CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Một số khái niệm có liên quan đến vấn đề nghiên cứu Biện pháp: là cách thức, là con đường để tác động đến đối tượng. Trong giáo dục người ta thường quan niệm biện pháp là yếu tố hợp thành của phương pháp, phụ thuộc vào phương pháp. Trong tình huống sư phạm cụ thể, phương pháp và biện pháp giáo dục có thể chuyển hoá lẫn nhau.
Trong đề tài sử dụng nhiều biện pháp hợp thành để thúc đẩy quá trình phát triển thể lực cho nam SV chuyên ngành bóng đá ngành GDTC Trường Đại học TDTT Bắc Ninh. Như vậy, nó có điểm tương đồng với phương án thực hiện hoạch định. Trình độ tập luyện: là trạng thái gắn liền với những biến đổi thích nghi của các đặc tính sinh học trong cơ thể VĐV, những biến đổi đó xác định mức độ khả năng của hệ thống chức năng cơ thể. Trình độ tập luyện được phân ra trình độ tập luyện chung và trình độ tập luyện chuyên môn.
Trình độ thể lực: là mức độ phát triển về sức mạnh, sức nhanh, sức bền, mềm dẻo và các tố chất thể lực khác của VĐV. Huấn luyện thể lực chung: là quá trình giáo dục toàn diện những năng lực thể chất của VĐV. Nội dung của huấn luyện thể lực chung rất đa dạng. Người ta sử dụng các bài tập khác nhau để nâng cao khả năng chức phận của cơ thể, phát triển toàn diện các năng lực thể chất và làm phong phú vốn kỹ năng, kỹ xảo của VĐV.
Huấn luyện thể lực chuyên môn: là một quá trình giáo dục nhằm phát triển và hoàn thiện những năng lực thể chất tương ứng với đặc điểm môn thể thao lựa chọn. Phương án thực hiện hoạch định: là một tập hợp các hành động phát triển nhằm thực hiện các mục tiêu phát triển. Chất lượng: là sự biến đổi. 7 Đây là siêu quan điểm về chất lượng bởi nó đã bao hàm các quan niệm về chất lượng khác như chất lượng là phù hợp với mục tiêu hay chất lượng là sự hoàn hảo bên trên (Harvey & Knight 1996; Horsburgh 1998).
Như thế, nó không triệt tiêu vai trò của quản lý mà xem quản lý là cần thiết để thúc đẩy chức năng học thuật. Quan niệm này đã tập trung vào giải quyết mấu chốt trong các chức năng của trường đại học: chức năng học thuật. Nếu xét về chức năng của trường đại học, một trường sẽ không phải là trường đại học nữa nếu không làm thay đổi cuộc sống của một SV, ít nhất là về mặt kiến thức vì trường đại học cần thay đổi nhân sinh quan và thế giới quan của người học, cung cấp cho họ những kỹ năng cần thiết để tồn tại và phát triển trong một thế giới đầy biến động (Barnett, 1992; Biggs 1989). Phương pháp: là các cách thức, đường lối có tính hệ thống được đưa ra nhằm giải quyết một vấn đề nào đó.
Thuật ngữ “phương pháp” bắt nguồn từ tiếng Hy Lạp “methodos” có nghĩa là con đường, công cụ nhận thức. Theo nghĩa thông thường, phương pháp là những cách thức, thủ đoạn được chủ thể sử dụng để thực hiện một mục đích nhất định. Theo nghĩa khoa học, phương pháp là hệ thống những nguyên tắc được rút ra từ tri thức về các quy luật khách quan để điều chỉnh hoạt động nhận thức và hoạt động thực tiễn nhằm thực hiện một mục đích nhất định. Tuy nhiên, quá trình tổng hợp tài liệu cũng cho thấy; chủ nghĩa duy tâm và chủ nghĩa duy vật đối lập với nhau trong quan niệm về nguồn gốc của phương pháp.
Chủ nghĩa duy tâm coi phương pháp là những quy tắc do lý trí con người tự ý đặt ra để tiện cho nhận thức và hành động. Do đó, đối với họ, phương pháp là một phạm trù thuần túy chủ quan. Trái lại, chủ nghĩa duy vật biện chứng coi phương pháp có tính khách quan, mặc dù phương pháp là của 8 con người, do con người tạo ra và được con người sử dụng như những công cụ để thực hiện mục đích nhất định. Phương pháp gắn liền với hoạt động có ý thức của con người, không có phương pháp tồn tại sẵn trong hiện thực và ở ngoài con người.
Nhưng như vậy không có nghĩa phương pháp là một cái gì tùy ý, tùy tiện. Phương pháp là kết quả của việc con người nhận thức hiện thực khách quan và từ đó rút ra những nguyên tắc, những yêu cầu để định hướng cho mình trong nhận thức và trong hành động thực tiễn tiếp theo. Những quy luật khách quan đã được nhận thức là cơ sở để con người định ra phương pháp đúng đắn. Sức mạnh của phương pháp là ở chỗ trong khi phản ánh đúng đắn những quy luật của thế giới khách quan, nó đem lại cho khoa học và thực tiễn một công cụ hiệu quả để nghiên cứu và cải tạo thế giới.
Có rất nhiều loại phương pháp khác nhau. Có thể phân chia phương pháp thành phương pháp nhận thức và phương pháp hoạt động thực tiễn, phương pháp riêng, phương pháp chung và phương pháp phổ biến. Các phương pháp trên đây khác nhau về nội dung, về mức độ phổ biến và phạm vi ứng dụng, vì vậy phương pháp có thể được phân loại như sau:. Phương pháp riêng chỉ áp dụng cho từng môn khoa học, như phương pháp vật lý, phương pháp xã hội học, phương pháp sinh học… Phương pháp chung được áp dụng cho nhiều ngành khoa học khác nhau, ví dụ như phương pháp quan sát, thí nghiệm, mô hình hóa, hệ thống cấu trúc… Phương pháp phổ biến là phương pháp của triết học Mác - Lênin, được áp dụng trong mọi lĩnh vực khoa học và hoạt động thực tiễn.
Có thể nói, phép biện chứng của chủ nghĩa duy vật là một phương pháp phổ biến nhất, bao quát nhất. Các phương pháp nhận thức khoa học tuy khác nhau song lại có quan hệ biện chứng với nhau. Trong hệ thống các phương pháp khoa học, mỗi phương pháp đều có vị trí nhất định, do đó không nên coi phương pháp là ngang bằng nhau hoặc thay thế nhau; không nên cường điệu phương pháp này và hạ thấp phương pháp kia, mà phải biết sử dụng các phương pháp. 9 Những phương pháp nhận thức khoa học tiêu biểu được thừa nhận, bao gồm: Các phương pháp thu nhận tri thức và kinh nghiệm: Quan sát; Thí nghiệm.
Các phương pháp xây dựng và phát triển lý thuyết khoa học: Phân tích và tổng hợp; Quy nạp và diễn dịch; Lịch sử và logic; Từ trừu tượng đến cụ thể. Các nhà triết học cổ điển Đức như I. Hegel lại càng coi trọng phương pháp. Hegel cho rằng, phương pháp phải gắn liền với đối tượng, phụ thuộc vào đối tượng; phương pháp là linh hồn của đối tượng.
Các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác - Lênin cũng rất coi trọng vai trò của phương pháp, nhất là trong hoạt động cách mạng. Vấn đề không chỉ là chân lý mà con đường đi đến chân lý là rất quan trọng; con đường đó, tức phương pháp, cũng phải có tính chân lý. Chính vì vậy, qua kinh nghiệm thực tiễn và lịch sử khoa học cho thấy, sau khi đã xác định được mục tiêu thì phương pháp trở thành nhân tố góp phần quyết định thành công hay thất bại của việc thực hiện mục tiêu, còn biện pháp có thể được sinh ra để khắc phục, sửa chữa những nảy sinh bất lợi của quá trình giải quyết mục tiêu, vấn đề này có nghĩa vô cùng quan trọng trong định hướng nghiên cứu của đề tài. Đặc điểm và nhiệm vụ đào tạo cử nhân ngành GDTC chuyên ngành bóng đá 1.
Đặc điểm đào tạo cử nhân ngành GDTC chuyên ngành bóng đá Chương trình đào tạo cử nhân ngành GDTC chuyên ngành bóng đá được thiết kế nhằm đảm bảo chuẩn đầu ra là những giáo viên thể dục trình độ đại học giảng dạy trong hệ thống giáo dục Quốc dân. Có những phẩm chất cơ bản của người thầy giáo Việt Nam. SV tốt nghiệp có những kiến thức khoa học cơ bản, nắm vững kiến thức chuyên môn, có kỹ năng thực hành thành thạo và năng lực giảng dạy các môn thể thao trong chương trình GDTC các cấp. Có khả năng huấn luyện môn thể thao chuyên ngành theo chương trình 10 GDTC các cấp.
Đặc biệt là trình độ thực hành phải đạt tiêu chuẩn tối thiểu của VĐV cấp 2 đối với môn bóng đá sau khi tốt nghiệp. Ngoài ra, SV phải có khả năng làm việc độc lập, có phương pháp làm việc khoa học, sáng tạo, có năng lực vận dụng lý thuyết trong công tác chuyên môn, cũng như có khả năng tự học và học tập suốt đời. Chương trình đào tạo cử nhân ngành GDTC chuyên ngành bóng đá được thực hiện trong 4 năm với tổng số 2525 giờ, tương ứng với 170 tín chỉ. Trong đó môn chuyên ngành bóng đá với tổng 240 giờ, gồm 168 giờ lên lớp và 72 giờ tự học, tổng số đơn vị học trình là 16 chia làm 4 học phần (theo Quyết định số 497/QĐ-ĐHBN-ĐT ngày 21/7/2008).
Ngoài nội dung môn học chuyên ngành, trong quá trình đào tạo SV bóng đá còn phải học các môn học thực hành không chuyên ngành khác, cụ thể là: Năm học thứ nhất - HK 1: điền kinh, thể dục (60 tiết), đá cầu (30 tiết); HK 2 - điền kinh thể dục (60 tiết), cờ vua (30 tiết); Năm học thứ hai - HK1: Bơi lội và bóng chuyền 60 tiết; HK 2: cầu lông 60 tiết; Năm học thứ ba - HK1 bóng đá (60 tiết); HK 2: bóng bàn (60 tiết), võ (45 tiết); Năm học thứ tư - HK1 bóng rổ/bóng ném (30 tiết), quần vợt (30 tiết). Từ những thống kê trên cho thấy, trong quá trình học tập, thể lực của các SV chuyên ngành bóng đá ngành GDTC cũng chịu sự tác động nhất định của các môn học thực hành không chuyên ngành khác. Tuy nhiên, những các môn học đó chỉ có thể tác động đến thể lực chung của SV, và đương nhiên, khi thể lực chung của SV được nâng lên có tác động nhất định đến kết quả học tập các môn thực hành nói chung và môn thể thao chuyên ngành bóng đá nói riêng. Điều này cho thấy, trong chương trình đào tạo SV chuyên ngành bóng đá ngành GDTC không cần bố trí thời lượng chuẩn bị thể lực chung lớn, song lại phải đặc biệt chú trọng đến việc phát triển thể lực chuyên môn.
11 Với đặc điểm của chương trình đào tạo SV chuyên ngành bóng đá ngành GDTC, môn thể thao chuyên ngành chỉ được bắt đầu tiến hành từ năm thứ hai - từ học kỳ 4 đến học kỳ 7, với 168 tiết trên lớp.