Mở đầu quá trình nghiên cứu, tác giả từng bước thực hiện việc tìm kiếm, tổng hợp và phân tích, đánh giá một cách tổng quan và có hệ thống đối với các công trình nghiên cứu trước, được cho là nền tảng trong nghiên cứu đối với đề tài của tác giả đặt ra. Nhằm giúp tác giả hệ thống hóa được các vấn đề nghiên cứu trong và ngoài nước liên quan đến đề tài. Tổng quan các nghiên cứu về nhân tố tác động đến năng lực cạnh tranh nói chung và của công ty cho thuê tài chính Quá trình nghiên cứu, tác giả đã tổng hợp nhiều công trình nghiên cứu về NLCT ở các nước cũng như tại Việt Nam. Cho thấy các nhà khoa học đã quan tâm và nghiên cứu đưa ra những quan điểm, những khái niệm, những mô hình cụ thể về NLCT.
Trong đó có các nghiên cứu với quan điểm theo các trường phái, theo các cấp và những nghiên cứu cụ thể đối với từng ngành, từng lĩnh vực về các nhân tố tác động đến NLCT của các công ty nói chung và công ty CTTC nói riêng. Những nghiên cứu về nhân tố tác động đến năng lực cạnh tranh Các quan điểm về NLCT theo Cổ điển; Tân cổ điển và Hiện đại, đã cho thấy những sự khác biệt về NLCT qua từng giai đoạn và quan điểm của các trường phái nghiên cứu, cụ thể: - Theo trường phái cổ điển Khái niệm theo thuyết bàn tay vô hình của Adam Smith (Scotland) thì mỗi bên tham gia vào thương mại tự do trên trường quốc tế, có thể có được lợi ích bằng cách chuyên sản xuất hàng hoá mà họ có một lợi thế tuyệt đối. Vì vậy, hãy để mọi quốc gia xuất khẩu những mặt hàng mà họ sản xuất ra với chi phí thấp nhất và nhập khẩu những hàng hoá mà họ sản xuất với chi phí cao nhất. Với David Ricardo (England): Một quốc gia có thể hưởng lợi từ việc 10 thương mại với các nước, ngay cả khi họ không có lợi thế tuyệt đối so với các đối tác thương mại.
Họ chỉ cần có lợi thế tương đối trong các sản phẩm bán ra ở các nước khác. Theo lý thuyết thương mại của Eli Heckscher - Bertil Ohlin (Sweden) thì, một quốc gia sẽ chuyên sản xuất và xuất khẩu những mặt hàng nào đó, đòi hỏi phải sử dụng các yếu tố sản xuất là thuận lợi và phong phú ở các địa phương của quốc gia đó, như lợi thế về vốn hay về lao động. Như vậy theo trường phái cổ điển, các nhà nghiên cứu cho rằng: Các quốc gia, các DN, các nhà kinh doanh nên xác định lợi thế của mình, như lợi thế về vốn, lợi thế về nhân công, lợi thế về chi phí, đôi khi chỉ là lợi thế có tính tương đối để thực hiện việc sản xuất hoặc thương mại, thì sẽ mang lại hiệu quả và những lợi ích to lớn hơn. - Theo trường phái tân cổ điển Với lý thuyết cạnh tranh hiệu quả của John M.
Clark (USA), lợi thế cạnh tranh là do những đổi mới của công ty. Những sáng kiến, đổi mới đó sẽ thúc đẩy các DN cạnh tranh. Theo lý thuyết về hành vi tiếp thị của Wroe Alderson (USA), có sáu nguồn tiềm năng lợi thế cạnh tranh của một sản phẩm, như: phân khúc thị trường, cách truyền thông (quảng cáo), tiếp cận khách hàng (lựa chọn kênh phân phối), phát triển sản phẩm, cải tiến quy trình và cải tiến sản phẩm. Với học giả trường phái Áo - Ludwig von Mises (Austria) cho rằng: Cạnh tranh thị trường là một quá trình năng động tự động và không phải là một cấu trúc thị trường cụ thể.
Xu hướng về cân bằng thị trường là kết quả của hoạt động kinh doanh. Một DN thắng hoặc thua trong cuộc cạnh tranh, tùy thuộc vào sức mạnh từ khả năng của DN và mức độ cung cấp của DN đó phù hợp với nhu cầu của thị trường. Theo kinh tế học tiến hóa của Joseph A. Schumpeter (Austria): Sự sống còn lâu dài của các tập đoàn trên thị trường, là sự điều chỉnh liên tục của họ đối với môi trường thay đổi, chủ yếu là do sự tìm kiếm và sự tái kết hợp sáng tạo ra cái mới của các nguồn 11 lực đã giành được.
Khả năng đổi mới của công ty, là chìa khóa để đạt được lợi thế cạnh tranh so với các đối thủ. Khả năng tạo ra các giải pháp mới và khuynh hướng chấp nhận rủi ro, liên quan đến việc thử nghiệm các giải pháp đó trên thị trường, nhấn mạnh quá trình cạnh tranh và tinh thần kinh doanh. Sự khác nhau giữa mức độ năng lực sáng tạo và kết quả kinh doanh, dẫn đến sự khác biệt về vị thế cạnh tranh của bất kỳ một đơn vị kinh tế nào. Theo luồng kinh tế thể chế của Friedrich List Max Weber James Buchanan (USA) thì cho rằng: Ngoài các yếu tố kinh tế, khả năng cạnh tranh của một DN bị ảnh hưởng bởi các định chế xã hội.
Với các nhà nghiên cứu thuộc trường phái Tân cổ điển, đã có những đánh giá chi tiết và xác thực hơn đối với năng lực của các tổ chức kinh doanh. Họ đã đưa ra công việc cụ thể để đo lường mức độ thành công thông qua các công việc đó, như: về nội lực của một đơn vị kinh doanh là phải biết phân khúc thị trường, quảng cáo, phân phối,.Đồng thời tổ chức đó phải có tính sáng tạo, linh động theo các định chế xã hội, như: cơ quan nhà nước, công đoàn, tổ chức tài chính,.Các nhà nghiên cứu còn khuyến cáo các tổ chức kinh doanh phải biết đương đầu các rủi ro, chấp nhận các rủi ro để thử nghiệm các giải pháp, nhằm cải tiến các cách thức trong kinh doanh. - Theo trường phái hiện đại Khái niệm về khả năng cạnh tranh của Paul R. Krugman (USA): Việc tăng trưởng năng suất là động lực chính cho khả năng cạnh tranh.
Khả năng cạnh tranh quốc tế của các nước có liên quan đến mức sống cao của người dân các nước đó. Theo lý thuyết về khả năng cạnh tranh của Michael E. Porter (USA) thì, khả năng cạnh tranh phụ thuộc vào năng suất dài hạn, điều này đòi hỏi môi trường kinh doanh hỗ trợ sự đổi mới liên tục trong sản phẩm, quy trình và quản lý. Bốn điều kiện nhấn mạnh làm tăng sức cạnh tranh toàn cầu của các công ty trong nước bao gồm: các yếu tố đầu vào, điều kiện nhu cầu, 12 các ngành liên quan và hỗ trợ (các cụm), chiến lược, cấu trúc và sự cạnh tranh của tổ chức.
Các quan điểm theo trường phái hiện đại, cũng đã chỉ ra các yếu tố tương đối rõ ràng hơn trong kết quả hoạt động kinh doanh, xác định NLCT thông qua việc đo lường tăng trưởng năng suất lao động, đo lường mức sống người dân của quốc gia. Các nhà nghiên cứu cũng cho rằng năng suất phải dài hạn, mới chứng tỏ được NLCT. Vì thế cần có chiến lược cho kinh doanh, phải cải tiến và đổi mới liên tục. Ngoài các nhóm nghiên cứu theo quan điểm các trường phái, thì các nghiên cứu về NLCT với quan điểm theo từng cấp, như: Quốc gia, công ty cũng đã cho thấy những đặc thù và có phần rõ nét hơn về các nhân tố tác động đến NLCT của một quốc gia, một công ty.
- Theo cấp quốc gia Với Bobba và cộng sự (1971): NLCT là khả năng của các quốc gia, vùng và các công ty, để tạo ra sự giàu có là điều kiện tiền lương cao. Khi người lao động có được tiền lương cao thì chứng tỏ NLCT của quốc gia, của các công ty đó là mạnh mẽ, tốt đẹp. Theo Scott, Lodge (1985): Khả năng cạnh tranh của quốc gia là quốc gia đó tạo ra, sản xuất, phân phối và/hoặc cung cấp các sản phẩm trong thương mại quốc tế, từ tài nguyên của quốc gia mình. Với Tyson D'Andrea (1992), thì khả năng cạnh tranh là khả năng sản xuất hàng hoá và dịch vụ đáp ứng được sự cạnh tranh quốc tế, trong khi công dân của quốc gia được hưởng một tiêu chuẩn sống ngày càng tăng và bền vững.
Krugman (1990, 1994), quan niệm: Với bất kỳ nghĩa nào, NLCT chỉ đơn giản là một cách khác để thể hiện năng suất. Khả năng của một quốc gia là có thể cải thiện được mức sống của người dân, phụ thuộc hoàn toàn vào khả năng nâng cao năng suất. Porter (1990) đưa ra khái niệm, duy nhất có ý nghĩa 13 về khả năng cạnh tranh ở cấp quốc gia là năng suất quốc gia. Ở diễn đàn Kinh tế Thế giới - WEF (1996), NLCT được cho là khả năng của một quốc gia để đạt được tỷ lệ tăng trưởng cao về GDP trên đầu người.
Theo Barker, Köhler (1998), NLCT của quốc gia là mức độ theo các điều kiện thị trường tự do và công bằng, sản xuất hàng hóa hoặc dịch vụ phải đáp ứng được các yêu cầu của thị trường quốc tế. Đồng thời duy trì và mở rộng vấn đề thu nhập thực tế của người dân thuộc quốc gia đó, trong dài hạn. Porter et al. (2000) cho rằng: khả năng cạnh tranh của quốc gia, tương ứng với các cấu trúc kinh tế và thể chế của quốc gia cho sự tăng trưởng kinh tế trong cấu trúc của nền kinh tế toàn cầu.
(2000), có NLCT thực sự và NLCT danh nghĩa. Với NLCT thực sự đòi hỏi sự công bằng và cởi mở của thị trường, chất lượng và sự đổi mới của sản phẩm, dịch vụ tại nước xuất xứ và sự tăng trưởng liên tục về mức sống của người dân. Do đó, mức độ cạnh tranh thực tế là khả năng các ngành công nghiệp của quốc gia có thị trường hàng hóa và dịch vụ tự do và công bằng, đáp ứng yêu cầu của cả thị trường trong và ngoài nước, đồng thời tăng trưởng thu nhập thực tế. NLCT danh nghĩa có thể đạt được bằng một chính sách cụ thể của chính phủ, tạo ra môi trường kinh tế vĩ mô cho các nhà sản xuất trong nước, thông qua sự trợ cấp trực tiếp của nhà nước và sự hạn chế mức lương.
Điều này cho thấy khả năng cạnh tranh thực sự chỉ có thể, nếu các công ty của quốc gia đó thực hiện được việc thiết kế, sản xuất hàng hóa một cách hiệu quả và bán sản phẩm đó với giá cả và chất lượng đáp ứng được nhu cầu của khách hàng bên trong lẫn bên ngoài quốc gia, mà không cần sự trợ cấp trực tiếp việc kiểm soát tiền lương và thất nghiệp. Hartman (2000) - Ukrainian economic Encyclopedia, thì khả năng cạnh tranh về kinh tế của một quốc gia, là việc sử dụng hiệu quả tài nguyên của quốc gia để làm tăng năng suất của nền kinh tế và trên cơ sở đó 14 làm tăng mức sống của người dân trong quốc gia đó.