tế sau khi vận hành trọn vẹn vòng đời của các dự án BOT điện (Phú Mỹ, Wartsila) và BOT cấp nước (Bình An); nghiên cứu các công cụ tài chính phái sinh, quỹ phát triển hạ tầng và cơ chế bảo lãnh tín dụng hỗn hợp nhằm giảm thiểu rủi ro tỷ giá cho khu vực tư nhân khi đầu tư vào hạ tầng kỹ thuật Việt Nam.

Giá trị tham khảo

Tài liệu là nguồn tư liệu có giá trị học thuật và thực tiễn đối với:

  • Sinh viên, học viên cao học và nghiên cứu sinh chuyên ngành Kinh tế đầu tư, Quản trị kinh doanh, Quản lý công, Kinh tế phát triển và Quy hoạch đô thị.
  • Chuyên viên nghiên cứu và cán bộ hoạch định chính sách tại các cơ quan quản lý nhà nước (Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bộ Giao thông Vận tải, Bộ Công Thương, Bộ Xây dựng) trong việc xây dựng khung chính sách PPP và nhượng quyền khai thác hạ tầng.
  • Các nhà đầu tư hạ tầng, doanh nghiệp xây dựng và tổ chức tài chính quan tâm đến lịch sử hình thành các dự án BOT, BCC đầu tiên tại Việt Nam và cấu trúc chia sẻ rủi ro trong hợp đồng dự án công cộng.

Câu hỏi thường gặp

1. Khoảng trống tài chính cho đầu tư kết cấu hạ tầng của Việt Nam được xác định là bao nhiêu? Theo tính toán của tác giả, nhu cầu vốn đầu tư KCHT kỹ thuật của Việt Nam cần khoảng 3 tỷ USD mỗi năm (tương đương 12% GDP). Khả năng cấp vốn từ ngân sách nhà nước chỉ đạt tối đa 3% GDP và ODA giải ngân tối đa 2% GDP. Khoảng trống thiếu hụt là 7% GDP (khoảng 2,1 tỷ USD mỗi năm) bắt buộc phải huy động từ khu vực tư nhân.

2. Dự án BOT cấp nước đầu tiên có vốn đầu tư nước ngoài tại Việt Nam được triển khai như thế nào? Đó là Dự án BOT Cấp nước Bình An (BAWC) do một tập đoàn Malaysia sở hữu 100% vốn, ký hợp đồng BOT thời hạn 20 năm với Công ty Cấp nước TP.HCM vào tháng 8/1994 (vận hành tháng 4/1999). Dự án có công suất 100.000 m³/ngày đêm, cấp nước cho KCN Biên Hòa và 10% nhu cầu TP.HCM theo cơ chế bao tiêu tính bằng USD, toàn bộ rủi ro thị trường và tỷ giá do phía Việt Nam gánh chịu.

3. Bài học kinh nghiệm từ mô hình nhượng quyền cấp nước MWSS tại Manila (Philippines) là gì? Chính phủ Philippines chia vùng dịch vụ MWSS thành 2 khu vực (Đông và Tây) và tổ chức đấu thầu cạnh tranh quốc tế hợp đồng nhượng quyền 25 năm qua 2 giai đoạn (kỹ thuật và tài chính). Doanh nghiệp đưa ra mức giảm giá nước lớn nhất được trao thầu và không một công ty nào được nhận cả hai vùng. Kết quả giúp giá nước tiêu dùng giảm 74% ở miền Đông và 43% ở miền Tây, tỷ lệ dân số phục vụ tăng 5% sau năm đầu tiên.

4. Khu vực tư nhân và nước ngoài tham gia ngành viễn thông Việt Nam thời kỳ này chủ yếu qua hình thức nào? Chủ yếu thông qua Hợp đồng Hợp tác Kinh doanh (BCC) ký với Tổng công ty Bưu chính Viễn thông Việt Nam (VNPT). Hình thức này cho phép huy động vốn và thiết bị công nghệ tiên tiến từ các tập đoàn nước ngoài (như FRC, Telstra, Cable & Wireless, NTT, Comvik) nhưng phía nước ngoài không trực tiếp tham gia quản lý, điều hành mạng lưới viễn thông.

5. Những trở ngại pháp lý chính đối với nhà đầu tư BOT nước ngoài tại Việt Nam thời điểm 2004 là gì? Nhà đầu tư nước ngoài quan tâm và lo ngại nhất về 5 vấn đề pháp lý: cơ chế quản lý và chuyển đổi ngoại hối, cam kết bảo lãnh của Nhà nước đối với các hợp đồng bao tiêu/thanh toán, cơ chế bảo đảm cho các khoản vay tín dụng, quyền can thiệp/tiếp quản của bên cho vay khi dự án gặp sự cố, và quy trình giải quyết tranh chấp hợp đồng thông qua trọng tài quốc tế.

Kết luận

Chuyên đề tốt nghiệp của tác giả Phạm Trường Thịnh đã làm rõ tính tất yếu khách quan của việc thu hút khu vực tư nhân đầu tư vào kết cấu hạ tầng kỹ thuật nhằm bù đắp khoảng trống tài chính 7% GDP mỗi năm của Việt Nam. Thông qua việc phân tích thực trạng hệ thống giao thông, điện, nước, bưu chính viễn thông và đúc kết các bài học kinh nghiệm quốc tế, công trình đã nhận diện chính xác các nút thắt về giải phóng mặt bằng, cơ chế điều tiết độc lập và hạn chế của phương thức chỉ định thầu. Các giải pháp liên ngành và giải pháp chuyên biệt cho từng lĩnh vực được đề xuất mang tính hệ thống, đặt nền móng lý luận và thực tiễn có giá trị cho quá trình hoàn thiện thể chế đối tác công – tư tại Việt Nam.