CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU NGHIÊN CỨU 1.1 Lý do nghiên cứu Việt Nam trong thập kỷ qua đã ghi nhận những thành tựu kinh tế ấn tượng, với tốc độ tăng trưởng GDP liên tục ở mức cao, đạt 8,05% vào năm 2021. Nhờ sự đổi mới trong chính sách và quá trình hội nhập quốc tế, quốc gia này đang trên con đường trở thành nước có thu nhập cao vào năm 2045 – một mục tiêu đầy tham vọng nhưng có tính khả thi. Để đạt được cột mốc này, việc xây dựng chiến lược phát triển dài hạn với sự phân bổ hợp lý nguồn lực và lựa chọn chính sách phù hợp cho từng vùng kinh tế là cực kỳ quan trọng. Một yếu tố cốt lõi trong chiến lược này là khai thác triệt để tiềm năng của các vùng kinh tế trọng điểm, đóng vai trò dẫn dắt và lan tỏa sự phát triển đến các khu vực khác.
Nhận thấy được điều đó, Chính phủ Việt Nam đã hình thành các vùng kinh tế trọng điểm nhằm đáp ứng những đòi hỏi về đổi mới và hội nhập trong quá trình phát triển đất nước. Cuối năm 1997 và đầu năm 1998, Thủ tướng Chính phủ đã lần lượt phê duyệt các quyết định số 747/1997/QĐ-TTg, 1018/1997/QĐ-TTg và Quyết định số 44/1998/QĐ-TTg về Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội ba vùng kinh tế trọng điểm quốc gia đến năm 2010, bao gồm Vùng kinh tế trọng điểm Bắc bộ, Vùng kinh tế trọng điểm miền Trung và Vùng kinh tế trọng điểm phía Nam. Vùng kinh tế trọng điểm phía Nam, với vai trò là một trong những khu vực có tầm ảnh hưởng kinh tế mạnh mẽ nhất cả nước, đóng góp 45% vào GDP của Việt Nam năm 2022. Khu vực này là đầu tàu phát triển kinh tế, tập trung các ngành công nghiệp, thương mại và dịch vụ hàng đầu.
Vì thế, sự phát triển bền vững của Vùng KTTĐPN không chỉ là điều kiện tiên quyết cho sự tăng trưởng kinh tế quốc gia mà còn là yếu tố thúc đẩy quá trình chuyển đổi cơ cấu kinh tế và nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia trên trường quốc tế. Với tầm quan trọng chiến lược của Vùng Kinh tế Trọng điểm phía Nam (Vùng KTTĐPN), việc khai thác triệt để tiềm năng của khu vực này không chỉ là yếu tố quyết định để thúc đẩy tăng trưởng kinh tế của chính vùng, mà còn đóng vai trò dẫn dắt và lan tỏa sự phát triển đến các khu vực lân cận cũng như toàn bộ nền kinh tế quốc gia. Để đạt được mục tiêu này, cần phải xác định đúng các nhân tố ảnh hưởng đến tăng trưởng kinh tế của vùng. Chỉ khi hiểu rõ được những yếu tố này, Chính phủ mới có thể đưa ra các chính sách và biện pháp quản lý hiệu quả, góp phần khai thác tối đa tiềm năng, tạo động lực phát triển bền vững cho khu vực.
2 Những cơ sở lý thuyết về phát triển kinh tế đã được xây dựng từ rất lâu và tiếp tục được các nhà kinh tế học nghiên cứu và mở rộng. Một trong những học thuyết đầu tiên có sức ảnh hưởng lớn phải kể đến là tác phẩm kinh điển “Của cải của các quốc gia” của Adam Smith (1776). Smith đã nhấn mạnh tầm quan trọng của vốn, lao động, hạ tầng thông qua hàm sản xuất Y = f (L, K, R, T, U), với Y là sản lượng của nền kinh tế; L là sức lao động; K là tiền vốn hay tư bản; R là đất đai; T là tiến bộ kỹ thuật; U là môi trường Kinh tế – Xã hội. Tiếp nối những quan điểm của Smith, nhiều nhà kinh tế học đã đi sâu nghiên cứu vai trò của các yếu tố kinh tế vĩ mô trong quá trình phát triển kinh tế.
Đặc biệt, Keynes (1936) đã mở rộng thêm khung lý thuyết với sự đề cao vai trò của chính sách tài khóa và tiền tệ. Keynes nhấn mạnh rằng sự can thiệp của nhà nước thông qua chi tiêu và đầu tư công là cần thiết để điều chỉnh chu kỳ kinh tế và thúc đẩy tăng trưởng trong những thời điểm khó khăn. Điều này càng có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với các vùng kinh tế trọng điểm như Vùng KTTĐPN, nơi mà sự đầu tư và phát triển cơ sở hạ tầng, cùng với các biện pháp tài chính công hợp lý, có thể tạo ra những cú hích mạnh mẽ cho tăng trưởng khu vực. Về tác động của các nhân tố đến tăng trưởng kinh tế, mở rộng nghiên cứu vùng và khu vực khác, cho thấy vốn nhà nước và vốn tư nhân có tác động tích cực đến tăng trưởng kinh tế, trong khi FDI không có tác động đáng kể đến GDP.
Kết quả này phù hợp với các nghiên cứu trước đó như của Sử Đình Thành (2014) và Nguyễn Kim Phước (2017), khi cả hai đều ghi nhận FDI có ảnh hưởng không đáng kể, trong khi vốn nhà nước và tư nhân đóng vai trò tích cực. Những kết quả này cho thấy có sự không đồng nhất về tác động của vốn đầu tư ở các khu vực khác nhau. Mặt khác, lao động có tác động khác biệt đến GDP ở những quốc gia, khu vực khác nhau. Một vài nghiên cứu cho thấy tác động không đáng kể của lao động đến GDP.
Cụ thể, Ilter (2017) kết luận rằng lao động không ảnh hưởng đến GDP bình quân đầu người của 40 quốc gia trong năm 2014. Ervina & Jaya (2018) sử dụng dữ liệu từ Indonesia giai đoạn 2010-2016 và chỉ ra rằng tổng lực lượng lao động không có tác động đáng kể đến GRDP. Tương tự, Nguyễn Kim Phước (2017) cũng nhận định rằng lao động không có ảnh hưởng rõ rệt đến GDP tại các tỉnh thuộc Đồng bằng sông Cửu Long. Xem xét về tác động của yếu tố môi trường kinh tế xã hội, cho thấy tác động của thuế đến GDP là khác nhau, nhiều nghiên cứu đã chỉ ra nội dung này.
Chính sách thuế không khuyến khích đầu tư và triệt tiêu động lực làm việc của người lao động nên có tác động tiêu cực đến tăng trưởng kinh tế (Solow, 1956), tác động của chính sách thuế đến tăng trưởng 3 kinh tế là tiêu cực (Engen & Skiner, 1996). Thuế không tạo động lực để khuyến khích đầu tư và tăng chi phí sử dụng vốn, vì vậy tác động xấu đến tăng trưởng kinh tế (Ferede & Dahlby, 2012). Tuy nhiên, cũng có những nghiên cứu cho thấy tác động tích cực của thuế đối với tăng trưởng Canavire-Bacarreza và c., (2017), Trần Văn Thuận và c. Khi xem xét trong bối cảnh cụ thể của Việt Nam, đặc biệt là Vùng KTTĐPN, vẫn còn tồn tại nhiều khoảng trống nghiên cứu cần được lấp đầy.
Các tác động cụ thể của những yếu tố như phân chia lao động, chuyên môn hóa, cùng với chính sách tài khóa và tiền tệ, đặc biệt là vai trò của chi tiêu và đầu tư công, vẫn chưa được làm rõ hoàn toàn đối với khu vực này. Sự khác biệt về điều kiện kinh tế, xã hội và cơ cấu công nghiệp giữa các vùng trong nước đòi hỏi những nghiên cứu chuyên sâu và phân tích chi tiết để làm sáng tỏ những yếu tố ảnh hưởng trực tiếp và gián tiếp đến tăng trưởng của Vùng KTTĐPN. Chính những khoảng trống nghiên cứu này là cơ sở cho nhu cầu cấp thiết phải có thêm những công trình nghiên cứu mới nhằm làm rõ và giải quyết các vấn đề còn bỏ ngỏ. Mặc dù có nhiều nghiên cứu về các nhân tố ảnh hưởng đến tăng trưởng kinh tế trong nhiều bối cảnh quốc gia khác nhau, các yếu tố như vốn đầu tư, lao động, hạ tầng và môi trường kinh tế - xã hội đã được đề cập một cách tương đối đầy đủ.
Tuy nhiên, khi đặt trong bối cảnh cụ thể của Vùng KTTĐPN, sự tác động đồng thời của các yếu tố này và vai trò của chính sách công (bao gồm tài khóa, tiền tệ, chi tiêu và đầu tư công) vẫn chưa được phân tích kỹ lưỡng. Đặc biệt, các nghiên cứu trước đây chủ yếu tập trung vào các biến động vĩ mô mà chưa đi sâu vào việc phân tích vai trò của thuế, chuyển dịch cơ cấu kinh tế (CDCCKT), biến trễ, và lãi suất – những nhân tố có khả năng ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu suất kinh tế của khu vực. Bên cạnh các nhân tố chính như vốn đầu tư lao động, hạ tầng, thuế thì chính sách tiền tệ cũng cho thấy tác động đáng kể đến tăng trưởng kinh tế., (2024) xác nhận rằng lạm phát và lãi suất có tác động tiêu cực đến tăng trưởng kinh tế trong khu vực ASEAN. Điều này làm nổi bật những hiểu biết quan trọng về các tương tác phức tạp định hình động thái kinh tế ở Đông Nam Á., (2014) chỉ ra rằng các cú sốc chính sách tiền tệ có tác động khác nhau đến GDP khu vực ở Indonesia, tùy thuộc vào cơ cấu ngành và quy mô doanh nghiệp.
Cả kênh lãi suất và kênh tín dụng đều đóng vai trò quan trọng, đồng thời ảnh hưởng đến tăng trưởng kinh tế trên các khu vực khác nhau. Nhiều nghiên cứu khác như của Hồ Thủy Tiên và c. (2018) hay Buhasho và c. (2021) đã chứng minh tác động của chính sách tiền tệ và lãi suất đến tăng trưởng.
Nhận thấy, các nghiên cứu này cung cấp đầy đủ bằng chứng về tác động tích cực 4 hoặc tiêu cực của lãi suất đối với tăng trưởng kinh tế nhưng chủ yếu sử dụng hồi quy tuyến tính, chưa có nghiên cứu về tác động điều tiết của lãi suất đến vốn và tăng trưởng kinh tế, đây là một khoảng trống lớn cần được lấp đầy. Vì thế, luận án đưa vào nghiên cứu về mối quan hệ phức tạp khi lãi suất điều tiết mối quan hệ giữa vốn và tăng trưởng kinh tế. Ngoài ra, đã có rất nhiều nghiên cứu trước đây với kết quả tác động của CDCCKT đến GDP theo mối quan hệ nhân quả (Zulkhibri và c., 2015; Vũ Tuấn Anh, 1994; Mai Văn Tân, 2014). Điều may mắn là việc phân tích trên chủ yếu dựa trên phân tích hồi quy tuyến tính.
Riêng mối quan hệ điều tiết giữa CDCCKT, lao động và GDP vẫn chưa được nghiên cứu, tạo nên khoảng trống nghiên cứu cho bài viết này. Xuất phát từ phân tích đã nêu, nghiên cứu này đặt ra mục tiêu là phân tích các nhân tố chính như vốn đầu tư, lao động, và hạ tầng, cũng như các yếu tố bổ sung như thuế, chuyển dịch cơ cấu kinh tế, biến trễ, và lãi suất đối với tăng trưởng kinh tế của Vùng Kinh tế Trọng điểm phía Nam (Vùng KTTĐPN).