Chương 1. Tổng quan tài liệu nghiên cứu, cơ sở lý luận và thực tiễn về quản lý đầu tư xây dựng KCHT từ NSNN. Phương pháp nghiên cứu. Thực trạng quản lý đầu tư xây dựng KCHT từ NSNN ở một số xã trên địa bàn huyện Đông Anh, Hà Nội.
Một số giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao hiệu quả đầu tư xây dựng KCHT từ NSNN của huyện Đông Anh, Hà Nội. 4 z CHƢƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU, CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ QUẢN LÝ ĐẦU TƢ XÂY DỰNG KẾT CẤU HẠ TẦNG TỪ NGUỒN NGÂN SÁCH NHÀ NƢỚC 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu KCHT đóng vai trò đặc biệt quan trọng đối với sự phát triển kinh tế - xã hội của một quốc gia. Nghiên cứu về đề tài này, đã có một số đề tài, công trình nghiên cứu ở nhiều góc độ, khía cạnh khác nhau như: Tác giả Nguyễn Quang Vinh với đề tài: Phát triển KCHT ở Việt Nam (Tạp chí Kinh tế và Phát triển, số 217, tháng 7/2015, trang 2-10) đã phân tích và đánh giá những thành tựu và hạn chế trong phát triển KCHT ở Việt Nam trong thời gian qua.
Thể chế quy hoạch phát triển KCHT của Việt Nam đã có những nền móng ban đầu để định hướng cho phát triển KCHT nhưng còn thiếu cả về cơ sở pháp lý, cả về lực lượng triển khai và hệ thống thanh tra, kiểm tra, giám sát và chế tài. Từ đó tác giả đã đưa ra những giải pháp nhằm khắc phục những hạn chế trên nhằm nâng cao chất lượng phát triển KCHT ở Việt Nam, đặc biệt về thể chế lĩnh vực quy hoạch – một nhân tố rất quan trọng trong việc nâng cao hiệu quả quản lý đầu tư KCHT. Trong đề tài nghiên cứu cấp Đại học Quốc gia Hà Nội: «Đầu tư nhà nước ở Việt Nam » tác giả Vũ Đức Thanh đã đưa ra các khái niệm, bản chất về đầu tư nhà nước ở Việt Nam, các trở ngại trong việc đầu tư nhà nước trong giai đoạn 1995 - 2007. Từ đó tác giả đã đưa ra những khái niệm ban đầu, cơ bản nhất về đầu tư công như hiện nay.
Luận án phó tiến sĩ: Hoàn thiện cơ chế quản lý nhằm nâng cao hiệu quả đầu tư xây dựng cơ bản ở Việt Nam của tác giả Nguyễn Mạnh Đức đã đi sâu nghiên cứu cơ chế phân cấp, quản lý nhà nước về đầu tư XDCB phù hợp với chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm được Chính phủ quy định như: 5 z + UBND các cấp có chức năng nhiệm vụ quản lý hành chính – kinh tế của Nhà nước ở cấp mình về XDCB trên tất cả các mặt: vừa là chủ quản đầu tư và quản lý xây dựng, vừa tổ chức quản lý, khai thác sử dụng… + UBND quận, huyện có chức năng quản lý xây dựng theo quy hoạch và làm chủ đầu tư các công trình vốn ngân sách của huyện và vốn ủy thác. Giúp UBND các cấp quản lý XDCB là các cơ quan chức năng được tổ chức tương ứng ở từng cấp. Đồng thời tác giả Nguyễn Mạnh Đức cũng làm rõ quy trình thực hiện các nội dung để nâng cao chất lượng quản lý đầu tư XDCb the oba bước sau đây: + Bước 1: Nghiên cứu, đánh giá các căn cứ của chiến lược đầu tư XDCB. + Bước 2: Xây dựng đề án đầu tư XDCB.
+ Bước 3: Quyết định chiến lược đầu tư XDCB. Tuy nhiên, luận án được thực hiện tại thời điểm quá xa so với hiện tại và không nêu rõ giải pháp quản lý vốn ở cấp cơ sở (huyện, xã). Võ Văn Cần, 2014, Nghiên cứu cơ chế kiểm tra, giám sát vốn đầu tư XDCB thuộc nguồn vốn NSNN ở Việt Nam. Luận án Tiến sĩ kinh tế.
Trường Đại học Ngân hàng thành phố Hồ Chí Minh. Tác giả đã phân tích, đánh giá hiệu quả hệ thống kiểm tra, giám sát đầu tư XDCB từ nguồn NSNN ở Việt Nam là: Bộ máy kiểm tra, giám sát chuyên trách (Thanh tra Chính phủ, Kiểm toán Nhà nước, Thanh tra Bộ Tài chính …) chưa phân rõ chức năng nhiệm vụ gây chồng chéo lãng phí nguồn lực, khó quy trách nhiệm khi xảy ra tiêu cực, thất thoát, lãng phí. Tổ chức bộ máy kiểm tra, giám sát thiếu tính độc lập, thiếu trách nhiệm giải trình, thiếu chế tài đối với các đối tượng kiểm tra, giám sát. Từ đó tác giả cũng đưa ra những kiến nghị nhằm khắc phục những hạn chế nêu trên, góp phần nâng cao hiệu quả đầu tư XDCB nói chung.
Công trình của Đỗ Hoài Nam và Lê Cao Đoàn (Xây dựng hạ tầng cơ sở nông thôn trong quá trình CNH, HĐH ở Việt Nam, 2001) đã phân tích những 6 z vấn đề lý luận cơ bản về hạ tầng, phát triển hạ tầng ở nông thôn và đi sâu nghiên cứu thực trạng phát triển hạ tầng cơ sở ở tỉnh Thái Bình. Tuy nhiên, công trình nghiên cứu của tác giả nghiên cứu phạm vi một tỉnh nên chưa đi sâu vào thực trạng phát triển hạ tầng nông thôn cấp cơ sở. Theo nội dung luận án tiến sĩ: Phát triển hạ tầng kinh tế - xã hội ở nông thôn tỉnh Bắc Ninh, kinh nghiệm và giải pháp của Nguyễn Đức Tuyên năm 2011, tác giả đã làm rõ một số kinh nghiệm của một số nước trong phát triển hạ tầng kinh tế - xã hội ở nông thôn. Làm rõ chủ trương, chính sách của Nhà nước được thực thi trong phát triển hạ tầng kinh tế - xã hội ở nông thôn và rút ra một số bài học.
Tác giả đề xuất một số giải pháp nhằm tiếp tục thúc đẩy phát triển hạ tầng kinh tế - xã hội nông thôn ở tỉnh Bắc Ninh và một số kiến nghị nhằm tăng thêm tính khả thi của các giải pháp đó. Tác giả Nguyễn Thùy Dương với đề tài: Quản lý vốn đầu tư xây dựng cơ bản từ NSNN của UBND quận Hai Bà Trưng, thành phố Hà Nội (Luận văn Thạc sỹ Quản lý kinh tế, Trường Đại học Kinh tế - Đại học Quốc gia Hà Nội) đã nghiên cứu một cách hệ thống, tương đối đầy đủ và cập nhật về thực trạng, giải pháp chủ yếu nhằm hoàn thiện quản lý vốn đầu tư xây dựng cơ bản từ NSNN của quận Hai Bà Trưng, thành phố Hà Nội. Đây là một nghiên cứu sâu sắc về quản lý vốn trên địa bàn một quận của thành phố Hà Nội. Chỉ ra các vấn đề còn tồn tại trong hệ thống chính sách để làm cơ sở cho việc tổng kết đưa vào lý thuyết về quản lý kinh tế công.
Từ đó giúp cho việc hoàn thiện các chính sách quản lý đầu tư công một cách hiệu quả. Đó là những đóng góp nổi bật của tác giả Nguyễn Tiến Phước với đề tài luận văn thạc sĩ: Các giải pháp hoàn thiện quản lý đầu tư công trên địa bàn tỉnh Khánh Hòa. Tuy nhiên, các bài viết, công trình nghiên cứu gần đây là chưa nhiều và chưa hệ thống hóa công tác quản lý đầu tư xây dựng KCHT trên địa bàn cấp xã, đặc biệt giai đoạn 2010-2015 trên địa bàn huyện Đông Anh, thành phố Hà 7 z Nội thì chưa có tác giả nào nghiên cứu. Vì vậy tôi chọn đề tài "Quản lý đầu tư xây dựng KCHT ở một số xã trên địa bàn huyện Đông Anh" làm đề tài nghiên cứu luận văn thạc sĩ của mình.
Cơ sở lý luận về quản lý đầu tƣ xây dựng kết cấu hạ tầng 1. Khái niệm kết cấu hạ tầng Hiểu một cách khái quát, KCHT là một bộ phận đặc thù của cơ sở vật chất kỹ thuật trong nền kinh tế quốc dân có chức năng, nhiệm vụ cơ bản là đảm bảo những điều kiện chung cần thiết cho quá trình sản xuất và tái sản xuất mở rộng được diễn ra bình thường, liên tục. KCHT được định nghĩa là tổng thể các cơ sở vật chất, kỹ thuật, kiến trúc đóng vai trò nền tảng cho các hoạt động kinh tế xã hội được diễn ra một cách bình thường. Toàn bộ KCHT có thể được phân chia thành nhiều loại khác nhau dựa trên các tiêu chí khác nhau.
Cụ thể như: - Nếu căn cứ theo lĩnh vực kinh tế - xã hội thì KCHT được phân chia thành: KCHT phục vụ kinh tế, KCHT phục vụ hoạt động xã hội và KCHT phục vụ an ninh quốc phòng. Tuy nhiên, trên thực tế, ít có loại KCHT nào chỉ hoàn toàn phục vụ kinh tế mà không phục vụ hoạt động xã hội và ngược lại. - Nếu căn cứ theo sự phân ngành của nền kinh tế quốc dân, thì KCHT có thể được phân chia thành: KCHT trong công nghiệp, trong nông nghiệp, giao thông vận tải, bưu chính viễn thông, xây dựng, hoạt động tài chính, ngân hàng, y tế, giáo dục, văn hóa - xã hội… - Nếu căn cứ theo khu vực dân cư, vùng lãnh thổ thì KCHT có thể được phân chia thành: KCHT đô thị, KCHT nông thôn; KCHT kinh tế biển, đồng bằng, KCHT trung du, miền núi, vùng trọng điểm, các thành phố lớn… KCHT trong mỗi lĩnh vực, mỗi ngành, mỗi khu vực bao gồm những công trình đặc trưng cho hoạt động của lĩnh vực, ngành, khu vực và những công trình liên ngành đảm bảo cho hoạt động đồng bộ của toàn hệ thống. 8 z Trong nhiều nghiên cứu về KCHT, các tác giả thường phân chia KCHT thành hai loại cơ bản gồm: KCHT kinh tế và KCHT xã hội.
(1) KCHT kinh tế: thuộc loại này bao gồm các công trình hạ tầng kỹ thuật như: năng lượng (điện, than), phục vụ sản xuất và đời sống, các công trình giao thông vận tải (đường bộ, đường sắt, đường hàng không, đường sông), bưu chính – viễn thông, các công trình thủy lợi phục vụ sản xuất nông lâm ngư nghiệp… KCHT kinh tế là bộ phận quan trọng trong hệ thống kinh tế, đảm bảo cho nền kinh tế phát triển nhanh, ổn định, bền vững và là động lực thúc đẩy phát triển nhanh hơn, tạo điều kiện cải thiện đời sống dân cư. (2) KCHT xã hội: xếp vào loại này gồm nhà ở, các cơ sở khoa học, bệnh viện, các công trình văn hóa thể thao…và các trang thiết bị đồng bộ với chúng. Đây là điều kiện thiết yếu để phục vụ, nâng cao mức sống của cộng đồng dân cư, bồi dưỡng, phát triển nguồn nhân lực phù hợp với tiến trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Như vậy KCHT xã hội là tập hợp một số ngành có tính chất dịch vụ xã hội; sản phẩm do chúng tạo ra thể hiện dưới hình thức dịch vụ và thường mang tính chất công cộng, liên hệ với sự phát triển con người cả về thể chất và tinh thần.
Vai trò của kết cấu hạ tầng đối với sự phát triển Nghiên cứu về tác động của việc phát triển KCHT ở Việt Nam, tác giả Phạm Thị Túy, 2006.