Chương I: ng vua vĩ đại N ng Tr Cao, vai tr của một người nổi dậy trong việc hình thành bản sắc khu vực dọc v ng biên giới Việt - Trung. Chương II: Sự kế thừa của chế độ cống nạp đế chế Trung Hoa ở ph a Nam, cân bằng sự hài hoà về lễ nghi với sự ổn định v ng biên giới. Chương III: Các v dụ về khu tự trị theo thoả thuận. Các mối quan hệ Việt - Trung trước thời kỳ XI.
Chương IV: Giành được t nh hợp pháp trong thời kỳ lao đao của đế chế. Các cộng đồng nói tiếng Tày bản địa dọc biên giới Việt - Trung. Chương V: Nỗi ám ảnh của thế lực ph a Nam. Cuộc nổi dậy của N ng Tr Cao, phản đối triều đình và kế thừa Nam Việt.
Chương VI: Lôi k o các bè phái bất trung. Vận động các liên minh v ng biên giới trong thời gian trước chiến tranh biên giới Việt - Trung 1075. Chương VII: Niềm tự hào to lớn: Những lễ kỷ niệm dọc biên giới Việt - Trung về N ng Tr Cao; Chương VIII: Kết luận 113; tr. Có thể nói, đây là một công trình nghiên cứu công phu, có giá trị tham khảo về mặt lịch sử, khơi dậy l ng tự hào về một nhân vật lịch sử, một t trưởng người dân tộc Nùng tại tỉnh Cao Bằng.
Nghiên cứu của các tác giả trong nước Nghi lễ là một bộ phận quan trọng của văn hóa tinh thần và đời sống tộc người, là môi trường sản sinh, tích hợp, bảo tồn và trao truyền nhiều giá trị văn hóa dân tộc. Con người ngay từ khi sinh ra, lớn lên, trưởng thành và chết đi đều có 9 những hoạt động nghi lễ trong gia đình và cộng đồng, được thực hiện từ đời này sang đời khác, tạo nên những thói quen và quy ước trong cộng đồng. Nghi lễ biểu hiện mọi khía cạnh của đời sống vật chất và tinh thần của con người, vì vậy nhiều nhà nghiên cứu đã lựa chọn nghiên cứu về nghi lễ chu kì đời người để làm sáng rõ văn hóa tộc người. Từ trước đến nay, các học giả Việt Nam đã công bố rất nhiều sông trình nghiên cứu về nghi lễ chu kì đời người (hay còn gọi là nghi lễ v ng đời) của nhiều dân tộc khác nhau, trong đó có dân tộc Nùng.
Ở phần tổng quan nghiên cứu của các tác giả trong nước, NCS tổng hợp theo ba nội dung lớn: nghiên cứu về người Nùng; nghiên cứu về người Nùng tỉnh Lạng Sơn; nghiên cứu về nghi lễ chu kỳ đời người của các dân tộc ở Việt Nam. Nghiên c u v người Nùng Trong quá trình tổng quan tài liệu đã công bố về người N ng, chúng tôi tạm chia thành các nhóm vấn đề nghiên cứu 03 nhóm. Các nhóm vấn đề này được các tác giả nghiên cứu ở nhiều địa phương khác nhau trên cả nước, nhằm tái hiện những n t văn hóa đặc trưng của người N ng. Các nhà nghiên cứu thường chọn một trong hai cách tiếp cận: cách tiếp cận thứ nhất là viết riêng về dân tộc N ng; cách tiếp cận thứ hai là viết chung về cả hai dân tộc Tày và N ng.
Theo tác giả Hoàng Nam thống kê, có 309 công trình nghiên cứu về cả hai dân tộc Tày - N ng, trong đó viết riêng về dân tộc Tày là 125 công trình, N ng là 36 công trình, viết gộp cả hai dân tộc Tày - N ng là 148 công trình. Nhìn từ góc độ tác giả các công trình nghiên cứu cho thấy, đa số các tác giả là người đi học sinh viên, học viên cao học, nghiên cứu sinh đều viết riêng về dân tộc N ng hoặc Tày; c n phần nhiều tác giả là người nghiên cứu hoặc tham gia công tác thực tế tại các địa phương lại thường viết gộp hai dân tộc Tày – N ng làm một [93; tr. h m 1: Nhóm công trình nghiên c u khái quát v người Nùng ở Việt Nam: Ở Việt Nam, có rất nhiều các học giả đã có những công trình nghiên cứu chuyên sâu về người N ng. Trong đó đáng chú ý là công trình Sơ lược giới thiệu các nhóm dân tộc Tày –Nùng- Thái ở Việt Nam 1968 của tác giả Lã Văn Lô và Đặng Nghiêm Vạn.
Ở cuốn sách này, hai tác giả đã cho người đọc hiểu rõ về dân tộc N ng thông qua các đặc điểm về kinh tế, văn hóa, xã hội, trong đó có các phong tục tập quán [24; tr. Qua công trình, 10 người đọc có thể thấy được sự tương đồng và khác biệt trong đời sống văn hóa của dân tộc Tày và Nùng. Năm 1978, Viện Dân tộc học đã cho xuất bản cuốn sách "Các dân tộc ít người ở Việt Nam - các tỉnh mi n núi phía Bắc". Cuốn sách này đã khái quát miêu tả các tộc người sinh sống ở miền núi phía Bắc dưới nhiều góc độ: kinh tế, chính trị, văn hóa, ngôn ngữ, trong đó đời sống văn hóa và các nghi lễ của người Nùng được miêu tả song cơ bản đó là những tư liệu truyền thống có trước những năm 1970.
Do giới hạn về nội dung nên tộc người Nùng và vấn đề nghi lễ mới chỉ được đề cập rất ít [24; tr. Năm 1984, nhóm tác giả Hà Văn Thư và Lã Văn Lô đã cho xuất bản cuốn sách với tiêu đề: "Văn h a ày- Nùng". Trong nội dung của cuốn sách, các giá trị văn hóa của người Tày, người N ng đã được các tác giả mô tả khá đầy đủ trên nhiều phương diện, trong đó có nghi lễ gia đình. Năm 1992, tác giả Hoàng Nam - là người rất am hiểu về văn hóa của người N ng đã cho xuất bản cuốn sách "Dân tộc Nùng ở Việt Nam".
Có thể nói, đây là cuốn sách đầu tiên đề cập riêng về văn hóa của người Nùng, có giá trị văn hóa và thực tiễn giúp chúng ta có hiểu biết đầy đủ hơn về tộc người này. Nội dung cuốn sách được tác giả nêu những nét tổng quan về dân tộc Nùng; các hoạt động kinh tế (trồng trọt, chăn nuôi, các ngành nghề thủ công, chợ phiên… ; đời sống vật chất (bản, nhà ở, quần áo, trang sức, thức ăn, nhạc cụ, phương tiện vận tải); sinh hoạt tinh thần (tiếng nói, t n ngưỡng, các lễ hội, văn học dân gian, tri thức dân gian, tr chơi dân gian ; Tập quán xã hội (tổ chức xã hội cổ truyền, tổ chức gia đình, tục lệ cưới xin, sinh đẻ nuôi dạy trẻ, lễ sinh nhật, ma chay). Chính vì vậy khi đánh giá về công trình này, đã có người cho rằng nó đã "phác họa một bức tranh toàn cảnh về kinh tế - xã hội của một dân tộc, là sự ghi nhận một trình độ văn hóa, một truyền thống kinh tế; là cơ sở để gợi mở một n t suy nghĩ về khả năng tiếp tục phát huy truyền thống đó trong xây dựng một phong cách làm ăn cho tương lai mang t nh kế thừa bản sắc dân tộc". Tuy nhiên, công trình mới chủ yếu nêu một cách khái quát về văn hóa của người Nùng ở Việt Nam nói chung mà chưa có nghiên cứu chuyên sâu theo từng vùng, trong truyền thống và biến đổi.
Đây là tài liệu khoa học rất có giá trị, nó gợi mở nhiều ý tưởng nghiên cứu mới và chuyên sâu cho người đọc [24; tr. Năm 2004, tác giả Hoàng Nam tiếp tục "ra mắt" bạn đọc cuốn sách "Văn h a các d n tộc vùng Đông Bắc Việt Nam". Cuốn 11 sách này đã đề cập đến văn hóa của các tộc người chủ thể ở khu vực đông bắc như: Tày, N ng, Dao,…trên nhiều lĩnh vực như: đặc điểm tự nhiên, kinh tế, nhà ở, gia đình, tôn giáo, t n ngưỡng, phong tục tập quán, nghi lễ của người Nùng. Song đây là giáo trình phục vụ giảng dạy đại học tại Đại học Văn hóa Hà Nội nên các nội dung viết về người Nùng chỉ mang tính khái quát, giới thiệu [24;tr.
Năm 1992, các tác giả Bế Viết Đẳng, Khổng Diễn, Đặng Nghiêm Vạn, Nguyễn Văn Huy, Phạm Quang Hoan đã xuất bản cuốn sách "Các dân tộc Tày Nùng ở Việt Nam". Cuốn sách được trình bày bằng phương pháp miêu tả về các lĩnh vực truyền thống trên nhiều phương diện, gồm những vấn đề chung của người Tày - Nùng, của từng dân tộc Tày hay Nùng, những biểu hiện cụ thể, sinh động ở các địa phương và các nhóm. Trong đó, ở chương 5 của cuốn sách, từ trang 173 - 226, hai tác giả Phạm Quang Hoan và Nguyễn Ngọc Thanh đã có những nghiên cứu về gia đình và hôn nhân của người Tày, Nùng với nhiều thông tin có ý nghĩa khoa học về nghi lễ chu kì đời người như: gia đình và quan hệ gia đình, lễ nghi đám cưới, tục lệ trong sinh đẻ, nghi lễ đám tang,… ở nhiều địa bàn khác nhau, giúp người đọc hiểu và so sánh được những n t tương đồng và khác biệt trong nghi lễ của hai tộc người Tày, Nùng ở nhiều vùng khác nhau. Năm 2010, Nhà xuất bản Thông tấn đã xuất bản cuốn " gười Nùng ở Việt Nam", tập hợp nhiều bức ảnh quý về người Nùng ở nhiều địa phương trong cả nước.
Sách gồm 163 trang giới thiệu bức tranh toàn cảnh nhiều màu sắc về đời sống của đồng bào dân tộc Nùng từ nguồn gốc dân tộc đến điều kiện sinh sống, nhà ở, trang phục, lễ hội. Năm 2014, cuốn sách "Các dân tộc ít người ở Việt Nam (các tỉnh phía Bắc)" đã được Viện Dân tộc học tái bản. Các phần viết về dân tộc Nùng (trang 279-303), giới thiệu khái quát về lịch sử tộc người dân tộc Nùng, tìm hiểu toàn diện về văn hóa vật chất và văn hóa tinh thần, kinh tế, xã hội, tôn giáo, t n ngưỡng, hôn nhân, gia đình,… của dân tộc Nùng, trong đó các nội dung đã có cập nhật thực trạng biến đổi hiện nay. Nhóm 2: Nhóm các công trình nghiên c u v văn h a v t ch t của người ng như: trang phục, nhà cửa, ăn u ng, ngh truy n th ng, phương tiện đi lại, kinh t nông nghiệp, kĩ thu t canh tác, kinh nghiệm dân gian.
Năm 2011, tác giả Nguyễn Thị Thúy xuất bản cuốn sách "Ngh thủ công truy n th ng của người Nùng ở Việt Nam". Cuốn sách gồm 3 chương, giới thiệu về những 12 đặc điểm tự nhiên và xã hội của người Nùng ở Việt Nam, nghề thủ công truyền thống của người Nùng và việc bảo tồn và phát huy chúng trong cuộc sống hiện đại. Tác giả có sự liên hệ, lồng ghép trong việc nghiên cứu nghi lễ của người Nùng với nhiều khía cạnh trong văn hóa vật chất, văn hóa tinh thần.